Số 11 (2021)
Bài viết
-
PHÂN TÍCH CHẤT LƯỢNG CỦA GIỐNG LÚA MÙA AG3 TẠI AN GIANG
Abstract : 10 PDF: 12Giống lúa mùa địa phương AG3 đã được trồng tại huyện Tri Tôn và Tịnh Biên, tỉnh An Giang trong năm 2019-2020. Phân tích các tính trạng cho thấy sự khác biệt đáng kể giữa các kiểu gen so với tất cả các dòng được nghiên cứu. Gạo AG3 được xem thuộc nhóm lúa mùa độc đáo vì hương thơm và chất lượng vượt trội. Để xác nhận sự hiện diện hoặc không có hương thơm trong AG3, một tập hợp 8 dòng được đánh giá kiểu hình bằng cách sử dụng tách sắc ký khí để định lượng 2AP với hai giống lúa mùa đối chứng là Nàng Nhen và KDM 105. Đã phân tích mùi thơm bằng KOH và sử dụng phương pháp PCR với hai chỉ thị RM223 và FMU1-2. Kết quả chọn ra 1 dòng có mùi thơm tốt nhất là dòng số 100 kế đó là dòng 80 và dòng 91. Khi phân tích phẩm chất thông qua đánh giá dạng hình thì chiều dài và chiều rộng của hạt gạo AG3 có tính đồng nhất cao và tỉ lệ bạc bụng cũng được ghi nhận. Dòng đạt tỉ lệ không bạc bụng 100% là các dòng số 100, 32, 14 và dòng 80. Phân tích phẩm chất cơm ghi nhận hàm lượng amylose thấp ở hầu hết trên các dòng AG3. Điều này chứng tỏ các dòng ngon cơm. Dòng 100 cho tỉ lệ xay xát cao trên 50%. Hàm lượng protein của các dòng dao động từ 7,2 đến 8,7%. Dòng số 100 và số 8 có hàm lượng protein cao nhất (8,7% và 8,6%) theo thứ tự , tiếp theo là dòng số 32 (8,5%). Dòng số 100 cho năng suất cao nhất (4,83 tấn/ha), kế đến là dòng 7 (4,75tấn/ha). Dòng 100 có thể đưa vào sử dụng trong chương trình chọn giống trong thời gian tới.
-
KẾT QUẢ CHỌN TẠO DÒNG LÚA TRIỂN VỌNG DCG93 CÓ NĂNG SUẤT CAO, PHÔI TO VÀ VỎ LỤA DÀY PHỤC VỤ CHẾ BIẾN DẦU CÁM GẠO Ở VIỆT NAM
Abstract : 7 PDF: 7Cám gạo, sản phẩm phụ trong quá trình xay xát thóc gạo bao gồm lớp vỏ lụa (biểu bì và lớp aleurone) và phôi, chứa khoảng 17-20% dầu với nhiều hợp chất có lợi đối với sức khỏe con người nên ngày càng được ưa chuộng trên thế giới. Nghiên cứu này tiến hành chọn lọc phả hệ từ phép lai trở lại giữa dòng lúa đột biến có phôi to MGE13 (phát triển từ giống lúa năng suất cao Mizuhochikara) với dòng lúa có vỏ lụa dày LO1050. Quá trình chọn lọc kiểu hình và kết hợp với sử dụng chỉ thị phân tử đã chọn lọc được 12 dòng ở thế hệ BC3F4 có thời gian sinh trưởng và kiểu hình tương tự như giống gốc Mizuhochikara đồng thời mang cả hai gene ge (quy định tính trạng phôi to) và QTL qAT7 (quy định tính trạng vỏ lụa dày). Khảo sát sơ bộ đã chọn được 3 dòng triển vọng (Ja25, Ja35 và Ja36) có năng suất cao, các chỉ tiêu liên quan đến hàm lượng cám như tỷ lệ cám/gạo lật, tỷ lệ diện tích phôi/diện tích hạt, vỏ lụa dày và hàm lượng dầu cao, vượt các giống đối chứng Mizuhochikara và J02 (giống lúa japonica trồng phổ biến ở miền Bắc Việt Nam). Đánh giá khả năng thích ứng với các vùng sinh thái trong cả vụ xuân và mùa ở cả 3 địa điểm Lào Cai, Hà Nội và Nam Định đã chọn được dòng Ja35 (DCG93) là dòng triển vọng nhất phục vụ sản xuất dầu cám gạo tại miền Bắc Việt Nam với thời gian sinh trưởng từ 135-140 ngày trong vụ xuân, 120-125 ngày trong vụ mùa, ít nhiễm sâu bệnh hại, năng suất đạt 67,6-70,5 tạ/ha trong vụ xuân, 55,7-58,5 tạ/ha trong vụ mùa, diện tích phôi đạt 2,02-2,04 mm2, tỷ lệ diện tích phôi/diện tích hạt đạt 12,2-13,1%, độ dày vỏ lụa đạt 24,2-24,7 µm và hàm lượng lipid trong cám đạt 24,1-24,7%.
-
NGHIÊN CỨU ĐÁNH GIÁ CÁC DÒNG LÚA ĐƯỢC TẠO RA TỪ TỔ HỢP LAI GIỮA GIỐNG BẮC THƠM SỐ 7 VÀ GIỐNG LÚA FL478 MANG GEN CHỊU MẶN Saltol
Abstract : 12 PDF: 11Bài báo này trình bày kết quả đánh giá các đặc điểm sinh trưởng, phát triển và năng suất của 19 dòng cá thể BC2F5 tích hợp locus gen Saltol trên giống nền Bắc Thơm số 7 (BT7) tại 3 vùng chịu ảnh hưởng của xâm nhập mặn tại tỉnh Thanh Hóa. Kết quả cho thấy phần lớn các dòng lúa nghiên cứu thể hiện đặc điểm chiều cao cây và thời gian sinh trưởng tương tự như BT7 trong điều kiện canh tác tại Thanh Hóa. Trong đó, dòng HL15 được ghi nhận thấp cây hơn và có thời gian sinh trưởng ngắn hơn BT7. Phân tích các yếu tố cấu thành năng suất cho thấy các dòng BC2F5 tương đương BT7. Dòng HL15 có năng suất thực thu được ghi nhận cao nhất trong nghiên cứu này, đạt 5,5 - 5,8 tấn/ha (trong điều kiện vụ xuân) và 5,3 - 5,5 tấn/ha (trong điều kiện vụ mùa). Dòng HL15 cũng thể hiện khả năng kháng sâu bệnh hại khá, vượt trội hơn so với BT7, đặc biệt là ít nhiễm bạc lá.
