Bài chờ đăng
-
PHÂN LẬP VÀ TUYỂN CHỌN MỘT SỐ CHỦNG NẤM SỢI CÓ KHẢ NĂNG ĐỐI KHÁNG SÂU TƠ (Plutella xylostella) HẠI RAU MÀU TẠI HUYỆN CHÂU THÀNH, TỈNH KIÊN GIANG
Nấm sợi có khả năng tổng hợp enzyme chitinase để tiêu diệt sâu tơ (Plutella xylostella) bằng cách phá hủy lớp vỏ chitin và cũng có thể sử dụng nấm sợi như một tác nhân sinh học an toàn thay thế cho thuốc trừ sâu hóa học. Nghiên cứu nhằm xác định và khảo sát khả năng gây bệnh các dòng nấm sợi có khả năng đối kháng sâu tơ phân lập tại huyện Châu Thành, tỉnh Kiên Giang. Các thí nghiệm khảo sát khả năng tổng hợp enzyme chitinase và khả năng đối kháng sâu tơ của các dòng nấm sợi phân lập được bố trí trong điều kiện phòng thí nghiệm theo thể thức hoàn toàn ngẫu nhiên với 3 lần lặp lại. Định danh nấm sợi dựa vào đặc điểm hình thái và phương pháp sinh học phân tử là giải trình tự gen. Trong số các mẫu sâu tơ thu thập ngoài đồng ruộng chọn được 6 mẫu sâu tơ có nhiễm nấm sợi và phân lập được 5 chủng nấm sợi có đặc điểm hình thái khác nhau. Kết quả nghiên cứu xác định được khả năng phân giải chitin của 5 chủng nấm sợi được phân lập. Trong đó, hai chủng nấm sợi L1.3 và L2.1 có hiệu lực cao nhất với vòng phân giải chitin lần lượt là 32,0 mm và 32,3 mm và khác biệt có ý nghĩa thống kê so với các chủng còn lại. Đồng thời, đã định danh được chủng nấm L1.3 thuộc loài Aspergillus sydowii và L2.1 thuộc loài Aspergillus protuberus. Đánh giá được hiệu lực diệt sâu tơ của 2 chủng nấm sợi ở thời điểm 5 ngày sau xử lý đều đạt hiệu quả cao, trong đó cao nhất là chủng nấm Aspergillus protuberus L2.1 đạt 96,6%.
-
ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ SỬ DỤNG PHÂN HỮU CƠ TỪ XỬ LÝ PHÂN GÀ ĐẾN SINH TRƯỞNG, NĂNG SUẤT, CHẤT LƯỢNG CỦA CÂY NGHỆ VÀ CÀ CHUA TẠI KHOÁI CHÂU, HƯNG YÊN
Nghiên cứu đánh giá hiệu quả sử dụng phân hữu cơ từ xử lý phân gà đến sinh trưởng, năng suất và chất lượng của cây nghệ và cà chua tại Khoái Châu, Hưng Yên. Thí nghiệm được tiến hành trên đồng ruộng, gồm 3 công thức, lặp lại 3 lần, bố trí theo khối ngẫu nhiên đối với mỗi loại cây. Đối với cây nghệ, kết quả cho thấy công thức sử dụng phân hữu cơ từ xử lý phân gà có năng suất 39,5 tấn/ha, tăng 10% so với công thức đối chứng chỉ bón phân vô cơ (36 tấn/ha). Hàm lượng một số chỉ tiêu chất lượng củ nghệ có xu hướng tăng khi sử dụng phân hữu cơ từ phân gà. Khi bón phân gà qua xử lý, hàm lượng curcumin trong củ nghệ đạt 3,02%, hàm lượng vitamin C đạt 10,71 mg/100 g, tăng 16,7% và 36% tương ứng so với đối chứng. Đối với cà chua, trên cùng một nền bón phân vô cơ, bón phân hữu cơ xử lý từ phân gà giúp cây cà chua đạt số quả trung bình là 24,5 quả/cây, năng suất cá thể đạt 1,8 kg quả/cây, năng suất thực thu 44,2 tấn/ha. Các chỉ số về số quả/cây và năng suất cá thể đối với cây cà chua có sự khác biệt giữa công thức bón phân hữu cơ từ phân gà qua xử lý và bón phân hữu cơ từ phân gà nhập từ Nhật Bản. Tuy nhiên, năng suất thực thu chỉ có sự khác biệt giữa bón phân hữu cơ và phân vô cơ đối chứng. Đánh giá hiệu quả kinh tế cho thấy, bón bổ sung phân hữu cơ từ xử lý phân gà đối với cây nghệ và cà chua đều cho hiệu quả kinh tế cao hơn so với chỉ bón phân vô cơ. Vì vậy, sử dụng phân hữu cơ sản xuất từ phân gà cần được phổ biến rộng rãi cho bà con nông dân, không những cải thiện chất lượng đất, nâng cao chất lượng nông sản mà còn mang lại hiệu quả kinh tế cao.
