Số 8 (2021)

					Xem Số 8 (2021)
Đã Xuất bản: 29-04-2021

Bài viết

  • QUÁ TRÌNH XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI TRONG VIỆC THỰC HIỆN MỤC TIÊU PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG CỦA VIỆT NAM

    Abstract : 6 PDF: 7
    Nguyễn Thị Ánh Tuyết
    3-12

    Xây dựng nông thôn mới (NTM) là một trong những chương trình hành động lớn nhằm cụ thể hoá chủ chương, chính sách tam nông (nông thôn, nông nghiệp, nông dân) của Đảng và Nhà nước hướng đến mục tiêu phát triển toàn diện mọi mặt đời sống kinh tế - xã hội cho khu vực chiếm phần lớn dân số đang sinh sống. Cùng với đó, các mục tiêu phát triển bền vững (PTBV) ở phạm vi toàn cầu cũng đã và đang được Đảng và Chính phủ Việt Nam cụ thể hóa và cam kết thực hiện. Chương trình mục tiêu Quốc gia xây dựng NTM đã được tổng kết sau 10 năm thực hiện. Các tổ chức quốc tế và Chính phủ Việt Nam cũng đã đánh giá mức độ đạt các mục tiêu PTBV trong giai đoạn vừa qua. Kết quả rà soát ban đầu cho thấy có rất nhiều tiêu chí trong Bộ tiêu chí quốc gia về NTM có liên quan trực tiếp với các mục tiêu PTBV như về giảm nghèo, phát triển y tế, giáo dục, lao động, việc làm, hạ tầng, ứng phó với biến đổi khí hậu, đảm bảo bình đẳng giới, phòng chống bạo lực gia đình... Tuy nhiên sự tích hợp, gắn kết giữa tiêu chí NTM với các mục tiêu PTBV chưa rõ ràng và chưa thấy rõ đâu là những tiêu chí đã tính đến mục tiêu PTBV, còn thiếu vắng những tiêu chí/chỉ tiêu nào, kết quả thực hiện tiêu chí NTM đạt được đến đâu so với mục tiêu PTBV trên phạm vi cả nước, và cách thức lồng ghép về cơ chế, chính sách, công tác chỉ đạo, phối hợp, giám sát, đánh giá... trong thực hiện Chương trình mục tiêu Quốc gia xây dựng NTM với thực hiện các mục tiêu PTBV thông qua kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội của các Bộ, ngành, địa phương như thế nào. Để khu vực nông thôn PTBV theo các mục tiêu PTBV chung của cả nước thì cần có sự lồng ghép, phối hợp thực hiện triển khai phù hợp trong thời gian tới khi mà cả Chương trình mục tiêu Quốc gia xây dựng NTM và Kế hoạch hành động Quốc gia thực hiện Chương trình nghị sự 2030 vì sự phát triển bền vững đều được quan tâm thực hiện với sự nỗ lực và kỳ vọng lớn để đưa đất nước phát triển toàn diện và bền vững. Trên cơ sở tổng quan các nghiên cứu, tài liệu có sẵn và chính sách đã ban hành ở hai khía cạnh PTBV và xây dựng NTM, bài viết chỉ ra những đóng góp, sự phù hợp giữa xây dựng NTM với mục tiêu PTBV ở Việt Nam cũng như những khoảng cách, sự khác biệt giữa hai mục tiêu chiến lược và lâu dài này, qua đó có những đề xuất, kiến nghị điều chỉnh trong quá trình xây dựng và hoạch định chính sách trong thời gian tới.

    DOI: https://doi.org/10.71254/61pheb83
  • MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN, THỰC TIỄN VÀ ĐỀ XUẤT MÔ HÌNH TRUY XUẤT NGUỒN GỐC ĐIỆN TỬ CHO HỢP TÁC XÃ NÔNG NGHIỆP

    Abstract : 5 PDF: 5
    Lê Anh Hoàng, Nguyễn Đình Tĩnh, Phạm Quang Hà
    13-23

    Xuất phát từ hệ quả của các sự cố liên quan thực phẩm và các yêu cầu thị trường đặt ra, truy xuất nguồn gốc được rất nhiều quốc gia trên thế giới quan tâm và thực hiện chặt chẽ, nghiêm túc. Nhà nước ta cũng rất quan tâm đến vấn đề này và đã đề ra các quy định, hướng dẫn cụ thể cho việc thực hiện truy xuất nguồn gốc. Truy xuất nguồn gốc điện tử là cách làm mới, mang lại hiệu quả cao nhưng việc thực thi cũng gặp không ít khó khăn, bất cập như: Hiểu sai bản chất truy xuất nguồn gốc, khả năng tiếp cận thông tin, tiếp cận công nghệ của hợp tác xã (HTX), nông dân. Do đó, các HTX nông nghiệp cần tiếp cận và xây dựng mô hình một cách bài bản, phù hợp và tuân thủ các nguyên tắc truy xuất nguồn gốc theo quy định. Truy xuất nguồn gốc điện tử cho thấy những ưu thế vượt trội so với phương pháp truy xuất nguồn gốc truyền thống (bằng sổ sách) thông qua các ứng dụng công nghệ mới: Công nghệ phần mềm, điện toán đám mây, công nghệ in, mã hóa dữ liệu,… giúp các HTX nông nghiệp quản lý thông tin một cách dễ dàng, phù hợp với thực tiễn hoạt động sản xuất. Mô hình truy xuất nguồn gốc cần triển khai đến tận các hộ thành viên, quản lý chặt chẽ theo từng lô sản xuất, kết hợp với mô hình quản lý và cấp phát tem nhãn phù hợp. Bên cạnh đó, cần tăng cường vai trò quản lý của nhà nước đối với việc triển khai truy xuất nguồn gốc để phát huy hiệu quả giải pháp này.