-
NGHIÊN CỨU ĐA DẠNG DI TRUYỀN TẬP ĐOÀN CÂY CA CAO (Theobroma cacao L.) VIỆT NAM DỰA TRÊN MỘT SỐ ĐẶC TÍNH HÌNH THÁI VÀ ĐOẠN TRÌNH TỰ ADN-ITS GEN NHÂN
Abstract : 6 PDF: 7Nghiên cứu khảo sát bộ sưu tập sáu mươi ba (63) giống ca cao Việt Nam (Theobroma cacao L.) đang trồng tại các địa phương khác nhau Đắk Lắk, Đồng Nai, Bến Tre và Cần Thơ. Đa dạng di truyền bộ sưu tập được khảo sát bằng ghi nhận các đặc tính hình thái thực vật và lập giản đồ phả hệ bằng cặp mồi ITS1-4. Khảo sát đặc tính hình thái thực vật dựa vào các đặc tính hình thái và màu sắc của cơ quan sinh dưỡng (lá) và cơ quan sinh sản (hoa, trái). Kết quả ghi nhận được 5 hình dạng lá đài khác nhau của bộ sưu tập (oval, broad, deltoid, elliptic và sub-lanceolate); 63 giống ca cao Việt Nam biểu hiện 3 dạng trái khác nhau Angoleta, Amelonado và Cundeamor, màu trái và lá non biểu hiện 02 màu nâu đỏ và vàng xanh; trái chín thể hiện hai màu khác nhau, đỏ và xanh. Giống TD11 có cấu trúc 3 cặp bầu noãn khác biệt so với 02 cặp của 62 giống còn lại. Phân tích di truyền ghi nhận sự khác biệt trong vùng ITS giữa các giống không lớn, phân chia thành 3 nhóm bao gồm nhóm Domestic Trinitario Cultivars (38 giống), Indigenous Cultivars (20 giống), Peru Cultivars (5 giống). Đây là nghiên cứu đầu tiên công bố về đặc tính hình thái thực vật và cây di truyền phả hệ của bộ sưu tập cây ca cao Việt Nam.
-
NGHIÊN CỨU ĐẶC ĐIỂM CHẤT LƯỢNG HẠT VÀ NHÂN CỦA CÁC DÒNG VÔ TÍNH MẮC CA TẠI HUYỆN KRÔNG NĂNG, ĐẮK LẮK
Abstract : 11 PDF: 11Mục tiêu của nghiên cứu nhằm đánh giá được khối lượng và kích thước hạt và nhân của các dòng Mắc ca (Macadamia integrifolia) để chọn giống có năng suất cao, chất lượng hạt và nhân tốt phục vụ gây trồng ở các tỉnh Tây Nguyên. Nghiên cứu được tiến hành trên khảo nghiệm dòng vô tính Mắc ca tại Krông Năng, Đắk Lắk. Kết quả cho thấy có sự sai khác rõ rệt giữa các dòng về tất cả các tính trạng đánh giá bao gồm kích thước và khối lượng của quả, hạt và nhân. Phần lớn các dòng có tỷ lệ nhân cấp 1 (đường kính nhân ≥ 20 mm) và cấp 2 (đường kính nhân ≥ 16 mm và < 20 mm) với nhân màu kem sáng đến nâu vàng nhạt đạt trên 90%, ngoại trừ hai dòng 814 và 695. Tương quan kiểu hình giữa đường kính nhân với đường kính quả và đường kính hạt dao động từ 0,65 đến 0,69 và có ý nghĩa thống kê. Tương quan kiểu hình giữa khối lượng nhân với khối lượng quả và khối lượng hạt dao động từ 0,71 đến 0,73 và có ý nghĩa thống kê. Phần lớn các dòng được công nhận đều có chất lượng hạt và nhân tốt, phù hợp cho chế biến, ngoại trừ dòng 695 có nhân nhỏ, tỷ lệ đường kính nhân/đường kính hạt thấp. Trong số các dòng chưa được công nhận, dòng A4 và 344 có kích thước và khối lượng nhân lớn, tỷ lệ nhân/hạt cao.
-
NGHIÊN CỨU SỬ DỤNG NANO BẠC PHÒNG TRỪ BỆNH CHẢY NHỰA ĐEN THÂN DO NẤM PHOMA CUCURBITACEARUM GÂY RA TRÊN CÂY BÍ ĐAO CHANH
Abstract : 6 PDF: 7Bệnh chảy nhựa đen thân cây do nấm Phoma cucurbitacearum Sacc. (tên khác Didymella dryoniae Rehm) là bệnh hại rất quan trọng trên cây rau họ Cucurbitaceae trên khắp các châu lục, nhất là ở vùng nhiệt đới và cận nhiệt đới, làm giảm 50% năng suất quả bí đao ở Brazil, 5 - 13% năng suất cây rau họ bầu bí ở các tỉnh phía Nam, Việt Nam. Nano bạc đã được sử dụng để phòng trừ một số bệnh hại cây trồng ở nhiều nước trên thế giới, tuy nhiên chưa được nghiên cứu để phòng trừ bệnh trên cây bí đao chanh ở miền Đông Nam bộ. Nghiên cứu sử dụng nano bạc phòng trừ bệnh chảy nhựa đen thân trên cây bí đao chanh được thực hiện từ năm 2018 đến năm 2019 tại tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu. Mục đích của nghiên cứu là xác định nồng độ nano bạc phun phòng trừ hiệu quả bệnh chảy nhựa đen thân trên cây bí đao chanh và xác định thời điểm phun nano bạc phòng trừ hiệu quả bệnh chảy nhựa đen thân bí đao chanh trong suốt vụ. Kết quả thí nghiệm đã xác định được nano bạc ở nồng độ 60 ppm có khả năng kiểm soát hiệu quả bệnh chảy nhựa đen thân từ 74 - 86% đến 14 ngày sau phun. Về thời điểm sử dụng đã xác định được nghiệm thức phun Mifum 0,6SL ở nồng độ nano bạc 60 ppm định kỳ 15 ngày/lần cho đến khi bệnh xuất hiện thì phun trừ bệnh định kỳ 10 ngày/lần cho đến 100 ngày sau trồng có khả năng phòng trừ hiệu quả bệnh chảy nhựa đen thân trên cây bí đao chanh trong suốt vụ.
