Số 10 (2026)
Bài viết
-
NGHIÊN CỨU ẢNH HƯỞNG CỦA MẬT ĐỘ CẤY VÀ LIỀU LƯỢNG BÓN ĐẠM ĐẾN SINH TRƯỞNG, NĂNG SUẤT VÀ HIỆU QUẢ KINH TẾ CỦA GIỐNG LÚA CẨM BLACK TẠI CÁC TỈNH PHÍA BẮC
Abstract : 0 PDF: 0Nghiên cứu được thực hiện nhằm đánh giá ảnh hưởng của mật độ cấy và liều lượng bón đạm đến sinh trưởng, năng suất và hiệu quả kinh tế của giống lúa cẩm Black tại 3 vùng sinh thái phía Bắc trong vụ mùa năm 2024. Thí nghiệm được bố trí theo kiểu ô lớn - ô nhỏ (split-plot design) với 3 lần nhắc lại, gồm 3 mật độ cấy (30, 40, 50 khóm/m²) và 4 mức bón đạm (60, 80, 100, 120 kg N/ha). Kết quả cho thấy, mật độ cấy và lượng bón đạm ảnh hưởng rõ đến sinh trưởng, các yếu tố cấu thành năng suất và năng suất của giống lúa cẩm Black. Ở mật độ 40 khóm/m² kết hợp với 100 kg N/ha, năng suất đạt cao nhất là 6,38 - 6,44 tấn/ha tại tỉnh Nghệ An, 6,01 - 6,05 tấn/ha tại tỉnh Nam Định cũ và 5,62 - 5,65 tấn/ha tại tỉnh Hòa Bình cũ. Hiệu quả sử dụng đạm giảm dần khi tăng lượng bón, phản ánh quy luật hiệu quả biên giảm của phân đạm. Phân tích ổn định cho thấy, tổ hợp 40 khóm/m² kết hợp 100 kg N/ha có khả năng thích nghi rộng, ổn định và cho hiệu quả kinh tế cao. Kết quả nghiên cứu là cơ sở khoa học đề xuất quy trình canh tác phù hợp cho giống lúa cẩm Black tại các tỉnh phía Bắc nước ta.
-
NGHIÊN CỨU BÌNH TUYỂN CÂY ĐẦU DÒNG GIỐNG TIÊU PHÚ QUỐC
Abstract : 0 PDF: 0Nghiên cứu bình tuyển cây đầu dòng giống tiêu Phú Quốc được thực hiện từ năm 2021 đến năm 2024 tại đặc khu Phú Quốc, tỉnh An Giang, nhằm phục vụ công tác phục tráng giống, góp phần phát triển nguồn gen tiêu cho vùng trồng tiêu Phú Quốc trong thời gian tới. Áp dụng phương pháp tuyển chọn cá thể ưu tú trong quần thể giống tiêu Phú Quốc dựa trên Tiêu chuẩn cơ sở (TCCS 08:2021) của Viện Khoa học Kỹ thuật Nông nghiệp miền Nam làm cơ sở bình tuyển. Cây đầu dòng giống tiêu Phú Quốc được hội đồng của Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tỉnh Kiên Giang (cũ) thẩm định tính phù hợp và yêu cầu trong Tiêu chuẩn cơ sở (TCCS 02:2024). Kết quả nghiên cứu bình tuyển cho thấy, có 42 cây đầu dòng giống tiêu Phú Quốc được công nhận theo Quyết định số 220/QĐ-SNNMT do Sở Nông nghiệp và Môi trường tỉnh Kiên Giang (cũ) ban hành ngày 5 tháng 5 năm 2025. Những cây tiêu đầu dòng này mang mã hiệu theo thứ tự, từ cây C. HO TIEU PHU QUOC.91.911.31090.25.22 đến C. HO TIEU PHU QUOC.91.911.31090.25.117. Cây tiêu đầu dòng có đầy đủ các đặc điểm đặc trưng của giống tiêu Phú Quốc, có năng suất cá thể bình quân qua 3 niên vụ đạt 2,50 - 2,93 kg/trụ, dung trọng đạt 550 - 602 g/L, tỷ lệ tươi/khô đạt 2,5 - 2,8 tại ẩm độ 13%. Hạt tiêu đen có vị thơm cay điểm 2 theo cảm quan và có khả năng chống chịu sâu, bệnh hại khá tốt.