    DOI: https://doi.org/10.71254/zfqjb194
  • THIẾT KẾ VECTOR BIỂU HIỆN THỰC VẬT MANG GEN cry2Ah1-wt VÀ cb CÓ HOẠT TÍNH KHÁNG SÂU ĐỤC QUẢ ĐẬU TƯƠNG Etiella zinkenella

    Abstract : 7 PDF: 5
    Nguyễn Hữu Kiên, Nguyễn Thị Hòa, Lê Thị Mai Hương, Nguyễn Trung Anh, Đinh Thị Mai Thu, Tống Thị Hường, Đinh Thị Thu Ngần, Lê Thị Minh Thành, Nguyễn Văn Đồng
    24-31

    Đậu tương (Glycine max L.) là một nguồn cung cấp dầu thực vật và protein quan trọng. Tuy nhiên, năng suất và sản lượng đậu tương đang bị ảnh hưởng bởi côn trùng gây hại, đặc biệt là sâu đục quả Etiella zinkenella Treitschke. Các cây trồng chuyển gen kháng sâu đang được sử dụng rộng rãi trên thế giới, nhưng cây đậu tương chuyển gen kháng sâu đục quả vẫn còn hạn chế. Nghiên cứu này được tiến hành để cải biến và thiết kế vector biểu hiện thực vật mang gen cry2Ah1 dạng dại và cải biến nhằm cung cấp vật liệu di truyền cho công tác chọn tạo cây đậu tương chuyển gen có khả năng kháng sâu đục quả thông qua vi khuẩn Agrobacterium tumefaciens. 

    DOI: https://doi.org/10.71254/dx89s496
  • NGHIÊN CỨU ĐÁNH GIÁ TÁC ĐỘNG NGẮT ĐÊM (NIGHT BREAK – NB) CỦA MỘT SỐ ĐÈN LED ĐẾN SỰ KÌM HÃM RA HOA VÀ SINH TRƯỞNG CỦA CÂY HOA CÚC

    Abstract : 13 PDF: 13
    Đặng Xuân Thu, Nguyễn Thị Thủy, Trần Thị Hải Yến, Trần Anh Tuấn, Nguyễn Quang Thạch
    32-39

    Nghiên cứu được tiến hành qua các thí nghiệm ở nhà lưới và đồng ruộng về ảnh hưởng tác động ngắt đêm (night break – NB) của một số loại đèn LED đến sự kìm hãm ra hoa và sinh trưởng của cây hoa cúc từ năm 2019-2021. Các thí nghiệm trồng đồng ruộng được bố trí 3 lần nhắc lại với diện tích ô từ 15-24 m2 tại Tây Tựu và Sóc Sơn, TP. Hà Nội. Các thí nghiệm trong nhà lưới được tiến hành tại Viện Sinh học Nông nghiệp, Học viện Nông nghiệp Việt Nam. Kết quả nghiên cứu cho thấy phản ứng ngắt đêm có vai trò quyết định đến sự kìm hãm ra hoa của cây hoa cúc trồng trong vụ đông. Các công thức được ngắt đêm bằng cách chiếu sáng từ 30 phút - 8 giờ với các loại đèn LED nghiên cứu đều kìm hãm sự ra hoa, làm nụ ra muộn từ 27 - 31 ngày phụ thuộc vào thời lượng xử lý ngắt đêm từ 30 phút - 8 giờ. Cúc được ngắt đêm có các chỉ tiêu sinh trưởng thân lá, đặc biệt chiều cao cây đều cao hơn đối chứng không ngắt đêm đáng kể. Ở công thức ngắt đêm tối ưu, chiều cao cây cao hơn đối chứng không ngắt đêm hơn 2 lần (83/40 cm). Sử dụng đèn LED PTP để ngắt đêm với thời lượng 3 giờ có hiệu quả cao hơn so với việc ngắt đêm 8-10 giờ bằng đèn LED Rạng Đông và LED Roman, tiết kiệm được 75% lượng điện tiêu thụ. 

    DOI: https://doi.org/10.71254/118rfq68
  • XÁC ĐỊNH MÃ VẠCH ADN PHỤC VỤ GIÁM ĐỊNH LOÀI PHI ĐIỆP TÍM HÒA BÌNH (Dendrobium sp.)

