Số 8 (2026)

					Xem Số 8 (2026)
Đã Xuất bản: 25-04-2026

Bài viết

  • NGHIÊN CỨU NHÂN GIỐNG in vitro CÂY BÌNH VÔI ĐỎ (Stephania dielsiana Y.C. Wu) THÔNG QUA CON ĐƯỜNG TÁI SINH CHỒI

    Khuất Thị Mai Lương, Nguyễn Văn Dương, Nguyễn Thị Lan Anh, Khương Thị Thu Hương, Nguyễn Thị Hồng Lĩnh, Hoàng Diệu Linh, Lê Hùng Lĩnh
    3-13

    Cây bình vôi đỏ (Stephania dielsiana Y.C. Wu) là loài dược liệu có giá trị, được sử dụng rộng rãi trong y học cổ truyền nhưng đang có nguy cơ suy giảm do khai thác quá mức. Nghiên cứu này nhằm xây dựng quy trình nhân giống in vitro thông qua tái sinh chồi từ đốt thân mang mắt ngủ. Kết quả cho thấy, quy trình khử trùng sử dụng javel 5% (15 phút) kết hợp cồn 70% và HgCl₂ 0,1% (mỗi loại 5 phút) cho tỉ lệ mẫu sạch và sống đạt 75,6%. Môi trường MS bổ sung BAP 1,5 mg/l thích hợp cho cảm ứng chồi, trong khi BAP 1,5 mg/l kết hợp NAA 0,1 mg/l cho hiệu quả nhân nhanh cao nhất, với hệ số nhân đạt 2,5 lần và tỉ lệ tạo cụm chồi trên 90%. Kinetin 1,5 mg/l kết hợp NAA 0,1 mg/l góp phần cải thiện chiều cao chồi. Ở giai đoạn ra rễ, IBA 0,25 mg/l cho tỉ lệ ra rễ đạt 87,8%. Việc bổ sung 1,0 g/l than hoạt tính cùng BAP 1,5 mg/l giúp nâng cao chất lượng cây hoàn chỉnh. Nghiên cứu đã bước đầu xác định các điều kiện phù hợp cho các giai đoạn nhân giống in vitro, góp phần làm cơ sở cho việc xây dựng quy trình nhân giống nhằm bảo tồn và phát triển nguồn gen loài bình vôi đỏ (Stephania dielsiana).

    DOI: https://doi.org/10.71254/rz2zdk61
  • ẢNH HƯỞNG CỦA THỜI ĐIỂM XỬ LÝ MẶN ĐẾN SINH TRƯỞNG CỦA CẢI BẸ XANH (Brassica juncea ) VÀ CẢI NGỌT (Brassica integrifolia)

    Võ Thị Phương Thảo, Phạm Ngọc Hân, Nguyễn Ngọc Hân, Tôn Thiên Giáp, Nguyễn Minh Ngọc, Nguyễn Châu Thanh Tùng, Ngô Thụy Diễm Trang
    14-22

    Nghiên cứu được thực hiện nhằm đánh giá ảnh hưởng của thời điểm xử lý mặn (14, 21, 28 ngày sau khi gieo - NSKG) đến sinh trưởng của cải bẹ xanh và cải ngọt. Cây được tưới nước mặn 6‰ liên tục trong 14 ngày tại từng thời điểm xử lý, sau đó chuyển sang tưới nước ngọt đến khi thu hoạch (42 NSKG). Kết quả cho thấy, thời điểm xử lý mặn ở giai đoạn sinh trưởng càng muộn thì càng ảnh hưởng đáng kể đến sinh trưởng cây như chiều cao, diện tích lá và khối lượng tươi thân. Cây tưới mặn ở 14 NSKG có sinh trưởng tốt hơn và cho sinh khối cao hơn so với cây tưới mặn tại thời điểm 21 và 28 NSKG. Cụ thể, khối lượng tươi thân của cải xanh và cải ngọt ở thời điểm tưới mặn 14 NSKG đạt tương ứng 196,3 và 191,6 g/cây, cao hơn so với cây tưới mặn ở 21 và 28 NSKG (141,9 - 148,1 và 168,3 - 181,6 g/cây), giảm 28,6 - 35,0% so với cây trồng không tưới mặn (218,2 và 254,3 g/cây). Giá trị ECe và Na⁺ tích lũy trong đất trồng cây xử lý mặn ở thời điểm càng muộn thì càng tăng cao, ngược lại hàm lượng K⁺ có xu hướng giảm. Hàm lượng Na⁺ trong đất đạt giá trị cao nhất ở thời điểm tưới mặn 28 NSKG (0,528 - 1,091 g/kg), cao hơn so với thời điểm 14 NSKG (0,240 - 0,795 g/kg). Cải bẹ xanh thể hiện khả năng duy trì sinh trưởng và sinh khối tốt hơn cải ngọt trong điều kiện tưới mặn ở cả 3 thời điểm. Kết quả góp phần cung cấp cơ sở khoa học cho việc xác định thời điểm tưới phù hợp trong điều kiện xâm nhập mặn tại đồng bằng sông Cửu Long.

