KẾT QUẢ CHỌN TẠO DÒNG LÚA TRIỂN VỌNG DCG93 CÓ NĂNG SUẤT CAO, PHÔI TO VÀ VỎ LỤA DÀY PHỤC VỤ CHẾ BIẾN DẦU CÁM GẠO Ở VIỆT NAM
DOI:
https://doi.org/10.71254/4c61d663Abstract
Rice bran, a high-value by-product of the rice milling process, consists mainly of the aleurone layer (pericarp and aleurone layer) and the embryo fractions. Rice bran contains about 17-20% edible oil with rich nutritional compounds for human health, thereby it is in high demand in the World. This study was conducted to develope new promising rice lines for bran oil production from backcross between giant embryo line MGE13 (a mutant developed from high yielding variety Mizuhochikara) and a variety with thick aleuron layer LO1050. 12 BC3F4 lines with phenotype similar to Mizuhochika but carrying both genes related to giant embryo ge and thick aleurone layer QTL qAT7 were selected by phenotyping selection together with DNA maker assistance. These lines were evaluated on agronomical traits and rice bran oil, thereafter 3 promising lines (Ja25, Ja35 và Ja36) were selected with favourite characters such as higher grain yield, greater ratio of bran/brown rice, larger embryo area, higher ratio embryo/grain area, thicker aleuron layer than those in both check varieties Mizuhochikara and J02 - a popular japonica variety in Vietnam. After evaluation of ecological adaptation in both spring and autumn seasons in Lao Cai, Hanoi and Nam Dinh, the best promising line Ja35 (named as DCG93) was selected for bran oil production in Northern Vietnam. DCG93 had medium growth duration with 135-140 days and 120-125 days in spring and autumn cropping seasons, respectively, less pest and disease infections, high grain yield of 6.76-7.05 ton ha-1 and 5.57-5.85 ton ha-1 in spring and autumn seasons, respectively, great embryo area of 2.02-2.04 mm2, high embryo area/seed area ratio of 12.2-13.1%, thick aleuron layer of 24.4-24.7 µm, and high lipid content of 24.4-24.7%.
Keywords:
Rice breeding, giant embryo, thick aleuron layer, rice bran oil, promising linesTóm tắt
Cám gạo, sản phẩm phụ trong quá trình xay xát thóc gạo bao gồm lớp vỏ lụa (biểu bì và lớp aleurone) và phôi, chứa khoảng 17-20% dầu với nhiều hợp chất có lợi đối với sức khỏe con người nên ngày càng được ưa chuộng trên thế giới. Nghiên cứu này tiến hành chọn lọc phả hệ từ phép lai trở lại giữa dòng lúa đột biến có phôi to MGE13 (phát triển từ giống lúa năng suất cao Mizuhochikara) với dòng lúa có vỏ lụa dày LO1050. Quá trình chọn lọc kiểu hình và kết hợp với sử dụng chỉ thị phân tử đã chọn lọc được 12 dòng ở thế hệ BC3F4 có thời gian sinh trưởng và kiểu hình tương tự như giống gốc Mizuhochikara đồng thời mang cả hai gene ge (quy định tính trạng phôi to) và QTL qAT7 (quy định tính trạng vỏ lụa dày). Khảo sát sơ bộ đã chọn được 3 dòng triển vọng (Ja25, Ja35 và Ja36) có năng suất cao, các chỉ tiêu liên quan đến hàm lượng cám như tỷ lệ cám/gạo lật, tỷ lệ diện tích phôi/diện tích hạt, vỏ lụa dày và hàm lượng dầu cao, vượt các giống đối chứng Mizuhochikara và J02 (giống lúa japonica trồng phổ biến ở miền Bắc Việt Nam). Đánh giá khả năng thích ứng với các vùng sinh thái trong cả vụ xuân và mùa ở cả 3 địa điểm Lào Cai, Hà Nội và Nam Định đã chọn được dòng Ja35 (DCG93) là dòng triển vọng nhất phục vụ sản xuất dầu cám gạo tại miền Bắc Việt Nam với thời gian sinh trưởng từ 135-140 ngày trong vụ xuân, 120-125 ngày trong vụ mùa, ít nhiễm sâu bệnh hại, năng suất đạt 67,6-70,5 tạ/ha trong vụ xuân, 55,7-58,5 tạ/ha trong vụ mùa, diện tích phôi đạt 2,02-2,04 mm2, tỷ lệ diện tích phôi/diện tích hạt đạt 12,2-13,1%, độ dày vỏ lụa đạt 24,2-24,7 µm và hàm lượng lipid trong cám đạt 24,1-24,7%.