    Abstract : 6 PDF: 4
    Bùi Thị Mai Hương, Nguyễn Văn Việt, Hà Văn Huân
    40-45

    Lan Phi điệp tím là các loài cây có giá trị kinh tế cao, làm cảnh, làm thuốc. Phi điệp tím Hòa Bình đặc trưng riêng so với các loại phi điệp có nơi phân bố khác về hình dạng, màu sắc hoa. Do vậy, việc xác định các đoạn mã vạch ADN để định danh cho loài Phi điệp tím Hòa Bình (Dendrobium sp.) phục vụ giám định loài là cần thiết. ADN tổng số được phân lập từ lá cây Phi điệp tím. Các đoạn mã vạch ADN (rbcL, TrnH-psbA và ycf) được nhân bản từ ADN tổng số của Phi điệp tím bằng kỹ thuật PCR. Sản phẩm PCR chỉ ra rằng các băng thu được có kích thước giống với kích thước dự kiến, sau đó sản phẩm PCR được xác định trình tự. Kết quả phân tích trình tự đã chỉ ra, đoạn rbcL có 740 nucleotide, đoạn TrnH-psbA có 844 nucleotide và đoạn ycf có 821 nucleotide. Các trình tự này sau đó được xử lý trên Ngân hàng Gen quốc tế (NCBI) đã tìm ra: loài Phi điệp tím Hòa Bình thuộc loài Dendrobium anosmun với các tỷ lệ tương đồng 100% của đoạn gen rbcL, trnH-psbA và 96,16% của đoạn ycf. So sánh sự khác biệt của Phi điệp tím Hòa Bình với các loài Lan (Dendrobium tosaense) khác cho thấy: đoạn gen rbcL tương đồng 100% với loài Dendrobium tosaense, đoạn gen TrnH-psbA tương đồng 98,52% với loài Dendrobium tosaense, đoạn gen ycf  tương đồng 92,61% với loài Dendrobium tosaense. Sử dụng chỉ thị ycf  là tốt nhất làm mã vạch  ADN để giám định loài Phi điệp tím ở Việt Nam. 

    DOI: https://doi.org/10.71254/e96xva08
  • XÁC ĐỊNH MỘT SỐ TRÌNH TỰ DNA MÃ VẠCH PHỤC VỤ CÔNG TÁC PHÂN LOẠI VÀ NHẬN DẠNG LOÀI LAN KIM TUYẾN (Anoectochilus formosanus Hayata) Ở THANH HÓA

    Abstract : 6 PDF: 6
    Nguyễn Trọng Quyền, Lê Công Mạnh, Nguyễn Thị Thơ, Khuất Thị Hải Ninh, Hoàng Văn Sâm, Bùi Văn Thắng 
    46-53

    Lan Kim tuyến (Anoectochilus formosanus Hayata) có giá trị dược liệu cao, loài này đã bị khai thác cạn kiệt, có thể dẫn đến nguy cơ bị tuyệt chủng ngoài tự nhiên. Loài A. formosanus Hayata có hình thái tương đồng với các loài thuộc chi Lan Kim tuyến (Anoectochilus Blume) nên việc phân loại và định danh theo phương pháp truyền thống gặp khó khăn. Vì vậy, nghiên cứu xác định một số chỉ thị DNA mã vạch loài Lan Kim tuyến thu thập tại Thanh Hóa nhằm định danh chính xác loài này là rất cần thiết cho công tác bảo tồn và phát triển nguồn gen. Kết quả nghiên cứu đã xác định được ba trình tự DNA mã vạch là matK, rbcL và ITS2 của loài Lan Kim tuyến A. formosanus Hayata, các trình tự có độ tương đồng cao với các trình tự gen đã công bố trên Ngân hàng Gen quốc tế. Các trình tự DNA mã vạch thu được có từ 3 – 8 vị trí nucleotide sai khác với các trình tự tương ứng của các loài thuộc chi Anoectochilus có mã số công bố trong Ngân hàng Gen quốc tế. Trong ba đoạn trình tự DNA mã vạch thu được, mã vạch gen matK và ITS2 là ứng viên hữu hiệu cho việc phân loại và định danh loài Lan Kim tuyến A. formosanus Hayata tại Thanh Hóa. Kết quả nghiên cứu này là cơ sở khoa học phục vụ cho công tác bảo tồn, khai thác và phát triển nguồn gen loài cây quý hiếm này. 

    DOI: https://doi.org/10.71254/j7xr1a57
  • PHÂN LẬP VÀ NHẬN DIỆN VI KHUẨN NỘI SINH CÓ ĐẶC TÍNH TỐT VỀ KHẢ NĂNG CỐ ĐỊNH ĐẠM, HÒA TAN LÂN VÀ TỔNG HỢP IAA TRONG CÂY ĐẬU PHỘNG TRỒNG TRÊN ĐẤT XÁM BẠC MÀU TẠI TỈNH BÌNH ĐỊNH

    Abstract : 6 PDF: 6
    Bùi Thanh Đạo, Ngô Thanh Phong, Cao Ngọc Điệp
    54-60

    Phân lập được 236 dòng vi khuẩn từ 152 mẫu nốt sần, rễ, thân cây đậu phộng (lạc) trồng ở vùng đất xám bạc màu tỉnh Bình Định (4 huyện: Phù Cát, Hoài Nhơn, Vân Canh, Tây Sơn), chúng đều tạo màng mỏng (pellicle), đều có khả năng cố định đạm, hòa tan lân và tổng hợp IAA. Chọn lọc 20 dòng có đặc tính tốt về khả năng cố định đạm, hòa tan lân và tổng hợp IAA để nhận diện bằng kỹ thuật PCR cho thấy 20 dòng này đều là vi khuẩn nội sinh. Giải trình tự ADN cho kết quả 20 dòng vi khuẩn thuộc 6 chi, trong đó 10 dòng thuộc chi Acinetobacter, 3 dòng thuộc chi Enterobacter, 1 dòng thuộc chi Klebsiella, 1 dòng thuộc chi Sphingomonas, 4 dòng thuộc chi Bacillus, 1 dòng thuộc chi Burkholderia với tỷ lệ tương đồng từ 98%-99%. Đề nghị tiến hành khảo sát hiệu quả ngoài đồng của các dòng này và ứng dụng sản xuất phân sinh học.   