-
ẢNH HƯỞNG CỦA NAA, MÔI TRƯỜNG KHOÁNG VÀ NGUỒN CARBOHYDRATE LÊN NUÔI CẤY TẾ BÀO HUYỀN PHÙ CÂY XẠ ĐEN (Ehretia asperula Zoll. & Mor.)
Abstract : 11 PDF: 11Xạ đen (Ehretia asperula) là một vị thuốc quý từ lâu đã được sử dụng trong y học cổ truyền, ngày nay nhiều nghiên cứu cũng đã cho thấy Xạ đen chứa nhiều hợp chất thứ cấp có hoạt tính sinh học quan trọng. Nuôi cấy huyền phù là phương pháp hiệu quả để sản xuất sinh khối và thu nhận các hợp chất thứ cấp. Trong nghiên cứu này, vai trò của NAA, môi trường khoáng và nguồn carbohydrate trong quá trình sinh trưởng của tế bào huyền phù cũng đã được nghiên cứu. Kết quả cho thấy mẫu tTCL thân non cảm ứng tạo mô sẹo xốp bở trong môi trường có bổ sung 2,4 D, thích hợp làm nguyên liệu cho nuôi cấy tế bào huyền phù. Mô sẹo này được nuôi cấy vào môi trường MS lỏng bổ sung NAA (0,5 – 2,0 mg/L) trong điều kiện lỏng lắc, sau 15 ngày nuôi cấy huyền phù tăng sinh tốt nhất trong môi trường MS bổ sung 1,5 mg/L NAA. Bên cạnh đó các loại môi trường cũng như nguồn carbohydrate khác nhau cũng được khảo sát để xác định được loại môi trường tốt nhất cho sự sinh trưởng của tế bào huyền phù Xạ đen. Sau 15 ngày nuôi cấy kết quả cho thấy môi trường B5 bổ sung 30 g/L sucrose là môi trường thích hợp nhất cho việc nuôi cấy tế bào huyền phù cây Xạ đen. Từ các kết quả trên, môi trường B5 bổ sung 1,5 mg/L NAA, 30 g/L sucrose được xem là môi trường tối ưu cho nuôi cấy tế bào huyền phù Xạ đen (BM). Sinh khối tế bào thu nhận trên môi trường BM được xác định có chứa các hợp chất thứ cấp, hàm lượng các chất thứ cấp này cũng thay đổi theo thời gian nuôi cấy. Kết quả ghi nhận tại điểm cực đại của đường cong tăng trưởng cho thấy hàm lượng phenolic đạt 47,74 mg GAE/g DW và hàm lượng rosmarinic acid (RA) đạt 43,61 mg/g DW.
-
ẢNH HƯỞNG CỦA GIÁ THỂ TRỒNG VÀ PHÂN BÓN LÁ ĐẾN SINH TRƯỞNG VÀ PHÁT TRIỂN CỦA HOA HỒNG CỔ SA PA (Rosa gallica L.) TRỒNG Ở LONG XUYÊN, AN GIANG
Abstract : 12 PDF: 14Hồng cổ Sa Pa là giống hoa hồng nổi tiếng của miền Bắc Việt Nam do hoa rất đẹp nên đang được đưa về trồng nhiều ở miền Nam, trong đó có Long Xuyên, An Giang. Tuy nhiên, chưa có nhiều nghiên cứu về ảnh hưởng của giá thể và phân bón lá lên sự sinh trưởng và ra hoa của cây hoa này. Kết quả thí nghiệm về ảnh hưởng của giá lên sinh trưởng và khả năng ra hoa của hoa hồng cổ Sa Pa cho thấy hỗn hợp giá thể (đất phù sa + tro trấu + xơ dừa + phân bò với tỷ lệ 1: 1: 1: 2) phù hợp cho sự sinh trưởng và ra hoa tốt hơn các loại giá thể khác, về chiều cao cây (57,0 cm), đường kính tán (57,7 cm), số chồi (13,0 chồi), tỷ lệ ra hoa đạt 90,0%), đường kính hoa (54,3 mm) sau 12 tuần trồng. Bên cạnh đó, kết quả thí nghiệm về phân bón lá đã cho thấy phân bón lá Đầu Trâu 501 phù hợp hơn cho cây hoa hồng cổ Sa Pa sinh trưởng và phát triển tốt, với chiều cao cây (73,3 cm), đường kính tán (41,0 cm), số chồi (8,3 chồi), tỷ lệ ra hoa đạt (83,8%), đường kính hoa (57,3 mm) sau 12 tuần trồng tại Long Xuyên, An Giang.
-
NGHIÊN CỨU ẢNH HƯỞNG CỦA MỘT SỐ LOẠI GIÁ THỂ TỪ VỎ TRẤU LÊN SINH TRƯỞNG, NĂNG SUẤT VÀ HÀM LƯỢNG CÁC CHẤT CÓ HOẠT TÍNH SINH HỌC TRONG CÂY GIỌT BĂNG (Mesembryanthemum crystallium L.)
Abstract : 11 PDF: 12Nghiên cứu được thực hiện nhằm tìm ra giá thể thích hợp cho cây rau giọt băng trồng trong nhà lưới. Thí nghiệm được bố trí theo kiểu khối hoàn toàn ngẫu nhiên gồm 3 lặp lại và 5 nghiệm thức (T1: Trấu hun; T2: Trấu ủ mục; các nghiệm thức còn lại: T3, T4 và T5 là hỗn hợp phối trộn của trấu hun và trấu ủ mục theo tỷ lệ lần lượt là 1:1, 2:1 và 1:2). Sử dụng dinh dưỡng thủy canh Hydroumat V và bổ sung thêm muối NaCl với nồng độ 50 mM/L, cung cấp cho cây một tuần một lần. Kết quả cho thấy giá thể trấu hun cho kết quả tốt nhất về kích thích lá thứ 3 (dài 6,9 cm và rộng 4,4 cm), lá thứ 4 (dài 10,5 cm và rộng 6,2 cm) ở 50 ngày sau khi gieo (NSKG); đường kính tán (37,9 cm) và khối lượng tươi đạt cao nhất (166,3 g/cây) ở 70 NSKG. Trong đó giá thể trấu ủ mục cây sinh trưởng kém, năng suất thấp nhất (86,7 g/cây). Khi phân tích hàm lượng các chất có hoạt chất sinh học cũng cho thấy cây giọt băng trồng trên giá thể trấu hun cho kết quả cao nhất về hàm lượng tanin (87,8 mgTAE/100 g FW), chlorophyll (36,4 mg/100 g FW), caroteniod (16,4 mg/100 g), polyphenol (122,5 mgGAE/100 g FW), flavonoid (166,3 mgQE/100 g FW). Như vậy, giá thể trấu hun thích hợp cho cây giọt băng trong nhà lưới.