    DOI: https://doi.org/10.71254/234t3w53
  • NGHIÊN CỨU HIỆU QUẢ SỬ DỤNG MỘT SỐ THUỐC BẢO VỆ THỰC VẬT SINH HỌC TRONG SẢN XUẤT RAU AN TOÀN TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ HÀ NỘI

    Nguyễn Hồng Sơn, Đặng Thị Thanh Lê, Bùi Thị Hải Yến
    23-34

    Thuốc bảo vệ thực vật (BVTV) sinh học là công cụ quan trọng trong quản lý dịch hại tổng hợp, đặc biệt trong bối cảnh phát triển nông nghiệp hữu cơ. Bài báo này trình bày kết quả nghiên cứu hiệu quả sử dụng một số thuốc BVTV sinh học trong sản xuất rau an toàn trên địa bàn Thành phố (TP) Hà Nội. Đã lựa chọn được bộ thuốc BVTV sinh học trong phòng trừ sinh vật gây hại trên rau tại TP Hà Nội, bao gồm: Trico-ĐHCT, Mocabi SL; Biobac 50WP,  Actinovate 1SL, Sokupi 0,5SL, Anisaf SH-01 2SL, NeemNim Xoan xanh green 0,3EC; Mectinstar 20EC, Aga 25EC. Đã xây dựng 2 mô hình (0,5 ha/mô hình) áp dụng đồng bộ các biện pháp tổng hợp phòng trừ sâu bệnh hại cải bắp và cải xanh sử dụng thuốc BVTV sinh học (chế phẩm thuốc BVTV thảo mộc mới Sapobug 12SL và bộ thuốc chọn được) tại xã Đông Anh, TP Hà Nội. Mô hình cải bắp, năng suất trong mô hình tăng 13,33% so với ngoài mô hình, lợi nhuận tăng 13,07%. Mô hình cải xanh, năng suất trong mô hình tăng 17,73% so với ngoài mô hình, lợi nhuận tăng 13,99%. Mẫu rau cải bắp, cải xanh trong mô hình đều không có dư lượng thuốc BVTV. Trong cả 2 mô hình cải bắp và cải xanh, hiệu lực phòng trừ sâu tơ và sâu xanh bướm trắng đều đạt trên 80%; hiệu lực kiểm soát nấm Fusarium Rhizoctonia đều đạt trên 60%.

    DOI: https://doi.org/10.71254/rf220338
  • ẢNH HƯỞNG CỦA PHÂN HỮU CƠ SINH HỌC THAY THẾ MỘT PHẦN PHÂN VÔ CƠ ĐẾN TÍNH CHẤT ĐẤT, NĂNG SUẤT VÀ CHẤT LƯỢNG GIỐNG NHO NH01-26

    Phan Công Kiên, Phạm Văn Phước, Võ Minh Thư, Đỗ Tỵ, Nguyễn Thị Liễu, Nguyễn Thị Thuý Hằng, Nguyễn Thị Hà Giang
    35-43

    Nghiên cứu sử dụng phân hữu cơ thay thế một phần lượng phân vô cơ đến tính chất đất và năng suất, chất lượng của giống nho NH01-26 nhằm xác định công thức phân bón phù hợp thông qua tính chất đất, năng suất, chất lượng và hiệu quả kinh tế. Nghiên cứu được thực hiện ở 2 vụ liên tiếp trên cùng nền đất (vụ hè thu năm 2024 và đông xuân năm 2024/2025) tại thôn Thái An, xã Vĩnh Hải, huyện Ninh Hải, tỉnh Ninh Thuận (nay là thôn Thái An, xã Vĩnh Hải, tỉnh Khánh Hoà), thí nghiệm bố trí theo khối đầy đủ hoàn toàn ngẫu nhiên (RCBD), gồm 4 công thức phân bón và 3 lần nhắc lại. Kết quả nghiên cứu cho thấy, các công thức sử dụng phân hữu cơ thay thế phân vô cơ 25, 50 và 75% đã cải thiện tính chất của đất: pH của đất tăng từ 5,36 lên > 6,02; tổng chất hữu cơ trong đất gia tăng từ 4,57 g/kg (trước thí nghiệm) lên đến 17,5 – 23,1 g/kg (sau khi kết thúc thí nghiệm), khả năng sinh trưởng, phát triển khỏe, tăng về chiều dài cành từ 5,7 - 10,5 cm; đường kính cành từ 0,02 - 0,08 cm và bệnh mốc sương nhẹ hơn so với đối chứng. Mặc dù, ngay vụ đầu tiên (hè thu năm 2024) các công thức sử dụng phân hữu cơ thay thế một phần lượng phân vô cơ chưa thể hiện vượt trội so với đối chứng; tuy nhiên trong vụ đông xuân năm 2024/2025, các chỉ tiêu cấu thành năng suất, năng suất và chất lượng đã thể hiện ưu điểm rõ rệt so với đối chứng; năng suất ổn định (từ 14.545 - 15.818 kg/ha), chất lượng được cải thiện (từ 16,7 - 17,1 0Brix), hiệu quả kinh tế tăng từ 18,2 - 26% so với đối chứng.