    DOI: https://doi.org/10.71254/6jfav094
  • ẢNH HƯỞNG CỦA PHÂN HỮU CƠ SINH HỌC PHÚ NÔNG KẾT HỢP VỚI PHÂN BÓN LÁ ĐẾN KHẢ NĂNG SINH TRƯỞNG, PHÁT TRIỂN, NĂNG SUẤT CẢI CỦ TRANG NÔNG TẠI MỸ THO, TIỀN GIANG

    Abstract : 4 PDF: 5
    Nguyễn Văn Vượng, Hà Chí Trực
    61-68

    Kết quả nghiên cứu ảnh hưởng của phân hữu cơ sinh học Phú Nông (HCSHPN) kết hợp với phân bón lá đến sinh trưởng, phát triển, năng suất của cây cải củ Trang Nông trồng vụ đông xuân tại Mỹ Tho, Tiền Giang cho thấy: Bón phân HCSHPN với lượng từ 2.000 – 3.500 kg/ha kết hợp với phân bón lá Antonik và Comcat có ảnh hưởng đến sinh trưởng chiều cao cây, số lá/cây, đường kính gốc, kích thước củ, các yếu tố cấu thành năng suất của cây cải củ Trang Nông. Năng suất thực thu của cây cải củ Trang Nông đạt cao nhất 24,54 - 24,79 tấn/ha ở lượng bón 3.000 – 3.500 kg HCSHPN/ha; thứ đến là lượng bón 2.500 kg HCSHPN/ha kết hợp với phân bón lá cho năng suất đạt 23,12 - 23,23 tấn/ha; thấp nhất là lượng bón 2.000 kg HCSHPN/ha kết hợp với phân bón lá cho năng suất 21,42 - 21,96 tấn/ha. Phân bón lá không gây ảnh hưởng đến năng suất cải củ. Bón phân HCSHPN kết hợp phân bón lá cho lãi thuần cao hơn đối chứng từ 4.640 – 16.998 ngàn đồng/ha, cho lãi thuần cao hơn đối chứng từ 6,6 – 24,0%. Nghiệm thức bón 3.000 kg HCSHPN /ha kết hợp phân bón lá Antonik cho lãi thuần so với đối chứng đạt cao nhất 16.998 ngàn đồng/ha, tương ứng với tỷ lệ tăng lãi thuần 16,0% so với đối chứng; thứ đến là nghiệm thức bón 3.000 kg HCSHPN/ha kết hợp phân bón lá Comcat 150WP cho lãi thuần so với đối chứng đạt 13.228 ngàn đồng/ha, tương ứng với tỷ lệ tăng lãi thuần 18,7% so với đối chứng; người trồng cải củ Trang Nông ở Mỹ Tho, Tiền Giang vụ đông xuân nên bón phân HCSHPN với lượng 3.000 kg/ha kết hợp phun phân bón lá Antonik để tăng năng suất và hiệu quả kinh tế.

    DOI: https://doi.org/10.71254/wc1jec76
  • NGHIÊN CỨU XÁC ĐỊNH HOẠT TÍNH ĐỐI KHÁNG CỎ LỒNG VỰC VÀ KHÁNG KHUẨN CỦA DỊCH CHIẾT TỪ NĂM LOÀI CÂY THUỘC HỌ BÌM BÌM (CONVOLVULACEAE)

    Abstract : 5 PDF: 4
    Trương Trọng Khôi, Phùng Thị Tuyến, Bùi Văn Nam, Ma Minh Nguyệt
    69-76

    Nghiên cứu được thực hiện nhằm xác định hoạt tính đối kháng và hoạt tính kháng khuẩn của dịch chiết từ năm loài thực vật thuộc họ Bìm bìm (Convolvulaceae) bao gồm Bìm bois (Merremia boisiana (Gagnep.) Ooststr.), Bìm cảnh (Ipomoea cairica (L.) Sweet), Bìm chuông (Ipomoea campanulata L.), Bìm tím (Ipomoea purpurea (L.) Roth) và Bìm trắng (Ipomoea alba L.) đối với cỏ Lồng vực, Cải củ và một số loại vi khuẩn. Kết quả nghiên cứu cho thấy, dịch chiết từ lá Bìm bois và Bìm cảnh ở nồng độ 3,0 mg/ml và dịch chiết từ thân loài Bìm cảnh ở các nồng độ 1,0; 2,0 và 3,0 mg/ml có khả năng làm giảm tỷ lệ nảy mầm của cỏ Lồng vực (Echinochloa crus-gali). Dịch chiết của các loài Bìm bìm cũng cho thấy chúng có khả năng ức chế sinh trưởng đối với cỏ Lồng vực. Dịch chiết từ hai loài Bìm bois và Bìm cảnh cho thấy khả năng ức chế sinh trưởng đối với loài cỏ Lồng vực là cao hơn so với các loài khác. Tương tự, dịch chiết từ Bìm bois và Bìm cảnh cũng cho thấy khả năng ức chế nảy mầm và sinh trưởng đối với loài Cải củ mạnh hơn ba loài còn lại. Dịch chiết của các loài thực vật thuộc họ Bìm bìm đều có khả năng ức chế vi khuẩn Escherichia coli nhưng chỉ có loài dịch chiết từ lá của Bìm bois và dịch chiết từ thân và lá của Bìm tím ức chế vi khuẩn Bacillus cereus.