-
CHỌN LỌC DÒNG NGƯU BÀNG (ACRTIUM LAPPA LINNE.) THEO HƯỚNG NÂNG CAO NĂNG SUẤT VÀ HÀM LƯỢNG INULIN
Abstract : 7 PDF: 8Ngưu bàng (Acrtium lappa Linne) là một loài cây thuốc truyền thống. Mục đích nghiên cứu là chọn lọc được các dòng ngưu bàng theo hướng nâng cao năng suất và hàm lượng inulin. Hai quần thể ngưu bàng có nguồn gốc từ Nhật Bản và Việt Nam (đồng bằng sông Hồng) do Viện Dược liệu thu thập, đã được trồng xen kẽ, lai không quy ước và chọn lọc thành các dòng thụ phấn tự do. Thí nghiệm so sánh dòng được bố trí theo khối ngẫu nhiên đầy đủ (RCBD), 3 lần lặp lại tại Trung tâm Nghiên cứu Dược liệu Sa Pa, Sa Pa, Lào Cai. Kết quả chọn lọc được 7 dòng ưu tú, đặc biệt là các dòng NB4.15; NB4.26 có năng suất và hàm lượng inulin lần lượt đạt 24,44; 24,34 tấn/ha và 32,28; 46,83%.
-
PHÂN LẬP, TUYỂN CHỌN VÀ ĐỊNH DANH VI KHUẨN CỐ ĐỊNH ĐẠM VÙNG RỄ CÂY ĐINH LĂNG (Polyscias fruticosa L. Harms)
Abstract : 13 PDF: 14Mục tiêu của nghiên cứu là xác định được vi khuẩn cố định đạm vùng rễ cây đinh lăng. Mười ba mẫu rễ đinh lăng thu thập tại huyện Tri Tôn, tỉnh An Giang được sử dụng để phân lập vi khuẩn cố định đạm trên môi trường Burk’s không đạm. Kết quả nghiên cứu cho thấy hàm lượng đạm tổng số trong đất được đánh giá ở mức thấp. Phân lập được 30 dòng vi khuẩn cố định đạm, trong đó hai dòng vi khuẩn CL07L4 và CL09L4 có hàm lượng đạm cao nhất lần lượt là 50,5 và 52,8 mg NH4+ L-1. Bên cạnh đó, hai dòng vi khuẩn này được xác định khả năng hòa tan lân (4,85 và 21,1 mg L-1) và tổng hợp IAA (0,43 và 0,50 mg L-1), theo cùng thứ tự. Ngoài ra, dòng vi khuẩn AC10L4 có khả năng hòa tan lân cao nhất, với 23,2 mg L-1 và dòng vi khuẩn CL08L2 có khả năng cung cấp IAA cao nhất, với 0,99 mg L-1. Hai dòng vi khuẩn được định danh dựa trên kỹ thuật 16S rDNA là Bacillus subtilis CL07L4 và Bacillus subtilis CL09L4.
-
ĐẶC TÍNH HÌNH THÁI VÀ HÓA HỌC CỦA PHẪU DIỆN ĐẤT PHÈN CANH TÁC LÚA KÉM HIỆU QUẢ TẠI THỊ XÃ NGÃ NĂM, TỈNH SÓC TRĂNG
Abstract : 7 PDF: 7Mục tiêu nghiên cứu là xác định đặc tính hình thái và hóa học đất trồng lúa kém hiệu quả nhằm đề xuất mô hình canh tác hợp lý ở thị xã Ngã Năm, tỉnh Sóc Trăng. Mô tả đặc tính hình thái đất dựa trên bảng so màu Munsell. Thu mẫu đất theo tầng phát sinh đối với sáu phẫu diện đất trồng lúa kém hiệu quả để phân tích đặc tính hóa học đất. Kết quả nghiên cứu cho thấy sáu phẫu diện đất canh tác lúa thuộc đất phèn hoạt động và phèn tiềm tàng xuất hiện sâu. Trong đó, phẫu diện NN-L-01, NN-L-03 và NN-L-04 thuộc phèn hoạt động sâu; các phẫu diện còn lại NN-L-02, NN-L-05 và NN-L-06 thuộc phèn tiềm tàng xuất hiện sâu. pHH2O và pHKCl đất tầng mặt của cả sáu phẫu diện được xác định ở mức rất chua, giá trị pH theo thứ tự nhỏ hơn 4,70 và 3,90. Hàm lượng độc chất Al3+ ở các tầng đất lên đến 3,38 meq Al3+ 100 g-1, trong khi hàm lượng độc chất sắt lên đến 412,8 mg kg-1. Hàm lượng đạm và lân tổng số ở tầng mặt của sáu phẫu diện được đánh giá ở mức thấp. Hàm lượng đạm hữu dụng và lân dễ tiêu tối đa ở tầng mặt được xác định lần lượt là 24,0 mg NO3- kg-1, 58,4 mg NH4+ kg-1, 37,0 mg P kg-1. Hàm lượng lân nhôm, lân sắt và lân canxi trong đất cao lên đến 57,6 mg kg-1, 99,6 mg kg-1 và 137,7 mg kg-1 tương ứng. Hầu hết các phẫu diện có hàm lượng chất hữu cơ ở mức trung bình, ngoại trừ phẫu diện NN-L-05 ở mức cao. Khả năng trao đổi cation của đất ở mức rất thấp. Vùng đất của phẫu diện NN-L-01, NN-L-03 và NN-L-04 cần được thiết kế vườn hợp lý để pyrit không bị oxy hóa khi lên liếp.
-
PHÂN LẬP, ĐỊNH DANH VI KHUẨN LACTIC TỪ THỰC PHẨM LÊN MEN VÀ ĐÁNH GIÁ KHẢ NĂNG SINH TỔNG HỢP GAMMA AMINOBUTYRIC ACID (GABA) CỦA CHÚNG
Abstract : 12 PDF: 13Hệ vi khuẩn lactic trong các sản phẩm lên men truyền thống ở Việt Nam có vai trò quan trọng trong chế biến và bảo quản thực phẩm. Trong nghiên cứu này, từ 102 khuẩn lạc vi khuẩn phân lập từ nem chua và kim chi đã tuyển chọn được 31 chủng vi khuẩn lactic. Các chủng vi khuẩn lactic có khuẩn lạc hình tròn, màu trắng, mô, tế bào hình cầu hoặc hình que ngắn, kết đôi hoặc chuỗi, không di động, Gram dương, oxidase và catalase âm tính. Trong số đó có 3 chủng vi khuẩn lactic có khả năng sinh tổng hợp GABA và được định danh bằng phương pháp PCR và giải trình tự 16S rDNA là Lactobacillus brevis, Lactobacillus plantarum và Lactobacillus pentocus với độ tương đồng ở mức 99%-100%. Hàm lượng GABA sinh tổng hợp từ Lactobacillus brevis đạt 1261,15 mg/l, Lactobacillus plantarum đạt 959,23 mg/l và Lactobacillus pentocus đạt 506,29 mg/l.