    DOI: https://doi.org/10.71254/zz72wh48
  • TÌNH HÌNH NHIỄM KÝ SINH TRÙNG Ở CÁC LOÀI THẰN LẰN BÓNG (HỌ SCINCIDAE) TẠI TỈNH NGHỆ AN

    Ông Vĩnh An, Trần Thị Bính
    44-50

    Kết quả nghiên cứu về tình hình nhiễm ký sinh trùng (KST) trên 3 loài thằn lằn bóng phổ biến ở tỉnh Nghệ An, đã xác định được tỷ lệ nhiễm cao nhất là giun tròn ký sinh ở thằn lằn bóng hoa (61,1%); tiếp theo là giun tròn ký sinh ở thằn lằn bóng đuôi dài (54%); thấp nhất là giun đầu gai ký sinh ở thằn lằn bóng hoa (2,8%). Tỷ lệ nhiễm KST cao nhất ở thằn lằn bóng đuôi dài ở xã Con Cuông (92,3%); thấp nhất ở thằn lằn tốt mã bốn vạch ở xã Con Cuông (50%). Cường độ nhiễm sán lá cao nhất ở thằn lằn bóng hoa: 5,92 (1 - 25 sán/vật chủ); thấp nhất là giun đầu gai ký sinh ở thằn lằn bóng hoa: 2 (2 - 2 giun/vật chủ) và thằn lằn bóng đuôi dài: 2 (1 - 3 giun/vật chủ). Kết quả phân tích hình thái học đã xác định được 20 loài KST gồm: 5 loài sán dây, 7 loài sán lá, 5 loài giun tròn, 1 loài giun đầu gai và 2 loài tiết túc. Các loài KST được phát hiện ở hầu hết các nội quan của vật chủ: Phổi, mật, dạ dày, ruột non và ruột già, trong đó 11 loài lần đầu tiên được phát hiện ở Việt Nam gồm 2 loài sán dây, 6 loài sán lá và 3 loài giun tròn.

    DOI: https://doi.org/10.71254/a8a25t60
  • NGHIÊN CỨU TỐI ƯU HÓA TRÍCH LY ANTHOCYANIN TỪ GẠO NẾP THAN (Oryza rufipogon)

    Lê Thị Hồng Ánh, Nguyễn Lê Trâm, Hoàng Thị Ngọc Nhơn
    51-59

    Nghiên cứu này nhằm đánh giá ảnh hưởng của các phương pháp khác nhau như trích ly có hỗ trợ của vi sóng, sóng siêu âm và enzyme đến thu nhận và tối ưu hóa quá trình trích ly anthocyanin từ gạo nếp than (Oryza rufipogon). Kết quả cho thấy, phương pháp siêu âm đạt hiệu quả cao nhất và được lựa chọn để tối ưu hóa bằng thiết kế Box-Behnken kết hợp phương pháp bề mặt đáp ứng. Điều kiện tối ưu được xác định tại biên độ siêu âm 31,73%, thời gian siêu âm 6,97 phút và tỷ lệ nguyên liệu/dung môi 1/21,62 (w/v), với hàm lượng anthocyanin đạt 0,964 mg/gck; kết quả kiểm chứng thực nghiệm đạt 0,945 ± 0,028 mg/gck, sai lệch nhỏ hơn 5% so với giá trị dự đoán của mô hình. Kết quả nghiên cứu khẳng định tiềm năng ứng dụng của phương pháp siêu âm kết hợp tối ưu hóa điều kiện trích ly để nâng cao hiệu suất trích ly anthocyanin từ gạo nếp than, góp phần định hướng phát triển các sản phẩm thực phẩm và dược liệu có giá trị gia tăng cao.