    DOI: https://doi.org/10.71254/85asf441
  • PHÂN LẬP VÀ TUYỂN CHỌN VI KHUẨN CHUYỂN HOÁ ĐẠM TỪ BÙN ĐÁY AO CÁ TRA (Pangasianodon hypophthalmus)

    Abstract : 5 PDF: 5
    Phạm Thị Tuyết Ngân, Vũ Hùng Hải, Huỳnh Trường Giang, Vũ Ngọc Út
    77-83

    Nghiên cứu về phân lập và tuyển chọn vi khuẩn chuyển hóa đạm từ bùn đáy ao nuôi cá tra được thực hiện nhằm bổ sung vào bộ sưu tập vi khuẩn hữu ích phục vụ nuôi trồng thủy sản. Trong nghiên cứu này, 80 chủng vi khuẩn có khả năng chuyển hóa đạm đã được phân lập, chúng có nguồn gốc từ  mẫu bùn trong ao nuôi tôm thẻ chân trắng. Đa số các chủng vi khuẩn này có dạng que ngắn, gram âm và chuyển động. Trong số đó, chủng HG4.1 có khả năng oxy hóa ammonia tốt nhất đạt 43% và chủng TN3.1 có hiệu suất oxy hóa nitrite đạt 32% sau 5 ngày. Hai chủng trên có đặc điểm là trực khuẩn Gram âm, có tiềm năng ứng dụng xử lý nước trong nuôi trồng thủy sản.

    DOI: https://doi.org/10.71254/q1qbvw09
  • ẢNH HƯỞNG CỦA VI KHUẨN QUANG DƯỠNG KHÔNG LƯU HUỲNH MÀU TÍA ĐẾN SINH TRƯỞNG CÂY LÚA TRONG ĐIỀU KIỆN Ô NHIỄM As

    Abstract : 6 PDF: 4
    Nguyễn Quốc Khương, Trần Trọng Khôi Nguyên, Đỗ Trí Lợi, Lê Vĩnh Thúc, Trần Chí Nhân, Trần Ngọc Hữu, Lý Ngọc Thanh Xuân, Trương Thoại Mỹ, Nguyễn Thị Thanh Xuân
    84-92

    Nghiên cứu được thực hiện nhằm xác định khả năng kích thích sinh trưởng cây lúa của các dòng vi khuẩn quang dưỡng không lưu huỳnh màu tía (PNSB) trong điều kiện ô nhiễm As3+, As5+ và As3++As5+. Thí nghiệm được bố trí theo khối hoàn toàn ngẫu nhiên, với bốn lần lặp lại, mỗi lặp lại tương ứng một chậu chứa 1,1 lít dung dịch dinh dưỡng. Kết quả thí nghiệm cho thấy, khi bổ sung hỗn hợp bốn dòng vi khuẩn W47, S29, W22, W25 đã giúp tăng chiều cao cây lúa so với không bổ sung vi khuẩn trong điều kiện ô nhiễm As3+. Ngoài ra, dòng vi khuẩn đơn W25 đã giúp tăng chiều dài rễ lúa và khối lượng khô trong khi hỗn hợp bốn dòng vi khuẩn W44, W14, W04, W25 đã tăng chiều cao cây lúa và khối lượng khô so với không bổ sung vi khuẩn trong điều kiện ô nhiễm As5+. Bên cạnh đó, dòng vi khuẩn đơn W25, hỗn hợp sáu dòng vi khuẩn W47, S29, W22, W44, W14, W04 và bảy dòng vi khuẩn W47, S29, W22, W25, W44, W14, W04 đều góp phần làm tăng chiều cao cây lúa và khối lượng khô so với không bổ sung vi khuẩn trong điều kiện ô nhiễm As3+ và As5+.

    DOI: https://doi.org/10.71254/dr6b8a10
  • NGHIÊN CỨU PHÒNG TRỪ DỊCH HẠI TRÊN CÂY HỒ TIÊU BẰNG CHẾ PHẨM SINH HỌC TẠI TỈNH BÌNH DƯƠNG

    Abstract : 13 PDF: 12
    Nguyễn Văn An, Trần Kim Ngọc, Nguyễn Văn Mãnh, Nguyễn Thị Hương, Trần Tuấn Anh, Hoàng Thị Tuyết
    93-100