-
ẢNH HƯỞNG CỦA QUÁ TRÌNH CHẾ BIẾN ĐẾN CHẤT LƯỢNG CỦA ỔI SẤY DẺO
Abstract : 15 PDF: 14Hiệu quả của quá trình tiền xử lý và quá trình sấy ổi được khảo sát trong nghiên cứu này. Các yếu tố ảnh hưởng đến quá trình chế biến bao gồm bề dày vật liệu (0,8-1,4 cm), thời gian chần (2-6 phút), nồng độ đường bổ sung (30-60%), thời gian thẩm thấu (2-8 giờ) và nhiệt độ sấy (40-55oC) được khảo sát. Quả ổi được cắt lát, chần, ngâm đường và sấy bằng thiết bị bơm nhiệt. Kết quả cho thấy sản phẩm ổi sấy dẻo có chất lượng cao với bề dày của lát ổi 1,2 cm, thời gian chần 4 phút ở 80oC, ngâm 6 giờ trong dung dịch đường 50% và nhiệt độ và thời gian sấy thích hợp là 50oC và 12 giờ.
-
XÁC ĐỊNH CÁC THÔNG SỐ CỦA MÔ HÌNH ĐỘNG HỌC VỀ SỰ PHÁT TRIỂN CỦA VI SINH VẬT GÂY HỎNG VÀ CHỈ THỊ VỆ SINH TRÊN TÔM SÚ CUỐI CHUỖI CUNG ỨNG LẠNH
Abstract : 6 PDF: 7Nghiên cứu này nhằm xác định các thông số của mô hình động học về sự phát triển của các vi sinh vật gây hỏng đặc trưng (vi sinh vật hiếu khí phát triển ở nhiệt độ dương thấp TVC, Pseudomonas spp. và vi khuẩn sinh H2S) và các vi khuẩn chỉ thị vệ sinh (coliform và/hoặc Escherichia coli) trên tôm sú nguyên liệu bảo quản ở nhiệt độ dương thấp. Quá trình được thực hiện dựa trên các mô hình sơ cấp Baranyi & Roberts và/hoặc Gompertz và mô hình thứ cấp căn bậc hai của Ratkowsky. Kết quả cho thấy tốc độ phát triển tối đa (pha log) của tất cả các vi sinh vật mục tiêu càng cao ở nhiệt độ càng cao. Mô hình sơ cấp Baranyi & Roberts cho sai số dự đoán bé hơn so với mô hình Gompertz. Các thông số của mô hình thứ cấp được xác định cho TVC, Pseudomonas spp. và coliform. Kết quả kiểm định các mô hình động học về sự phát triển của TVC và Pseudomonas spp. cho thấy trên 70% lượng vi sinh vật đo được nằm trong vùng mô phỏng chấp nhận ASZ của mô hình, chứng tỏ khả năng ứng dụng của những mô hình này vào dự đoán lượng vi sinh vật dựa trên lịch sử nhiệt độ của môi trường và/hoặc thuỷ sản. Tuy nhiên, cần tiếp tục nghiên cứu và cập nhật cơ sở dữ liệu về vi sinh vật của tôm sú trong chuỗi cung ứng để cải thiện mô hình.
-
Ô NHIỄM VI SINH VẬT TRONG QUY TRÌNH CHẾ BIẾN CÁ TRA (Pangasius hypophthalmus): CÔNG ĐOẠN PHI LÊ
Abstract : 6 PDF: 7Nghiên cứu này nhằm đánh giá chất lượng vệ sinh của các nhà máy chế biến cá tra thông qua đánh giá chất lượng vi sinh vật của cá và găng tay công nhân tại công đoạn phi lê. Nghiên cứu thực hiện lấy mẫu tại ba thời điểm và trong ba ngày khác nhau tại mỗi nhà máy và định lượng các chỉ tiêu vi sinh vật: vi sinh vật tổng số hiếu khí, Coliforms, E. coli và Staphylococci dương tính coagulase (hay Staphylococci coa+). Kết quả cho thấy, lượng vi sinh vật tổng số hiếu khí trên cá và găng tay công nhân phi lê ở các nhà máy tương ứng dao động từ 4,9 - 6,9 đơn vị log trên cá tra phi lê và 5,7 - 7,3 đơn vị log trên găng tay công nhân. Mật số Coliforms và E. coli trên cá tra phi lê tại các nhà máy tương ứng dao động từ 3,0 - 5,2 và 1,5 - 2,0 đơn vị log. Mật số Staphylococci coa+ trên cá và găng tay công nhân tương ứng dao động từ 1,5 - 3,9 và 1,6 - 2,7 đơn vị log. Qua các kết quả thu được của nghiên cứu, các nhà máy chế biến cần kiểm soát tốt thao tác chế biến đặc biệt là công đoạn phi lê nhằm hạn chế sự nhiễm chéo trong quá trình chế biến góp phần cải thiện chất lượng sản phẩm.
-
THUỶ PHÂN ĐẦU CÁ NGỪ VÂY VÀNG (Thunnus albacares) BẰNG ENZYME ALCALASE
Abstract : 6 PDF: 7Việc sản xuất sản phẩm thuỷ phân protein từ đầu cá ngừ bằng enzyme Alcalase đã được nghiên cứu. Sự thuỷ phân đầu cá ngừ được thực hiện bằng enzyme Alcalase 0,5% với tỷ lệ nước/nguyên liệu là 1: 1 ở nhiệt độ 55°C, pH tự nhiên (6,5) trong thời gian 6 giờ. Kết quả nghiên cứu cho thấy đầu cá ngừ vây vàng có hàm lượng protein 14,8%, hàm lượng lipid 13,5%, tỷ lệ thu hồi nitơ trong sản phẩm thuỷ phân protein tăng theo thời gian thuỷ phân. Sau 6 giờ thuỷ phân, tỷ lệ thu hồi nitơ đạt được 87,6%. Sản phẩm thuỷ phân protein từ đầu cá ngừ có hàm lượng protein 89,4%, lipit 1,4% và tro 7,7%. Tổng hàm lượng các axit amin là 68,82 g/100 g, hàm lượng các axit amin không thay thế là 36,49 g/100 g. Sản phẩm thuỷ phân protein đầu cá ngừ có giá trị dinh dưỡng cao, tỷ lệ axit amin không thay thế là 53,02% tổng axit amin. Các axit amin có hàm lượng cao trong sản phẩm thủy phân protein từ đầu cá ngừ là aspartic, leucine, glycine, histidine và alanine. Dầu cá thu được từ sự thuỷ phân đầu cá ngừ giàu axit béo omega 3, đặc biệt là axit docosahexaenoic (DHA) và axit eicosapentaenoic (EPA). Các axit béo có hàm lượng cao trong dầu đầu cá ngừ là axit palmitic, axit oleic và axit docosahexaenoic.