-
ẢNH HƯỞNG CỦA MẬT ĐỘ VÀ PHÂN BÓN ĐẾN SINH TRƯỞNG, PHÁT TRIỂN VÀ NĂNG SUẤT CÂY ĐẬU PHỘNG (Arachis hypogae L.) TẠI TRÀ VINH
Thí nghiệm được thực hiện tại huyện Trà Cú, tỉnh Trà Vinh từ tháng 5 đến tháng 10 năm 2021 để xác định ảnh hưởng của khoảng cách hàng và lượng phân bón N, P, K đối với sự tăng trưởng và năng suất hạt của 2 giống đậu phộng trong điều kiện vụ hè thu năm 2021. Thử nghiệm gồm 3 yếu tố: giống, khoảng cách hàng, lượng phân bón được thiết kế theo khối đầy đủ ngẫu nhiên với 3 lần lập lại. Các yếu tố được nghiên cứu bao gồm: (A) giống [(A1) giống MD7 và (A2) giống L14]; (B) khoảng cách hàng [(B1) 20 cm x 20 cm, (B2) 15 cm x 20 cm, (B3) 15 cm x 15 cm, (B4) 10 cm x 20 cm, (B5) mật độ trồng theo nông dân 10 cm x 10 cm]; (C) tỷ lệ phân bón [(C1) 100% N, P, K, Ca, Mg (tổng 35 - 60 - 60 + 150 Ca + 40 Mg - kg/ha), (C2) 75% tổng N, P, K, Ca, Mg, (C3) 50% tổng N, P, K, Ca, Mg và (C4) phân bón của nông dân (tổng N, P, K, Ca là 120 - 60 - 60 + 200 Ca - kg/ha) (đối chứng)]. Kết quả cho thấy, giống MD7 cho số nhánh trên cây, khối lượng 100 hạt và năng suất cao hơn so với giống L14. Khoảng cách 15 cm x 20 cm và 15 cm x 15 cm cho năng suất trái (hạt còn vỏ) và năng suất hạt (nhân) tương đương nhau. Hiệu ứng tương tác giữa giống x khoảng cách và giống x khoảng cách x phân bón là đáng kể với các tính trạng về chiều cao cây, số lượng lá trên cây, năng suất trái (hạt còn vỏ), năng suất hạt (nhân) và số nốt sần trên cây. Khuyến cáo nông dân sử dụng giống MD7 trồng với khoảng cách 15 cm x 20 cm và 15 cm x 15 cm, bón phân mức C1, C2 (100% và 75% mức bón N, P, K, Ca, Mg (35 - 60 - 60 + 150 Ca + 40 Mg - kg/ha) để nâng cao khả năng sinh trưởng, tăng năng suất và chất lượng đậu phộng.
-
KHẢO SÁT CÁC YẾU TỐ LIÊN QUAN ĐẾN HIỆN TƯỢNG KHÔ ĐẦU MÚI TRÁI QUÝT HỒNG (Citrus reticulata Blanco) TẠI HUYỆN LAI VUNG, TỈNH ĐỒNG THÁP
Quýt Hồng (Citrus reticulata Blanco) là một trong những loại trái cây đặc sản có giá trị kinh tế của tỉnh Đồng Tháp. Các yếu tố môi trường sống và thời gian sinh trưởng có tác động rất lớn lên năng suất và phẩm chất của các loại cây ăn trái. Hiện tượng khô đầu múi trái quýt Hồng làm giảm giá trị thương phẩm và gây thiệt hại kinh tế cho các nhà vườn. Nghiên cứu khảo sát các yếu tố liên quan đến hiện tượng khô đầu múi trên trái quýt Hồng được thực hiện bằng phương pháp khảo sát và phỏng vấn trực tiếp 60 hộ trồng quýt Hồng có diện tích vườn trên 1.000 m2 từ tháng 2/2019 đến tháng 01/2020 tại huyện Lai Vung của tỉnh Đồng Tháp. Hiện tượng khô đầu múi trên quýt Hồng được kể đến là khô đầu múi của trái và trái bị chai. Kết quả khảo sát cho thấy, các yếu tố bón phân không cân đối, mật độ cây trồng và tuổi của cây là các nguyên nhân chính gây ra hiện tượng khô đâu múi của trái quýt Hồng. Ngoài ra yếu tố nước tưới, đất trồng và thời tiết cũng có tác động đáng kể đến hiện tượng này
-
ẢNH HƯỞNG CỦA GIÁ THỂ ĐẾN SINH TRƯỞNG VÀ RA HOA CỦA CÂY CÚC BÁCH NHẬT (Gomphrena globosa L.)