    Nghiên cứu sử dụng chế phẩm sinh học trong phòng trừ dịch hại trên cây hồ tiêu được thực hiện trong hai niên vụ 2018-2019 và 2019-2020 tại huyện Phú Giáo, tỉnh Bình Dương. Áp dụng kiểu bố trí thử nghiệm trên ruộng nông dân với 6 lô thử nghiệm có bổ sung chế phẩm Bio-FA và 6 lô đối chứng có áp dụng biện pháp phòng trừ dịch hại phổ biến của nông hộ. Số liệu được phân tích và so sánh bằng trắc nghiệm t-test. Kết quả cho thấy: (i) Trong niên vụ 2018-2019, kết quả chưa ảnh hưởng đến hiệu quả phòng trừ dịch hại trên cây hồ tiêu nhưng đã có hiệu quả khá tốt trong niên vụ 2019-2020. Cây tiêu của lô thử nghiệm sinh trưởng khá tốt, các loại bệnh gây hại chính trên vườn tiêu có xuất hiện với tỷ lệ thấp và có xu hướng thấp hơn so với đối chứng; (ii) Năng suất của vườn tiêu ở lô thử nghiệm trong giai đoạn kiến thiết cơ bản (KTCB) (cây năm thứ 3) đạt bình quân 0,88 kg/trụ cao hơn so với đối chứng (0,74 kg/trụ). Trong niên vụ 2018-2019, năng suất của lô thử nghiệm trong giai đoạn kinh doanh bình quân đạt 2,77 tấn/ha và tương đương với đối chứng (2,65 tấn/ha), lợi nhuận bình quân 29,5 triệu đồng/ha. Niên vụ 2019-2020, năng suất bình quân đạt 1,5 tấn/ha và xu hướng cao hơn đối chứng 13,9% (1,32 tấn/ha). Chi phí chăm sóc vườn tiêu trong niên vụ này đã giảm rõ rệt hơn những năm trước do giá bán thấp, do vậy lợi nhuận của lô thử nghiệm giảm còn 10,2 triệu đồng/ha nhưng cao hơn đối chứng khoảng 75% (5,8 triệu đồng/ha).

    DOI: https://doi.org/10.71254/qem7nm85
  • NGHIÊN CỨU ẢNH HƯỞNG CỦA TỶ LỆ VÀ DẠNG PHÂN BÓN LÁ SINH HỌC CHIẾT RÚT TỪ THỰC VẬT THỦY SINH ĐẾN CÂY RAU XÀ LÁCH TẠI TỈNH THỪA THIÊN - HUẾ

    Abstract : 5 PDF: 4
    Hoàng Thị Thái Hòa, Đỗ Đình Thục, Nguyễn Quang Cơ, Trần Thị Ánh Tuyết, Hoàng Thị Ngọc Vân, Trương Thị Diệu Hòa
    101-108

    Thí nghiệm được thực hiện trên đồng ruộng trong vụ xuân hè năm 2020 với 2 thời vụ gieo trồng trên đất phù sa tại phường Hương Long, thành phố Huế, tỉnh Thừa Thiên - Huế, gồm có 8 công thức với 2 dạng phân bón lá sinh học được chiết từ thực vật thủy sinh (rong biển và bèo tây) và 4 tỷ lệ phun. Thí nghiệm được bố trí theo kiểu split plot (ô lớn, ô nhỏ), 3 lần nhắc lại, nhằm mục đích xác định được dạng và tỷ lệ phun phân bón lá phù hợp cho cây rau xà lách. Kết quả nghiên cứu cho thấy, năng suất và chất lượng rau xà lách phụ thuộc vào dạng phân bón lá sinh học và tỷ lệ phun. Năng suất, chất lượng rau và hiệu quả kinh tế đạt cao nhất tại tỷ lệ phun 1:10 ở cả hai dạng phân bón lá sinh học được chiết từ rong biển hoặc bèo tây, đặc biệt đạt cao nhất khi phun phân bón lá sinh học được chiết từ rong biển (năng suất đạt 12,43 tấn/ha, lãi 81,5 triệu đồng/ha, độ brix 3,5%, hàm lượng nitrat 400 mg/kg). Từ đó, đề xuất dạng phân bón lá sinh học được chiết từ rong biển tại tỷ lệ phun 1:10 trên nền bón 500 kg vôi +15 tấn phân chuồng trên 1 ha để đạt được năng suất, chất lượng và hiệu quả kinh tế cao nhất.

    DOI: https://doi.org/10.71254/7s3m8s37
  • NGHIÊN CỨU KHẢ NĂNG SINH TRƯỞNG, PHÁT TRIỂN VÀ NĂNG SUẤT CỦA MỘT SỐ GIỐNG LẠC VỤ XUÂN TẠI CÁC TỈNH PHÍA BẮC

    Abstract : 6 PDF: 5
    Lê Quý Tường, Trần Quang Thọ, Hoàng Thị Mai
    109-114

    Đánh giá, khảo nghiệm sinh thái 7 giống lạc trong 3 vụ xuân tại các tỉnh phía Bắc. Thí nghiệm khảo nghiệm cơ bản, bố trí theo khối ngẫu nhiên hoàn chỉnh, 3 lần lặp lại. Kết quả đã xác định được 3 giống lạc triển vọng: giống L32, thời gian sinh trưởng (TGST) 118 - 121 ngày; năng suất  trung bình (TB) 34,6 tạ/ha), thâm canh đạt 40,1 tạ/ha; giống L35, TGST 118- 124 ngày; năng suất TB 34,5 tạ/ha), thâm canh đạt 42,1 tạ/ha; giống LCH01, TGST 118- 121 ngày, năng suất TB 34,5 tạ/ha), thâm canh đạt 41,8 tạ/ha.