-
ĐẶC ĐIỂM DỊCH TỄ HỌC PHÂN TỬ CỦA VIRUS GÂY BỆNH TIÊU CHẢY CẤP Ở LỢN (PORCINE EPIDEMIC DIARRHEA VIRUS-PEDV) TẠI TỈNH BẮC GIANG
Abstract : 6 PDF: 6Nghiên cứu nhằm xác định một số đặc điểm dịch tễ học phân tử của virus gây bệnh tiêu chảy cấp ở lợn. 64 mẫu bệnh phẩm được thu thập từ tháng 9/2018 đến tháng 8/2019 ở 4 huyện thuộc tỉnh Bắc Giang, những mẫu này được kiểm tra bằng phản ứng PCR để xác định sự có mặt của virus PED. Kết quả nghiên cứu cho thấy, 26/64 (40,63%) mẫu dương tính, chủng virus lưu hành trên địa bàn tỉnh Bắc Giang thuộc nhóm G1 thông qua cây phát sinh chủng loại và có độ tương đồng 98-99% so với các chủng đã được công bố ở miền Bắc, Việt Nam. Tỷ lệ mắc bệnh tiêu chảy cấp trên lợn cao nhất ở huyện Tân Yên (33,75%), thấp nhất ở huyện Yên Thế (20,63%). Lợn con ở giai đoạn theo mẹ có tỷ lệ mắc tiêu chảy cấp cao nhất (31,88%), lợn nái có tỷ lệ mắc bệnh thấp nhất (13,75%). Mùa xuân, lợn mắc tiêu chảy cấp cao nhất (63,75%), thấp nhất ở mùa thu (3,75%). Lợn được chăn nuôi theo phương thức nông hộ có tỷ lệ mắc bệnh tiêu chảy cấp cao nhất (40,63%), thấp nhất ở lợn chăn nuôi theo kiểu công nghiệp (34,38%). Nghiên cứu là cơ sở quan trọng cung cấp thông tin phục sản xuất vắc xin phù hợp với điều chăn nuôi lợn trong khu vực.
-
NGHIÊN CỨU ĐẶC ĐIỂM HÌNH THÁI VÀ VẬT HẬU CỦA MỘT SỐ XUẤT XỨ LÁT HOA TẠI VIỆT NAM
Abstract : 7 PDF: 10Lát hoa là loài cây gỗ quý, có giá trị kinh tế cao, đã được gây trồng phổ biến trong vườn hộ và trên các diện tích đã được quy hoạch rừng phòng hộ. Kết quả nghiên cứu cho thấy, 10 xuất xứ Lát hoa có sự khác biệt rõ về đặc điểm hình thái và vật hậu. Chiều dài ngọn non của các xuất xứ từ 3,91 đến 6,39 cm, trong đó xuất xứ Hà Tĩnh có chiều dài ngọn non dài nhất (6,39 cm) và xuất xứ Côn Đảo có ngọn non ngắn nhất (3,91 cm). Các xuất xứ Lát hoa trong đất liền có lá và ngọn non màu đỏ tía. Xuất xứ Côn Đảo có lá và ngọn non màu hồng, phủ lớp phấn trắng mịn, lá chét nhỏ hơn hẳn so với các xuất xứ khác. Giai đoạn phát triển từ khi ra nụ đến khi quả chín thường kéo dài khoảng 6 - 10 tháng. Hai xuất xứ Côn Đảo và Gia Lai có thời điểm rụng lá và quả chín sớm hơn khoảng 1 tháng. Có sự khác biệt rõ về đặc điểm quả, quả Lát hoa thuộc xuất xứ Hà Tĩnh và Bắc Kạn to nhất, chiều dài đạt 3,91 - 4,18 mm, rộng đạt 3,21 - 3,35 mm, trong khi xuất xứ Côn Đảo có quả rất nhỏ, kích thước quả trung bình chỉ đạt 2,64 mm về chiều dài và 2,31 mm về chiều rộng. Hạt thường có màu vàng đậm, tuy nhiên, hạt của xuất xứ Côn Đảo có màu nâu vàng. Khối lượng 1.000 hạt dao động từ 7,67 g (Côn Đảo) đến 24,70 g (Sơn La). Tỷ lệ hạt chắc của xuất xứ Côn Đảo thấp nhất (67,8%), trong khi hai xuất xứ Tuyên Quang và Hà Tĩnh có tỷ lệ hạt chắc đạt trên 92%.
-
NGHIÊN CỨU MỘT SỐ BIỆN PHÁP PHÒNG TRỪ LOÀI SÂU RÓM 4 TÚM LÔNG (Dasychira axutha) HẠI THÔNG MÃ VĨ VÀ THÔNG NHỰA
Abstract : 11 PDF: 10Trưởng thành loài Sâu róm 4 túm lông hại Thông mã vĩ và Thông nhựa có tính xu quang nên có thể áp dụng biện pháp vật lý (sử dụng bẫy đèn) trong phòng chống loài sâu hại này, đặc biệt sẽ làm giảm đáng kể mật độ sâu của lứa tiếp theo. Thời gian đặt bẫy thích hợp là từ 7 giờ tối đến 6 giờ sáng hôm sau trong khoảng 14 ngày kể từ khi thời gian nhộng bắt đầu vũ hóa thông qua điều tra ngoài hiện trường. Khi xuất hiện sâu non tuổi 2 - 3 gây hại rừng trồng Thông mã vĩ, có thể sử dụng chế phẩm sinh học Delfin 32WG (32BUI/KG) (Bacillus thuringiensis var. kurstaki), liều lượng 1,4 kg + 8 kg chất phụ gia (trấu hoặc mùn cưa nghiền nhỏ); chế phẩm Bitadin WP (Bacillus thuringiensis var. kurstaki 16.000IU + Granulosis virus 108PIB), liều lượng 1,2 kg + 6 kg chất phụ gia phun cho 1 ha. Nếu mật độ sâu lớn có thể sử dụng thuốc trừ sâu hóa học có hoạt chất Deltamethrin 25 g/l (Decis repel 2,5SC), Cypermethrin 250 g/l (Sherpa 25EC), Etofenprox 10% (Trebon 10EC) với nồng độ 0,3%, liều lượng 500 - 600 lít/ha phun toàn bộ tán lá cây bằng máy phun thuốc trừ sâu cao áp.
