Bài chờ đăng

  • Ảnh hưởng của tinh chất sâm Ngọc Linh (Panax vietnamensis) đến đặc tính cấu trúc và hoạt tính sinh học của sữa chua đậu nành lên men bởi Levilactobacillus brevis

    Quốc Duy Nguyễn, Thị Quỳnh Mi Lý, Thị Vân Linh Nguyễn, Quốc Trung Huỳnh , Anh Duy Đỗ

    Nghiên cứu này đánh giá ảnh hưởng của tinh chất sâm Ngọc Linh (Panax vietnamensis Ha et Grushv.) đến quá trình lên men và chất lượng sữa chua đậu nành sử dụng chủng Levilactobacillus brevis QD-1. Kết quả cho thấy tinh chất sâm được bổ sung ở nồng độ 0,5–1,0% tăng tốc quá trình acid hóa và tăng cường sinh tổng hợp exopolysaccharide (EPS), qua đó cải thiện đáng kể độ cứng, khả năng giữ nước và làm giảm hiện tượng tách nước của sữa chua. Đặc biệt, bổ sung 1% tinh chất sâm Ngọc Linh, hoạt tính β-glucosidase của L. brevis QD-1 được duy trì ở mức tối ưu, góp phần gia tăng hàm lượng phenolic tổng (từ 9,71 lên 16,80 mg GAE/100 g) và nâng cao khả năng khử gốc tự do ABTS (tăng 1,65 lần) và năng lực khử sắt FRAP (tăng 1,54 lần) so với trước lên men. Ngược lại, khi nồng độ tinh chất sâm tăng lên 2,0%, hoạt tính β-glucosidase bị ức chế rõ rệt, dẫn đến sự suy giảm quá trình sinh acid, tổng hợp EPS và hiệu quả chuyển hóa các hợp chất sinh học. Những kết quả này cho thấy tinh chất sâm Ngọc Linh có thể được bổ sung vào sữa chua đậu nành nhằm cải thiện đặc tính cấu trúc và hoạt tính sinh học của sản phẩm, đồng thời mở ra tiềm năng khai thác dược liệu đặc hữu Việt Nam trong phát triển các sản phẩm thực phẩm thuần chay hướng đến lợi ích sức khỏe.

  • NGHIÊN CỨU LIỀU LƯỢNG PHÂN BÓN PHÙ HỢP CHO SẢN XUẤT NGÔ SINH KHỐI PHỤC VỤ CHĂN NUÔI ĐẠI GIA SÚC TẠI CÁC TỈNH PHÍA BẮC

    Ngọc Đỗ Văn, Dân Phạm Văn, Hà Nguyễn Việt, Khuyên Vũ Thị, Bằng Nguyễn Văn, Trang Đỗ Thị Thu

    Trồng ngô sinh khối là một trong những giải pháp khả thi để giải quyết vấn đề thức ăn xanh cho gia súc. Thí nghiệm nghiên cứu liều lượng phân đạm phù hợp cho sản xuất ngô sinh khối phục vụ chăn nuôi đại gia súc được tiến hành trên giống ngô NK7328, trong vụ Thu Đông 2024 (Sơn La và Cao Bằng) và vụ Đông 2024 (Vĩnh Phúc và Nghệ An). Kết quả cho thấy giống ngô NK7328 đạt năng suất sinh khối cao nhất ở mức bón đạm là 170 kg N (NSSK trung bình tại 4 tỉnh là 57,06 tấn/ha), cao hơn có ý nghĩa so với hai mức bón 140 kg N và 150 kg N tại cả bốn tỉnh ở độ tin cậy 95%. Kết quả phân tích cho thấy hàm lượng Nitrat trung bình của cả 4 tỉnh có trong thân cây của giống ngô NK7328 ở các công thức phân bón tăng dần khi mức đạm bón tăng dần từ mức 140 kg N (404,93 mg/kg) đến mức 180 kg N (453,88 mg/kg). Qua so sánh với những nghiên cứu trước thì tất cả các mức đạm bón đều vẫn ở mức an toàn khi dùng làm thức ăn thô xanh cho gia súc, ngay cả khi được sử dụng làm thức ăn duy nhất.

  • NGHIÊN CỨU ĐẶC ĐIỂM LÂM HỌC CỦA KHÔI TÍA (Ardisia sylvestris Pitard) TẠI VƯỜN QUỐC GIA CÚC PHƯƠNG

    Nhung Hoàng, thanhnamcp, thuhoaikhcn, phambigsam

    Khôi tía (Ardisia sylvestris Pitard) thuộc họ Đơn nem (Myrsinaceae), là loài thực vật bản địa phân bố tại các khu rừng ẩm nhiệt đới của Việt Nam. Khôi tía là cây bụi, ưa ẩm, ưa bóng, phân bố chủ yếu dưới tán rừng thường xanh nhiệt đới ẩm, ở độ cao 100–800 m so với mực nước biển. Đây là loài có giá trị cao, được sử dụng phổ biến trong y học cổ truyền để điều trị các bệnh lý về dạ dày, viêm loét và hỗ trợ tiêu hóa. Theo nhiều nghiên cứu, các bộ phận của Khôi tía đặc biệt là lá chứa các hợp chất sinh học như flavonoid, tanin và saponin, có tác dụng chống viêm và chống oxy hóa mạnh. Tại Vườn quốc gia Cúc Phương tỉnh Ninh Bình, kiểu đất có cây Khôi tía phân bố chủ yếu là màu đỏ vàng và màu nâu đen, tầng đất mặt rất tơi xốp, độ chua từ chua ít đến rất chua, pH H20 dao động từ 4,38 đến 5,27, pH KCl từ 3,31 đến 3,90. Cây Khôi tía mọc rải rác thành nhóm nhỏ 3–7 cây hoặc cá biệt, với mật độ trung bình tại các ô tiêu chuẩn dao động từ 120–320 cây/ha. Tái sinh chủ yếu bằng hạt nhưng phân bố cây con không đều và tập trung ở khu vực có độ che phủ tầng tán cao (>0,75). Mật độ cây tái sinh trung bình đạt khoảng 250 cây/ha, song tỷ lệ cây con phát triển thành cây trưởng thành còn thấp do cạnh tranh ánh sáng và sự khan hiếm điều kiện vi sinh cảnh phù hợp. Các kết quả cho thấy Khôi tía là loài có phạm vi sinh thái hẹp, dễ bị tổn thương trước tác động của con người và biến động sinh thái. Giá trị dược liệu cao nhưng sinh trưởng chậm, tái sinh hạn chế, do đó cần xây dựng chiến lược bảo tồn tại chỗ kết hợp nhân giống ngoài tự nhiên nhằm bảo vệ và phát triển nguồn tài nguyên thực vật quý này một cách bền vững. 

      

  • Kỹ thuật trồng lúa nước giống ST25 ở Hải Trung, Hải Hậu, Nam Định

    Văn A Nguyễn, Trần Văn B

    Hải Hậu, Nam Định là vùng đất có truyền thống canh tác lúa lâu đời với hệ thống thủy lợi hoàn chỉnh, tạo điều kiện thuận lợi cho việc trồng lúa nước. Khi đưa giống lúa ST25 vào sản xuất, bà con nơi đây đã áp dụng các kỹ thuật tiên tiến nhằm đảm bảo năng suất và chất lượng cao nhất.