-
NGHIÊN CỨU ẢNH HƯỞNG CỦA TRỒNG THẢO QUẢ (Amomum aromaticum Roxb.) VÀ SA NHÂN TÍM (Amomum longiligulare T.L.Wu) DƯỚI TÁN RỪNG TỰ NHIÊN ĐẾN CẤU TRÚC THẢM THỰC VẬT Ở MIỀN NÚI PHÍA BẮC
Abstract : 0 PDF: 0Nghiên cứu này nhằm đánh giá ảnh hưởng của hoạt động trồng Thảo quả (Amomum aromaticum Roxb.) và Sa nhân tím (Amomum longiligulare T.L.Wu) dưới tán rừng tự nhiên đến cấu trúc thảm thực vật rừng ở khu vực miền núi phía Bắc Việt Nam. Nghiên cứu được thực hiện trong năm 2024 và 2025 tại 9 mô hình thuộc các tỉnh Tuyên Quang, Lào Cai, Lạng Sơn và Lai Châu, với tổng số 36 ô tiêu chuẩn (18 ô khu vực trồng và 18 ô khu vực không trồng dược liệu), diện tích mỗi ô 500 m². Các chỉ tiêu phân tích gồm: Mật độ và trữ lượng tầng cây gỗ, số loài và mật độ cây tái sinh và độ che phủ tầng cây bụi, thảm tươi. Sự khác biệt giữa khu vực trồng và không trồng dược liệu được đánh giá bằng kiểm định Mann-Whitney U. Kết quả cho thấy, mật độ cây gỗ tại khu vực trồng dược liệu giảm có ý nghĩa thống kê so với khu vực không trồng dược liệu (giảm 33 - 35%; p < 0,05). Mật độ cây tái sinh giảm mạnh từ 1.013 - 1.187 cây/ha xuống còn 260 - 333 cây/ha (giảm 67 - 78%; p < 0,01). Độ che phủ tầng cây bụi và thảm tươi giảm từ khoảng 80% xuống dưới 20% (p < 0,05). Kết quả nghiên cứu cho thấy, hoạt động xử lý thực bì và chăm sóc định kỳ là nguyên nhân chính làm suy giảm cấu trúc và khả năng tái sinh của rừng. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất kiểm soát cường độ canh tác và bảo vệ tầng cây tái sinh nhằm phát triển dược liệu dưới tán rừng theo hướng bền vững.
-
KHẢO SÁT TÌNH TRẠNG GÃY XƯƠNG TRÊN CHÓ TẠI BỆNH VIỆN THÚ Y HOPE PET, XÃ TÂN NHỰT, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Abstract : 0 PDF: 0Nghiên cứu được thực hiện từ tháng 12/2025 đến 3/2026 trên 1.700 chó đến khám theo phương pháp mô tả cắt ngang hồi cứu nhằm khảo sát tình trạng gãy xương trên chó thông qua chẩn đoán hình ảnh X-quang tại Bệnh viện Thú y Hope Pet xã Tân Nhựt, Thành phố Hồ Chí Minh, nhằm xác định vị trí và hình thái gãy xương, đồng thời phân tích các yếu tố nguy cơ và đánh giá hiệu quả điều trị. Kết quả cho thấy, tỷ lệ gãy xương là 5,29% trên tổng số chó khảo sát. Trong đó, tỷ lệ vị trí gãy xương chi sau 52,22%, xương chi trước 27,78%, xương chậu chiếm 14,44% và xương sườn thấp nhất với 5,56%. Phân loại hình thái gãy xương ngang chiếm tỷ lệ cao nhất là 28,89% và gãy xương kín chiếm tỷ lệ 64,44%, cao hơn gãy xương hở 35,56%. Chó nuôi thả, nguyên nhân (tai nạn giao thông, đánh nhau/bị cắn) và chó dưới 18 tháng tuổi có nguy cơ cao hơn hẳn so với các nhóm khác, trong khi giới tính và giống không có khác biệt. Về điều trị, phương pháp phẫu thuật cố định xương có liên quan đến kết quả liền xương và phục hồi chức năng tốt hơn so với bó bột, thể hiện qua tỷ lệ liền xương hoàn toàn cao hơn và khả năng phục hồi chức năng tốt hơn.