-
XÁC ĐỊNH TÌNH TRẠNG VÀ PHÂN BỐ CỦA VƯỢN ĐEN MÁ TRẮNG (Nomascus leucogenys) TẠI VƯỜN QUỐC GIA VŨ QUANG, TỈNH HÀ TĨNH
Abstract : 12 PDF: 13Kết quả của nghiên cứu góp phần vào công tác quản lý, bảo tồn loài Vượn đen má trắng nói chung và tại Vườn Quốc gia (VQG) Vũ Quang nói riêng. Công trình nghiên cứu này đã được tiến hành nhằm xác định tình trạng và phân bố của loài Vượn đen má trắng (Nomascus leucogenys) bằng phần mềm ghi âm RecForge II cài đặt trên thiết bị di động (Samsung galaxy J4). Trong thời gian điều tra từ 22/7/2019 đến 23/5/2020, 8 máy ghi âm đã được đặt tại 53 điểm. Đã xác định được 12 điểm (4, 6, 7, 17, 18, 30, 31, 38, 39, 40, 41, 52) có tiếng Vượn hót, với số lượt hót là 30 lượt. Các máy ghi âm được đặt tại 33/49 tiểu khu của VQG Vũ Quang, trong đó Vượn được ghi nhận tại 8 tiểu khu (82, 176, 197, 202, 204, 155A, 180A, 180B). Bằng việc sử dụng phần mềm GIS kết hợp với khảo sát hiện trạng tài nguyên rừng tại khu vực nghiên cứu, 1 bản đồ phân bố của loài Vượn đen má trắng tại VQG Vũ Quang đã được xây dựng. Khu vực phân bố của Vượn đen má trắng bao gồm 23 tiểu khu (82, 176, 197, 202, 204, 155A, 180A, 180B, 80, 84, 85B, 155B, 165, 177, 182, 189, 190, 198, 203, 205, 219, 223, 224).
-
KHẢO SÁT ĐÁNH GIÁ HIỆN TRẠNG QUẢN LÝ, KHAI THÁC VÀ CHẤT LƯỢNG NƯỚC NGẦM TẠI VĨNH CHÂU, SÓC TRĂNG
Abstract : 6 PDF: 7Nghiên cứu được thực hiện nhằm đánh giá hiện trạng chất lượng nước ngầm, hiện trạng khai thác, sử dụng và quản lý nước ngầm tại Vĩnh Châu, Sóc Trăng giai đoạn 2016 đến 2018. Hiện trạng sử dụng và chất lượng nước ngầm được đánh giá thông qua số liệu phỏng vấn trực tiếp 59 hộ thuộc 3 xã (Vĩnh Hải, Vĩnh Phước và Lạc Hòa) tại Vĩnh Châu và số liệu quan trắc của Sở Tài nguyên và Môi trường Sóc Trăng. Chất lượng nước được đánh giá thông qua các chỉ tiêu pH, chất rắn hòa tan (TDS, mg/L), nitrate (N-NO3-, mg/L), amoni (N-NH4+, mg/L), clorua (Cl-, mg/L), sắt (Fe, mg/L) và coliform (MPN/100 mL). Kết quả nghiên cứu cho thấy hầu hết người dân tại khu vực nghiên cứu đều sử dụng nước giếng cho các sinh hoạt hàng ngày (98,3%) và hoạt động khác (81,4%; chủ yếu là sản xuất nông nghiệp). Nhận thức của người dân về tác động của việc khai thác đến sự bền vững nguồn tài nguyên nước ngầm còn hạn chế, hơn 78% người dân khai thác không có giấy phép. Kết quả phân tích chất lượng nước ngầm ở Vĩnh Châu giai đoạn 2016 - 2018 được đánh giá là chất lượng nước tốt, các chỉ tiêu chất lượng nước ngầm đều nằm trong giới hạn cho phép của QCVN 09:2015/BTNMT về chất lượng nước ngầm (ngoại trừ Cl- vào năm 2016 và 2017). Nghiên cứu cung cấp thông tin hữu ích cho việc nghiên cứu các biện pháp quản lý nước ngầm hiệu quả và toàn diện hơn.
-
XÂY DỰNG CƠ SỞ DỮ LIỆU KHÔNG GIAN HỆ THỐNG CÔNG TRÌNH THỦY LỢI TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH TÂY NINH
Abstract : 10 PDF: 12Trong những năm gần đây, việc xây dựng và tích hợp cơ sở dữ liệu không gian quản lý hệ thống công trình thủy lợi được Nhà nước quan tâm và khuyến khích thực hiện. Việc xây dựng và tích hợp này giúp các cơ quan quản lý nhà nước tích hợp và quản lý tổng hợp hiệu quả hướng đến công nghệ số. Tỉnh Tây Ninh đã triển khai đề án quản lý công trình thủy lợi trên giao diện WebGIS, được xem như hệ thống thông tin địa lý được phân bố qua môi trường mạng máy tính để tích hợp, phân phối và truyền tải thông tin địa lý trực tuyến trên Internet. Cụ thể, nghiên cứu này trình bày kết quả đề án quản lý tổng hợp khoảng 1.800 tuyến kênh và khoảng 8.000 công trình khác như cống, hồ chứa, trạm bơm trên địa bàn tỉnh Tây Ninh, tích hợp WebGIS nhằm quản lý và lưu trữ dữ liệu, mà trước đó vẫn được tổng hợp theo phương thức phổ thông và truyền thống (lưu trữ bản giấy, bản cứng hoặc thông qua phần mềm Excel, AutoCAD). WebGIS là công nghệ còn tương đối mới ở Việt Nam nhưng đến nay đã có nhiều cá nhân, tổ chức tìm hiểu và ứng dụng nó trong các lĩnh vực hành chính, kinh tế, văn hóa - xã hội khác nhau. Kết quả xây dựng phần mềm WebGIS đã thể hiện việc lưu giữ dữ liệu, xem dữ liệu dạng không gian, và trích xuất dữ liệu liên quan đến thủy lợi.