Nghiên cứu được thực hiện từ tháng 12/2018 đến tháng 3/2019 tại nhà lưới Khoa Nông nghiệp, Trường Đại học Cần Thơ nhằm xác định giá thể thích hợp cho sự sinh trưởng và ra hoa của cây cúc Bách Nhật trồng chậu. Nghiên cứu được bố trí theo thể thức hoàn toàn ngẫu nhiên, gồm 5 nghiệm thức. Mỗi nghiệm thức có 10 lần lặp lại, mỗi lần lặp lại tương ứng với 1 chậu và mỗi chậu trồng một cây. Trong đó, các nghiệm thức bao gồm mụn xơ dừa, mụn xơ dừa: trấu tươi (4: 1), mụn xơ dừa: trấu tươi (3: 2), mụn xơ dừa: trấu tươi (2: 3), mụn xơ dừa: trấu tươi (1: 4). Tất cả các nghiệm thức đều có cùng chế độ chăm sóc. Kết quả cho thấy, giá thể mụn xơ dừa thích hợp cho sự sinh trưởng và ra hoa của cây cúc Bách Nhật. Cây có chiều cao (33,5 cm), đường kính thân (5,8 mm), đường kính tán (19,5 cm), tổng số hoa (19,4 hoa/cây), chiều cao hoa (2,1 cm), đường kính hoa (2,08 cm), đường kính cuống hoa (2,1 mm), ngày hoa nở hoàn toàn sau khi trồng (49,1 ngày), hàm lượng chlorophyll lá (267,4 mg/m2).
-
ĐÁNH GIÁ KHẢ NĂNG KẾT HỢP VÀ NĂNG SUẤT CỦA CÁC DÒNG NGÔ NẾP THUẦN
Đánh giá khả năng kết hợp và năng suất của 22 dòng ngô nếp thuần (S5) trong 3 vụ tại Hà Nội và Quảng Ngãi. Kết quả đã xác định được 11 dòng ngô nếp thuần có khả năng kết hợp chung cao và giá trị khả năng kết hợp riêng cao gồm: N2, N12, N14, N15, N22, N23, N26, N27, N31, N51, N52 và 5 tổ hợp lai tốt, năng suất bắp tươi vượt giống HN88 từ 0,3% - 0,9% và vượt giống MX6 39,7% - 40,7% gồm: N22 x N7B, N22 x D666, N02 x D666, N15 x D666, N23 x N7B.
-
Ảnh hưởng của tinh chất sâm Ngọc Linh (Panax vietnamensis) đến đặc tính cấu trúc và hoạt tính sinh học của sữa chua đậu nành lên men bởi Levilactobacillus brevis
Nghiên cứu này đánh giá ảnh hưởng của tinh chất sâm Ngọc Linh (Panax vietnamensis Ha et Grushv.) đến quá trình lên men và chất lượng sữa chua đậu nành sử dụng chủng Levilactobacillus brevis QD-1. Kết quả cho thấy tinh chất sâm được bổ sung ở nồng độ 0,5–1,0% tăng tốc quá trình acid hóa và tăng cường sinh tổng hợp exopolysaccharide (EPS), qua đó cải thiện đáng kể độ cứng, khả năng giữ nước và làm giảm hiện tượng tách nước của sữa chua. Đặc biệt, bổ sung 1% tinh chất sâm Ngọc Linh, hoạt tính β-glucosidase của L. brevis QD-1 được duy trì ở mức tối ưu, góp phần gia tăng hàm lượng phenolic tổng (từ 9,71 lên 16,80 mg GAE/100 g) và nâng cao khả năng khử gốc tự do ABTS (tăng 1,65 lần) và năng lực khử sắt FRAP (tăng 1,54 lần) so với trước lên men. Ngược lại, khi nồng độ tinh chất sâm tăng lên 2,0%, hoạt tính β-glucosidase bị ức chế rõ rệt, dẫn đến sự suy giảm quá trình sinh acid, tổng hợp EPS và hiệu quả chuyển hóa các hợp chất sinh học. Những kết quả này cho thấy tinh chất sâm Ngọc Linh có thể được bổ sung vào sữa chua đậu nành nhằm cải thiện đặc tính cấu trúc và hoạt tính sinh học của sản phẩm, đồng thời mở ra tiềm năng khai thác dược liệu đặc hữu Việt Nam trong phát triển các sản phẩm thực phẩm thuần chay hướng đến lợi ích sức khỏe.