-
ĐÁNH GIÁ SỰ THAY ĐỔI TÍNH CHẤT HÓA LÝ CỦA SỮA CHUA TỪ ĐẬU NÀNH VÀ ĐẬU XANH NẢY MẦM
Abstract : 0 PDF: 0Sữa chua thực vật là một trong những sản phẩm giúp bổ sung chất dinh dưỡng đối với người dị ứng với sữa chua động vật. Mục tiêu của nghiên cứu là xác định một số thông số phù hợp cho quy trình sản xuất sữa chua từ đậu nảy mầm. Nghiên cứu tiến hành khảo sát ảnh hưởng của tỉ lệ phối chế dịch sữa đậu nành và đậu xanh với các tỉ lệ 1: 0; 7: 3; 6: 4; 5: 5; 4: 6; 3: 7; 0: 1. Đồng thời, khảo sát điều kiện ủ lên men gồm nhiệt độ (35, 40, 45oC) kết hợp thời gian (5, 7, 9, 11 giờ) với các chỉ tiêu hóa lý như độ nhớt, pH, nồng độ chất khô hòa tan, hàm lượng axit lactic, protein và chất lượng cảm quan. Kết quả nghiên cứu cho thấy, tỉ lệ phối chế dịch sữa đậu nành và đậu xanh (6: 4), nhiệt độ ủ 40oC với 7 giờ sẽ cho sữa chua từ đậu nảy mầm đạt chất lượng hóa lý và cảm quan cao.
-
ĐẾN CHẤT LƯỢNG SẢN PHẨM MỨT ĐÔNG TRÁI GIÁC
Abstract : 0 PDF: 0Chất lượng mứt đông phụ thuộc vào nhiều yếu tố như công thức và quy trình chế biến, thiết bị chế biến và điều kiện bảo quản sản phẩm. Bên cạnh đó, đối với nguyên liệu bao gồm: Giống, mức độ chín của trái, phương pháp xử lý, bảo quản trái nguyên liệu đều có ảnh hưởng quan trọng đến chất lượng sản phẩm. Nghiên cứu này nhằm khảo sát tác động của nguyên liệu gồm: Độ chín, phương pháp thu dịch trái, nhiệt độ bảo quản trái đến chất lượng mứt đông trái giác. Sử dụng nguyên liệu chín hoàn toàn, phương pháp nghiền trái để thu dịch quả tạo ra mứt đông có cấu trúc thích hợp, màu tím và mùi thơm đặc trưng cho sản phẩm. Thêm vào đó, trữ đông trái giác ở -18 ± 2oC sau 02 ngày cho thấy sản phẩm chứa hàm lượng anthocyanin cao đạt 90,53 mg/100 g và hoạt tính kháng oxy tốt với khả năng bắt gốc tự do DPPH lên đến 69,97% so với trái giác bảo quản ở nhiệt độ thường (25 - 30oC) và ở nhiệt độ lạnh (4 - 10oC). Đồng thời, trái giác được bảo quản ở nhiệt độ trữ đông là nguyên liệu đầu vào tạo ra mứt đông với màu sắc đặc trưng, giá trị cảm quan phù hợp, đáp ứng yêu cầu theo TCVN. Kết quả nghiên cứu này cung cấp một sự lựa chọn thích hợp trong chuẩn bị nguyên liệu mang lại hiệu quả cho quy trình chế biến mứt đông, nâng cao giá trị chất lượng cho sản phẩm.