    DOI: https://doi.org/10.71254/cwnmaj38
  • XÁC ĐỊNH CẤU TRÚC VÀ HOẠT TÍNH GÂY ĐỘC TẾ BÀO CỦA GALACTOFUCANSULFATE TÁCH CHIẾT TỪ RONG NÂU SARGASSUM AQUIFOLIUM Ở KHÁNH HÒA

    Abstract : 6 PDF: 5
    Bùi Văn Nguyên, Thành Thị Thu Thủy, Trần Thị Thanh Vân, Nguyễn Văn Thành
    115-120

    Bài báo trình bày kết quả nghiên cứu cấu trúc và hoạt tính gây độc tế bào của galactofucan sulfate tách từ rong nâu Sargassum aquifolium thu thập ở vịnh Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa. Kết quả cho thấy, hiệu suất chiết tách sulfated polysaccharide (fucoidan) thô (FSA) đạt 3,7% tính trên khối lượng rong khô. Bằng phương pháp sắc ký trao đổi ion, fucoidan thô được tách thành 4 phân đoạn (F1, F2, F3 và F4) trên cột sắc ký DEAE-cellulose. Phân đoạn F4 có hàm lượng sulfate cao nhất là 31,5% và có thành phần đường đơn giản nhất, chỉ gồm Fuc và Gal với tỉ lệ (L-Fuc:D-Gal = 1:0,55) nên đã được chọn để nghiên cứu sâu về cấu trúc bằng phương pháp phổ ESI-MS và phổ NMR. Kết quả cho thấy, F4 có cấu trúc dạng galactofucan sulfate. Các thành phần đường của nó gắn với nhau qua liên kết glycoside (1→3) hoặc (1→4), nhóm sulfate gắn với gốc Fuc ở vị trí C2 hoặc C4 và gắn với gốc Gal ở vị trí C2. Kết quả thử nghiệm hoạt tính sinh học cho thấy các phân đoạn F3 và F4 đều có hoạt tính gây độc tế bào trên các dòng ung thư gan Hep-G2, ung thư phổi LU-1 và ung thư mô liên kết RD. 

    DOI: https://doi.org/10.71254/xxh16415
  • KHẢO SÁT SỰ BIẾN ĐỔI THÀNH PHẦN HÓA HỌC CỦA TRÁI LÊKIMA (Pouteria campechiana) THEO THỜI GIAN BẢO QUẢN

    Abstract : 5 PDF: 5
    Trần Xuân Hiển, Huỳnh Liên Hương, Nguyễn Trung Thành
    121-127

    Trái lêkima (Pouteria campechiana) chứa nhiều thành phần dinh dưỡng có lợi cho sức khỏe như carotenoid, tannin, polyphenol,... Do đó, việc bảo quản trái lêkima sau thu hoạch để duy trì thành phần hóa học của trái có ý nghĩa quan trọng đối với thị trường tiêu thụ trái tươi và cung cấp nguyên liệu phục vụ chế biến. Nghiên cứu được thực hiện nhằm xác định ảnh hưởng của độ chín sau thu hoạch đến thành phần hóa học của trái lêkima bảo quản ở nhiệt độ từ 30-32oC. Kết quả nghiên cứu cho thấy hàm lượng chất khô hòa tan, đường khử, carotenoid, phenolic tổng số, flavonoid tổng số đều có chiều hướng tăng theo thời gian bảo quản. Cụ thể ở ngày bảo quản thứ 10 hàm lượng chất khô hòa tan đạt 20,89-1,66obrix; hàm lượng đường khử đạt cao nhất vào ngày thứ 8 (13,10±0,38%); hàm lượng carotenoid và TPC đạt cực đại là 124,27-3,05 µg/g và 7,11-0,11 mgGAE/g ở ngày bảo quản thứ 10. Tuy nhiên hàm lượng acid tổng số, tinh bột, tannin lại có khuynh hướng giảm trong suốt quá trình bảo quản, tương ứng với hàm lượng của acid tổng số là 0,11±0,003%, tinh bột là 5,17±1,85% và tannin là 66,87±2,83 mgTAE/g ở ngày bảo quản thứ 10.  Kết quả này là cơ sở cho các nhà chế biến lựa chọn thời gian thu hoạch và bảo quản phù hợp để đảm bảo chất lượng của trái lêkima trước khi chế biến.

    DOI: https://doi.org/10.71254/ht578r65
  • NGHIÊN CỨU XÁC ĐỊNH HỢP CHẤT XỬ LÝ SAU THU HOẠCH NHẰM GIẢM TỈ LỆ THỐI HỎNG QUẢ XOÀI YÊN CHÂU TRONG QUÁ TRÌNH BẢO QUẢN

    Abstract : 6 PDF: 8
    Nguyễn Văn Dũng, Hoàng Thị Lệ Hằng, Nguyễn Thị Thu Hường, Nguyễn Đức Hạnh
    128-133

    Nghiên cứu xác định hợp chất xử lý loại bỏ vi sinh vật gây hư hỏng trên bề mặt quả xoài Yên Châu nhằm giảm tỉ lệ quả thối hỏng trong quá trình bảo quản, góp phần nâng cao hiệu quả kinh tế cho sản xuất. Thí nghiệm khảo sát khả năng hạn chế thối hỏng quả xoài trong quá trình bảo quản được tiến hành trên 4 chất diệt nấm (Thiabendazole, imazalin, NaHSO3 và nano bạc - đây là các hợp chất được phép sử dụng trong xử lý sau thu hoạch rau quả tươi), ở một số nồng độ khác nhau với thời gian nhúng quả trong dung dịch xử lý là 3 phút trước khi bảo quản. Sau xử lý, quả xoài được đóng gói và đưa vào bảo quản ở nhiệt độ 12 ± 10C. Kết quả đánh giá các chỉ tiêu hóa lý quả và vi sinh gây hại trên vỏ quả trong quá trình bảo quản cho thấy, xử lý chất kháng khuẩn nano bạc ở nồng độ 0,05% trong thời gian 3 phút cho hiệu quả tốt nhất. Sau 30 ngày bảo quản tỷ lệ thối hỏng của quả xoài Yên Châu giảm xuống còn 10,27% so với đối chứng là 36,12%; mật độ vi sinh vật hiếu khí tổng số trên vỏ quả < 1,20.103 cfu/g (thấp hơn rất nhiều so với đối chứng 3,60.1010 cfu/g), ngoài ra hàm lượng chất khô hòa tan tổng số và chất lượng cảm quan của quả được đánh giá cao, có khả năng lưu thông trên thị trường.