-
NGHIÊN CỨU LIỀU LƯỢNG PHÂN BÓN PHÙ HỢP CHO SẢN XUẤT NGÔ SINH KHỐI PHỤC VỤ CHĂN NUÔI ĐẠI GIA SÚC TẠI CÁC TỈNH PHÍA BẮC
Trồng ngô sinh khối là một trong những giải pháp khả thi để giải quyết vấn đề thức ăn xanh cho gia súc. Thí nghiệm nghiên cứu liều lượng phân đạm phù hợp cho sản xuất ngô sinh khối phục vụ chăn nuôi đại gia súc được tiến hành trên giống ngô NK7328, trong vụ Thu Đông 2024 (Sơn La và Cao Bằng) và vụ Đông 2024 (Vĩnh Phúc và Nghệ An). Kết quả cho thấy giống ngô NK7328 đạt năng suất sinh khối cao nhất ở mức bón đạm là 170 kg N (NSSK trung bình tại 4 tỉnh là 57,06 tấn/ha), cao hơn có ý nghĩa so với hai mức bón 140 kg N và 150 kg N tại cả bốn tỉnh ở độ tin cậy 95%. Kết quả phân tích cho thấy hàm lượng Nitrat trung bình của cả 4 tỉnh có trong thân cây của giống ngô NK7328 ở các công thức phân bón tăng dần khi mức đạm bón tăng dần từ mức 140 kg N (404,93 mg/kg) đến mức 180 kg N (453,88 mg/kg). Qua so sánh với những nghiên cứu trước thì tất cả các mức đạm bón đều vẫn ở mức an toàn khi dùng làm thức ăn thô xanh cho gia súc, ngay cả khi được sử dụng làm thức ăn duy nhất.
-
NGHIÊN CỨU ĐẶC ĐIỂM LÂM HỌC CỦA KHÔI TÍA (Ardisia sylvestris Pitard) TẠI VƯỜN QUỐC GIA CÚC PHƯƠNG
Khôi tía (Ardisia sylvestris Pitard) thuộc họ Đơn nem (Myrsinaceae), là loài thực vật bản địa phân bố tại các khu rừng ẩm nhiệt đới của Việt Nam. Khôi tía là cây bụi, ưa ẩm, ưa bóng, phân bố chủ yếu dưới tán rừng thường xanh nhiệt đới ẩm, ở độ cao 100–800 m so với mực nước biển. Đây là loài có giá trị cao, được sử dụng phổ biến trong y học cổ truyền để điều trị các bệnh lý về dạ dày, viêm loét và hỗ trợ tiêu hóa. Theo nhiều nghiên cứu, các bộ phận của Khôi tía đặc biệt là lá chứa các hợp chất sinh học như flavonoid, tanin và saponin, có tác dụng chống viêm và chống oxy hóa mạnh. Tại Vườn quốc gia Cúc Phương tỉnh Ninh Bình, kiểu đất có cây Khôi tía phân bố chủ yếu là màu đỏ vàng và màu nâu đen, tầng đất mặt rất tơi xốp, độ chua từ chua ít đến rất chua, pH H20 dao động từ 4,38 đến 5,27, pH KCl từ 3,31 đến 3,90. Cây Khôi tía mọc rải rác thành nhóm nhỏ 3–7 cây hoặc cá biệt, với mật độ trung bình tại các ô tiêu chuẩn dao động từ 120–320 cây/ha. Tái sinh chủ yếu bằng hạt nhưng phân bố cây con không đều và tập trung ở khu vực có độ che phủ tầng tán cao (>0,75). Mật độ cây tái sinh trung bình đạt khoảng 250 cây/ha, song tỷ lệ cây con phát triển thành cây trưởng thành còn thấp do cạnh tranh ánh sáng và sự khan hiếm điều kiện vi sinh cảnh phù hợp. Các kết quả cho thấy Khôi tía là loài có phạm vi sinh thái hẹp, dễ bị tổn thương trước tác động của con người và biến động sinh thái. Giá trị dược liệu cao nhưng sinh trưởng chậm, tái sinh hạn chế, do đó cần xây dựng chiến lược bảo tồn tại chỗ kết hợp nhân giống ngoài tự nhiên nhằm bảo vệ và phát triển nguồn tài nguyên thực vật quý này một cách bền vững.
-
Kỹ thuật trồng lúa nước giống ST25 ở Hải Trung, Hải Hậu, Nam Định
Hải Hậu, Nam Định là vùng đất có truyền thống canh tác lúa lâu đời với hệ thống thủy lợi hoàn chỉnh, tạo điều kiện thuận lợi cho việc trồng lúa nước. Khi đưa giống lúa ST25 vào sản xuất, bà con nơi đây đã áp dụng các kỹ thuật tiên tiến nhằm đảm bảo năng suất và chất lượng cao nhất.