-
NGHIÊN CỨU XÁC ĐỊNH CHỈ TIÊU CHẤT LƯỢNG CỦA MỘT SỐ GIỐNG KHOAI LANG CỦA TỈNH QUẢNG TRỊ
Abstract : 0 PDF: 0Khoai lang là cây trồng có giá trị dinh dưỡng cao, được trồng phổ biến tại Việt Nam, trong đó có tỉnh Quảng Trị, củ khoai lang chủ yếu được tiêu thụ tươi và được sử dụng trong chế biến thực phẩm (bánh, kẹo, sản phẩm sấy...). Mục đích của nghiên cứu này là xác định chỉ tiêu chất lượng của một số giống khoai lang ở tỉnh Quảng Trị, nhằm làm cơ sở cho việc lựa chọn nguyên liệu phù hợp cho chế biến thực phẩm. Nghiên cứu tiến hành phân tích các chỉ tiêu chất lượng trên hai giống khoai lang được trồng ở tỉnh Quảng Trị gồm giống khoai lang vỏ tím và vỏ nâu đỏ. Giống khoai lang vỏ tím có khối lượng 124,62 ± 2,17 g/củ, protein tổng số 3,74 ± 0,32 g/100 g, đường tổng số 5,44 ± 0,83 g/100 g, anthocyanin 25 ± 0,76 mg/kg, vitamin C 23,67 ± 0,72 mg/kg. Khi luộc, hấp và nướng chín thì có cấu trúc bở và tơi xốp, vì thích hợp với chế biến các sản phẩm bột dinh dưỡng khoai lang, bánh phồng tôm khoai lang, mì sợi khoai lang, bánh khoai lang, kẹo khoai lang và các sản phẩm thực phẩm có cấu trúc tơi, xốp và dòn. Giống khoai lang vỏ nâu đỏ có khối lượng trung bình 180,51 ± 2,53 g/củ, protein tổng số 3,63 ± 0,45 g/100 g, đường tổng số 4,82 ± 0,76 g/100 g, anthocyanin 20,6 ± 0,32 mg/kg, vitamin C 30,12 ± 1,04 mg/kg. Khi luộc, hấp và nướng chín thì có cấu trúc mềm mại, vì vậy phù hợp cho chế biến sản phẩm khoai lang sấy dẻo và các sản phẩm thực phẩm khác từ củ khoai lang cần cấu trúc mềm mại.
-
TIỀM NĂNG CHỌN GIỐNG HỆ GEN MỘT SỐ TÍNH TRẠNG SINH TRƯỞNG TRÊN CÁ CHIM VÂY VÀNG VÂY NGẮN (Trachinotus anak)
Abstract : 0 PDF: 0Cá chim vây vàng vây ngắn (T. anak) là đối tượng nuôi hải sản mới nổi ở châu Á, tuy nhiên các nguồn dữ liệu hệ gen phục vụ cho công tác chọn giống vẫn còn hạn chế. Nghiên cứu này đánh giá tiềm năng của phương pháp chọn giống hệ gen đối với các tính trạng liên quan đến tăng trưởng ở cá chim vây vàng vây ngắn bằng cách sử dụng các chỉ thị đa hình nucleotide đơn (SNP). Nghiên cứu được thực hiện trên 300 cá chim vây vàng vây ngắn bằng việc thu thập các số liệu kiểu hình gồm chiều dài tổng thể, chiều dài thân và chiều dài đầu. Mẫu vây cá được thu thập cho từng cá thể, liên kết với dữ liệu kiểu hình, sau đó tách chiết ADN và giải trình tự gen. 11.356 chỉ thị SNP được sử dụng để ước tính các thông số di truyền bằng phương pháp dự đoán tuyến tính hệ gen (GBLUP). Kết quả phân tích kiểu hình cho thấy, giá trị biến thiên giữa các cá thể từ 7,93 - 11,28%. Hệ số di truyền hệ gen cho các tính trạng nghiên cứu có giá trị tương đối cao (0,60 - 0,70). Tương quan di truyền tích cực và cao giữa các tính trạng sinh trưởng (0,85 - 0,92), cho thấy các đặc điểm hình thái này có mối liên hệ di truyền chặt chẽ và có thể được kiểm soát bởi các vùng hệ gen chung. Kết quả này chỉ ra rằng, việc chọn lọc một tính trạng tăng trưởng có thể dẫn đến sự cải thiện đồng thời ở các tính trạng liên quan khác. Nhìn chung, nghiên cứu này cho thấy, thông tin hệ gen thu được từ các chỉ thị SNPs cung cấp những hiểu biết quan trọng về cấu trúc di truyền của các tính trạng tăng trưởng ở cá chim vây vàng vây ngắn, đồng thời khẳng định tiềm năng ứng dụng chọn giống hệ gen nhằm thúc đẩy cải thiện di truyền trong các chương trình chọn giống cá chim vây vàng vây ngắn.