-
PHÂN TÍCH CÁC YẾU TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN CÁC MÔ HÌNH SỬ DỤNG ĐẤT TẠI U MINH HẠ, TỈNH CÀ MAU
Abstract : 7 PDF: 6Nghiên cứu phân tích ảnh hưởng các yếu tố tác động đến mô hình sử dụng đất (MHSDĐ) tại U Minh Hạ, Cà Mau. Phương pháp phỏng vấn nông hộ và chuyên gia, phân tích thứ bậc (AHP) được áp dụng trong nghiên cứu. Trong yếu tố chính (W1), yếu tố kinh tế ảnh hưởng mạnh nhất đến hầu hết các MHSDĐ, kế đến là yếu tố xã hội và môi trường. Đối với yếu tố phụ (W2), yếu tố chi phí và lợi nhuận thuộc nhóm kinh tế có ảnh hưởng mạnh trong các MHSDĐ. Về xã hội, tiềm lực tài chính có mức ảnh hưởng mạnh nhất trong các MHSDĐ. Về môi trường, sự gia tăng dịch bệnh, giảm đa dạng sinh học có ảnh hưởng nhiều nhất. Ảnh hưởng toàn cục (W), thì chi phí, lợi nhuận, hiệu quả đồng vốn là có ảnh hưởng mạnh nhất. Trong đó, MHSDĐ lúa 2 vụ, lúa tôm và chuyên tôm bị ảnh hưởng mạnh bởi yếu tố tổng chi phí và lợi nhuận; MHSDĐ lúa 2 vụ, chuyên rau và tràm bị ảnh hưởng mạnh bởi tổng lợi nhuận; MHSDĐ lúa 2 vụ, lúa tôm, tràm và keo lai lại bị ảnh hưởng mạnh bởi hiệu quả đồng vốn. Kế đến là khả năng tài chính của nông hộ ảnh hưởng mạnh nhất đến MHSDĐ lúa 2 vụ, lúa tôm và tràm. Nhóm môi trường có mức ảnh hưởng đều thấp và không khác biệt lớn giữa các MHSDĐ.
-
ĐÁNH GIÁ CÔNG TÁC ĐẤU GIÁ QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT Ở TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN MƯỜNG NHÉ, TỈNH ĐIỆN BIÊN GIAI ĐOẠN 2013-2019
Abstract : 16 PDF: 19Mường Nhé là huyện nằm phía Tây Bắc của tỉnh Điện Biên, thuộc khu vực có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn. Công tác đấu giá quyền sử dụng đất ở tại huyện Mường Nhé giai đoạn 2013-2019 chưa nhiều; quy mô nhỏ, diện tích đất ở được đấu giá thấp nhất chỉ 0,0792 ha, cao nhất là 1,3452 ha. Kinh phí thu được cao nhất đạt 23.650.950.000đ (năm 2018), thấp nhất đạt 2.118.864.000đ (năm 2014). Quá trình đấu giá vẫn tồn tại 7 trường hợp phải huỷ hoặc không công nhận kết quả trúng đấu giá do lỗi của người tham gia đấu giá. Kết quả điều tra ý kiến của người tham gia đấu giá cho thấy đại bộ phận người dân có sự tiếp cận với thông tin về đấu giá đất ở (80,72% đến 86,75%); đại đa số người tham gia đấu giá cho rằng lệ phí, kinh phí đặt cọc và bước giá là hợp lý (tương đương 93,98%, 90,36% và 81,93%); riêng với giá khởi điểm, 78,31% người được phỏng vấn cho rằng ở mức trung bình. Với tỷ lệ 97,59% đến 100%, đại bộ phận người được phỏng vấn cho rằng quy trình thực hiện đấu giá là phù hợp, minh bạch. Thông qua điều tra, nghiên cứu cũng đã chỉ ra những khó khăn, tồn tại cũng như đề xuất một số giải pháp nâng cao hiệu quả công tác đấu giá quyền sử dụng đất ở tại huyện Mường Nhé, tỉnh Điện Biên.
-
XÁC ĐỊNH MỨC TIÊU THỤ NĂNG LƯỢNG VÀ THỜI GIAN SẤY TRONG THIẾT BỊ SẤY KIỂU TRỐNG SỬ DỤNG PHỐI HỢP NĂNG LƯỢNG MẶT TRỜI VÀ NĂNG LƯỢNG ĐIỆN
Abstract : 6 PDF: 5Bài báo trình bày kết quả lắp đặt và thử nghiệm một thiết bị sấy lai phối hợp năng lượng mặt trời với năng lượng điện. Thiết bị có kết cấu buồng sấy kiểu lồng quay, cấp nhiệt cho quá trình sấy nhờ bộ thu nhiệt mặt trời và và bộ gia nhiệt trở điện, thiết bị có thể tự động điều khiển nhiệt độ sấy theo cài đặt nhờ hệ thống điều khiển nhiệt độ. Ba thí nghiệm được thực hiện để sấy rau má, nhiệt độ tại buồng sấy và biến thiên độ ẩm của rau trong quá trình sấy, thời gian sấy và chi phí năng lượng được xác định. Kết quả cho thấy, thời gian sấy và tiêu hao điện năng cho sấy 10 kg rau má từ độ ẩm 88% xuống 6% khi sử dụng nhiệt cho quá trình sấy từ năng lượng điện, năng lượng mặt trời phối hợp năng lượng điện và năng lượng mặt trời là 7,0, 6,5, và 10,5 giờ; và 14,2, 8,1, 2,1 kWh. Hệ thống sấy phối hợp năng lượng mặt trời và năng lượng điện cho phép giảm lượng điện tiêu thụ đến 43% so với sấy với năng lượng điện. Trong khi, sấy với năng lượng mặt trời cần thời gian sấy dài hơn, tuy nhiên năng lượng điện tiêu thụ chỉ chiếm 15% so với sấy điện. Kết quả này thể hiện ưu thế của thiết bị sấy phối hợp năng lượng mặt trời và năng lương điện bán tự động, như sự lựa chọn của người sử dụng để sấy nhiều loại sản phẩm có nhiệt độ và thời gian sấy phù hợp nhằm đảm bảo tính kinh tế, chất lượng và môi trường trong điều kiện số giờ nắng cao như ở miền Trung, Việt Nam.