    DOI: https://doi.org/10.71254/wy2jj040
  • TỐI ƯU HÓA QUY TRÌNH CHIẾT XUẤT TRONG ĐIỀU CHẾ CAO LÁ GIANG (Aganonerion polymorphum Pierre ex Spire) BẰNG MÔ HÌNH BOX-BEHNKEN

    Phù Thị Thanh Khiết, Trương Thị Tú Trân, Trần Việt Quyền, Kong Narin, Lê Thái Anh Thư
    60-68

    Nghiên cứu thực hiện tối ưu hóa quy trình chiết xuất polyphenol tổng (TPC) và flavonoid tổng (TFC) trong điều chế cao lá giang (Aganonerion polymorphum Pierre ex Spire). Thí nghiệm được thiết kế theo phương pháp bề mặt đáp ứng (RSM) dựa trên thiết kế Box-Behnken (BBD), ba biến khảo sát bao gồm: Nồng độ ethanol (50 - 90%); tỷ lệ dung môi: mẫu (10: 1 - 20: 1, mL/g) và thời gian siêu âm (5 - 15 phút), chỉ tiêu theo dõi hàm lượng TPC (mg GAE/g CK) và TFC (mg QE/g CK). Kết quả cho thấy, mô hình có ý nghĩa thống kê cao (Pmodel < 0,0001), giá trị Lack‑of‑fit > 0,05 (PTPC = 0,069; PTFC = 0,219), hệ số xác định > 98% ở cả hai mô hình, qua đó chứng tỏ mô hình phù hợp và ổn định. Các yếu tố tuyến tính bậc hai và tương tác đều ảnh hưởng đáng kể đến hiệu suất chiết, thể hiện tính phi tuyến và sự tồn tại điểm cực đại trong vùng khảo sát. Điều kiện chiết xuất tối ưu được xác định là ethanol 73%, tỷ lệ dung môi: mẫu 16: 1 (mL/g) và thời gian siêu âm 10,5 phút. Kiểm chứng thực nghiệm bằng kiểm định hai phía (μ ≠ μ0) cho thấy tính chính xác của mô hình dự đoán. Kết quả trên là thông tin khoa học tin cậy nhằm phát triển quy trình sản xuất cao giàu hợp chất sinh học.

    DOI: https://doi.org/10.71254/ptr8ak06
  • NGHIÊN CỨU XÂY DỰNG QUY TRÌNH CHẾ BIẾN KHOAI LANG SẤY DẺO

    Nguyễn Văn Lợi, Lê Anh Tuấn, Trần Văn Quy, Nguyễn Ngọc Duy, Vũ Kiều Sâm, Bùi Phương Thảo
    69-80

    Khoai lang sấy dẻo là sản phẩm được chế biến từ củ khoai lang, được ướp với đường và các hương liệu thực phẩm và sấy ở nhiệt độ thấp. Thí nghiệm xác định các thông số công nghệ bao gồm: Tỷ lệ các phụ gia thực phẩm, độ dày của lát khoai lang, nhiệt độ sấy và vận tốc gió. Mỗi thông số này được bố trí theo 4 công thức, sau đó phân tích đánh giá các chỉ tiêu hoá lý, dinh dưỡng, vi sinh và cảm quan của sản phẩm ở 4 công thức thí nghiệm. Mục tiêu của nghiên cứu này là lựa chọn công thức phù hợp nhất để xây dựng quy trình chế biến khoai lang sấy dẻo. Công thức được lựa chọn là củ khoai lang 5 kg, nước lọc 480 ml, nước cốt chanh 20 ml và đường mật mía 120 g, độ dày của lát khoai lang là 1 cm, sấy ở nhiệt độ 55oC, sấy với vận tốc gió là 1,5 m/s, với thông số này thời gian sấy mỗi mẻ từ 14 - 14,3 giờ, độ ẩm của sản phẩm dao động từ 15,24 - 15,35%, hàm lượng protein tổng số 4,87 g/100 g, đường tổng số 31,78 g/100 g, anthocyanin 26,79 mg/kg, vitamin C 182,32 mg/kg, vitamin B1 0,24 mg/kg, vitamin A 1,67 mg/kg, sắt 13,93 mg/kg, tổng số vi sinh vật hiếu khí 1,2 x 102 CFU/g và không phát hiện nấm mốc. Sản phẩm có màu vàng cam đặc trưng, mùi thơm đặc trưng, vị ngọt đặc trưng, cấu trúc dẻo đồng đều và ít nhăn.