-
SO SÁNH SỰ BIỂU HIỆN GEN LIÊN QUAN ĐẾN TÍNH TRẠNG SINH SẢN CỦA TÔM SÚ (Penaeus monodon) BẰNG KỸ THUẬT GIẢI TRÌNH TỰ RNA (RNA-seq) VÀ PCR ĐỊNH LƯỢNG (qPCR)
Abstract : 0 PDF: 0Nghiên cứu này sử dụng kỹ thuật giải trình tự RNA (RNA-seq) và PCR định lượng (qPCR) để khảo sát sự biểu hiện của các gen liên quan đến tính trạng sinh sản ở các mô đích khác nhau của tôm sú cái tự nhiên và gia hóa. Mục tiêu của nghiên cứu là so sánh sự tương đồng trong phân tích sự biểu hiện gen bằng 2 kỹ thuật khác nhau. Đối với mô gan tụy, 6 trong số 10 gen khảo sát có sự biểu hiện tương đồng giữa 2 kỹ thuật sử dụng. Tuy nhiên, gen cytochrome P450 2L1-like có biểu hiện giảm khi phân tích bằng kỹ thuật RNA-seq và biểu hiện tăng khi phân tích bằng qPCR. Đối với mô buồng trứng, gen anti-lipopolysaccharide factor-like và gen NADH dehydrogenase subunit 1 có biểu hiện tương đồng khi phân tích bằng cả 2 phương pháp. Các gen biểu hiện ở mô gan tụy cũng được khảo sát ở mô buồng trứng. Các gen này không có biểu hiện hoặc biểu hiện không có ý nghĩa thống kê khi phân tích bằng kỹ thuật RNA-seq hoặc qPCR. Nghiên cứu cũng thảo luận các công cụ tin sinh học ảnh hưởng đến mức độ chính xác trong định lượng và những vấn đề có thể làm sai khác kết quả giữa các kỹ thuật sử dụng để phân tích sự biểu hiện gen.
-
PHÂN BỐ KHÔNG GIAN THÀNH PHẦN LOÀI CÂY NGẬP MẶN TẠI VƯỜN QUỐC GIA XUÂN THUỶ (TỈNH NINH BÌNH) DỰA TRÊN HỌC MÁY VÀ DỮ LIỆU ẢNH VIỄN THÁM ĐA CẢM BIẾN
Abstract : 0 PDF: 0Rừng ngập mặn (RNM) đóng vai trò quan trọng trong cải thiện chất lượng nước biển ven bờ, điều hòa khí hậu khu vực ven biển, giảm thiểu tác động của biến đổi khí hậu và bảo vệ bờ biển trước sóng, gió; đồng thời cung cấp các dịch vụ thiết yếu cho hệ sinh thái tự nhiên và cộng đồng dân cư ven biển. Việc phân loại thành phần loài cây ngập mặn (bao gồm đơn loài và tổ hợp loài) hỗ trợ đánh giá phân bố không gian và các đặc trưng sinh thái của RNM, qua đó phục vụ công tác giám sát và bảo tồn đa dạng sinh học. Trong nghiên cứu này, mười hai loài cây ngập mặn chủ yếu được xác định dựa trên 121 điểm khảo sát thực địa. Năm thuật toán học máy phổ biến, gồm: Support Vector Machine (SVM), Extreme Gradient Boosting (XGBoost), Categorical Boosting (CatBoost), Multi-layer Perceptron (MLP) và Maximum Likelihood Classifier (MLC), được áp dụng kết hợp với dữ liệu viễn thám đa cảm biến, bao gồm ảnh quang học Sentinel-2 và dữ liệu radar Sentinel-1. Mục tiêu của nghiên cứu là mô phỏng phân bố không gian và ước tính diện tích của từng loài cây ngập mặn trong toàn bộ khu vực Vườn Quốc gia Xuân Thủy, tỉnh Ninh Bình (tỉnh Nam Định cũ) - khu Ramsar đầu tiên của khu vực Đông Nam Á và là vùng lõi của Khu Dự trữ Sinh quyển Thế giới châu thổ sông Hồng. Kết quả cho thấy, ba loài gồm: Trang (Kandelia obovata), Trang - Sú (K. obovata - A. corniculatum) và Trang - Đước vòi (K. obovata - R. stylosa) chiếm đa số, với tổng diện tích gần 83%. Trong các đơn loài, Trang chiếm ưu thế rõ rệt, tiếp theo là Sú, Đước vòi, Bần chua/Bần không cánh (Sonneratia caseolaris/Sonneratia apetala) và Mấm biển (Avicennia marina). Trong số các mô hình được đánh giá, CatBoost đạt độ chính xác cao nhất với OA (độ chính xác tổng thể) = 0,95, tiếp theo là MLP (0,94), XGBoost (0,94), SVM (0,82) và MLC (0,50).
-
PHÂN TÍCH KHOẢNG TRỐNG THỤ HƯỞNG TRONG XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI CẤP THÔN, BẢN: ỨNG DỤNG LÝ THUYẾT HẠNH PHÚC VÀ TIẾP CẬN PHÚC LỢI CHỦ QUAN
Abstract : 0 PDF: 0Nghiên cứu này phân tích các khoảng trống thụ hưởng trong xây dựng nông thôn mới ở cấp thôn, bản từ góc nhìn phúc lợi chủ quan và hạnh phúc của người dân, nhằm bổ sung cho cách tiếp cận truyền thống dựa trên hệ thống tiêu chí định lượng. Trên cơ sở lý thuyết phúc lợi chủ quan, nghiên cứu sử dụng mô hình đo lường hạnh phúc được nội địa hóa cho bối cảnh Việt Nam với ba nhóm chỉ báo: (i) điều kiện kinh tế - vật chất, (ii) quan hệ gia đình - xã hội, và (iii) đời sống cá nhân. Dữ liệu được thu thập từ 405 hộ gia đình trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên. Phương pháp phân tích Quan trọng - Hài lòng được áp dụng nhằm nhận diện các yếu tố được người dân coi trọng nhất và các “khoảng trống thụ hưởng” trong quá trình xây dựng nông thôn mới. Kết quả cho thấy các khoảng trống lớn tập trung vào nhóm kinh tế - vật chất (công việc, nhà ở, hạ tầng) và nhóm đời sống cá nhân (sức khỏe, năng lực, thời gian), trong khi các yếu tố gia đình - xã hội nhìn chung được đánh giá ổn định và hài lòng cao. Nghiên cứu hàm ý rằng, xây dựng nông thôn mới cấp thôn, bản cần các giải pháp thiết thực nhằm nâng cao chất lượng sống trực tiếp cho người dân, lấy sự hài lòng và hạnh phúc của người dân làm thước đo then chốt cho sự phát triển thực chất và bền vững.