    DOI: https://doi.org/10.71254/q6brz454
  • ĐA DẠNG THÀNH PHẦN LOÀI ĐỘNG VẬT PHÙ DU Ở BÃI BỒI VEN BIỂN TỈNH AN GIANG

    Huỳnh Văn Tiền, Nguyễn Duy Tùng, Lưu Ngọc Thùy Trang, Đinh Thị Bé Hiền, Hà Thanh Toàn
    81-88

    Nghiên cứu này nhằm khảo sát thành phần loài và mức độ đa dạng của động vật phù du tại vùng bãi bồi ven biển tỉnh An Giang thông qua phân tích sự phân bố của chúng trong các sinh cảnh đặc trưng ven biển. Việc thu mẫu được tiến hành vào mùa khô tại 3 sinh cảnh điển hình gồm: Cửa sông, vùng triều và vùng dưới triều. Mẫu được thu bằng lưới phù du kiểu Juday (kích thước mắt lưới 25 µm), cố định bằng dung dịch formalin 5% và quan sát dưới kính hiển vi quang học để định danh và mô tả hình thái. Kết quả ghi nhận tổng cộng 12 loài động vật phù du thuộc 2 nhóm chính là: Ngành Rotifera và lớp Copepoda (thuộc ngành Arthropoda). Trong đó, luân trùng (Rotifera) chiếm ưu thế với 9 loài (75%), còn giáp xác chân mái chèo (Copepoda) gồm 3 loài (25%). Một số loài phổ biến bao gồm: Brachionus sp., Keratella sp., Apocyclops sp., Paracalanus crassirostrisPseudodiaptomus incisus. Thành phần loài có sự khác biệt giữa các sinh cảnh, với mức độ phong phú cao hơn tại khu vực cửa sông và vùng triều so với vùng dưới triều. Nhóm Rotifera phân bố rộng và hiện diện ổn định ở cả 3 sinh cảnh, trong khi Copepoda có xu hướng tập trung tại các thủy vực có độ sâu và độ mặn cao hơn. Chỉ số đa dạng Shannon–Wiener (H′) dao động từ 1,08 - 1,24, trong đó giá trị cao nhất ghi nhận tại sinh cảnh cửa sông (H′ = 1,24), tiếp theo là vùng triều (H′ = 1,20) và thấp nhất tại vùng dưới triều (H′ = 1,08). Kết quả nghiên cứu cung cấp cơ sở dữ liệu khoa học về cấu trúc quần xã động vật phù du tại vùng bãi bồi ven biển, phục vụ giám sát sinh thái, đánh giá chất lượng môi trường nước và định hướng sử dụng hợp lý nguồn phù du trong nuôi trồng thủy sản.

    DOI: https://doi.org/10.71254/gaj2qy13
  • ĐÁNH GIÁ NGUY CƠ XÂM NHẬP MẶN THEO CÁC KỊCH BẢN BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU TRÊN HIỆN TRẠNG SỬ DỤNG ĐẤT THÀNH PHỐ CẦN THƠ

    Nguyễn Kim Khoa, Nguyễn Thị Hồng Điệp, Nguyễn Trọng Nguyễn
    89-96

    Nghiên cứu này được thực hiện với mục tiêu đánh giá sự phân bố hiện trạng sử dụng đất nông nghiệp tại thành phố Cần Thơ (tỉnh Sóc Trăng cũ) năm 2024 và xác định các hiện trạng có nguy cơ bị ảnh hưởng bởi xâm nhập mặn theo các kịch bản biến đổi khí hậu RCP 4.5 và RCP 8.5 vào các năm 2030 và 2050. Ảnh vệ tinh Sentinel-1A và Sentinel-2 MSI đa thời gian được sử dụng để phân loại hiện trạng sử dụng đất năm 2024 bằng thuật toán Random Forest. Kết quả phân loại đã xác định 11 loại hình sử dụng đất. Với kịch bản RCP 8.5, diện tích canh tác lúa bị ảnh hưởng bởi mức mặn > 4 g/l ước tính là 50.242,0 ha (năm 2030) và 52.099,2 ha (năm 2050), đòi hỏi phải có các biện pháp thích ứng phù hợp với điều kiện mặn gia tăng. Nghiên cứu này góp phần cung cấp cơ sở khoa học quan trọng cho việc lập kế hoạch sử dụng đất, hướng tới một nền nông nghiệp thích ứng và bền vững với biến đổi khí hậu.

    DOI: https://doi.org/10.71254/nv13cr22