    DOI: https://doi.org/10.71254/c8ytf262
  • THÀNH PHẦN HÓA HỌC CƠ BẢN VÀ SỰ BIẾN ĐỔI CỦA MỘT SỐ CHỈ TIÊU HÓA HỌC VÀ VẬT LÝ CỦA CÁ BỚP (Rachycentron canadum) CẮT LÁT THEO THỜI GIAN BẢO QUẢN LẠNH

    Abstract : 12 PDF: 10
    Mai Thị Tuyết Nga
    134-141

    Nghiên cứu này nhằm xác định thành phần hoá học cơ bản và thành phần acid béo của thịt cá bớp nuôi; sự biến đổi của các chỉ số đặc trưng cho quá trình oxy hoá chất béo (như HPO/total lipid hydroperoxides và TBARS/thiobarbituric acid-reactive substances) và các thông số vật lý (như pH và màu sắc) của cơ thịt cá bớp cắt lát trong quá trình bảo quản lạnh ở 0-2°C. Kết quả cho thấy thịt cá bớp có giá trị dinh dưỡng cao với trên 17% protein và hơn 10% chất béo. Thành phần acid béo của lipid thịt cá bớp chủ yếu là C16:0, C18:0, C20:5 và C22:6. Nhìn chung, hàm lượng acid béo tự do (no và không no) trong cơ thịt cá bớp cắt lát tăng theo thời gian bảo quản lạnh. Chỉ số TBARS trong cơ thịt cá cũng tăng theo thời gian bảo quản, trong đó lượng TBARS ở cơ thịt đỏ cao hơn và tăng nhanh hơn ở cơ thịt trắng, vượt quá ngưỡng chấp nhận (0,8 mg malondialdehyde (MAD)/100 g thịt cá) sau 4 ngày bảo quản. Giá trị pH của cơ thịt cá có xu hướng tăng từ ngày bảo quản thứ 4 trở đi và dao động trong khoảng 5,6-6,3. Sự thay đổi về màu sắc đo theo các chỉ số L, a* và b* cho những kết quả tương tự với sự mô tả về màu sắc của cá trong bảng đánh giá cảm quan theo phương pháp chỉ số chất lượng (QIM) về sự giảm chất lượng của cá bớp cắt lát theo thời gian bảo quản lạnh. 

    DOI: https://doi.org/10.71254/ms5bnp54
  • SỬ DỤNG DẦU Ô LIU LÀM PHỤ GIA ĐỂ HẠN CHẾ OXY HÓA CHẤT BÉO TRONG THỊT BÒ XAY

    Abstract : 12 PDF: 10
    Nguyễn Dương Hồng Lan, Trần Thị Thu Trà, Tôn Nữ Minh Nguyệt, Lê Văn Việt Mẫn
    142-148

    Thịt bò xay là một sản phẩm tươi có hàm lượng chất béo cao. Trong nghiên cứu này, dầu ô liu giàu các hợp chất phenolic được sử dụng như phụ gia bổ sung vào thịt bò xay với các hàm lượng khác nhau (300, 600 và 900 mg/kg sản phẩm) để ngăn chặn sự oxy hóa chất béo; nghiệm thức thịt bò xay bổ sung BHT (200 mg/kg sản phẩm) và nghiệm thức thịt bò xay không bổ sung chất chống oxy hóa (đối chứng) cũng được khảo sát. Quá trình bảo quản thịt bò xay được thực hiện ở 4oC trong thời gian 15 ngày. Kết quả cho thấy BHT ức chế sự oxy hóa chất béo tốt hơn dầu ô liu. Khi tăng hàm lượng dầu ô liu bổ sung thì mức độ ức chế quá trình oxy hóa chất béo trong thịt bò xay sẽ càng cao. Chỉ số acid và peroxide của nghiệm thức đối chứng lần lượt đạt giới hạn cho phép theo TCVN 6044: 2007 ở ngày bảo quản thứ 4 và thứ 10. Trong khi đó, chỉ số acid của nghiệm thức bổ sung dầu ô liu 900 mg/kg đạt ngưỡng cho phép vào ngày bảo quản thứ 12 còn chỉ số peroxide vẫn đạt TCVN 6044: 2007 sau 15 ngày bảo quản. Các nghiệm thức bổ sung dầu ô liu ít bị thay đổi màu sắc hơn nghiệm thức đối chứng và nghiệm thức bổ sung BHT. Dầu ô liu là một phụ gia chống oxy hóa chất béo tiềm năng cho sản phẩm thịt bò xay.

    DOI: https://doi.org/10.71254/kw5azx48
  • XÁC ĐỊNH LOÀI, KIỂU GIÁP MÔ VÀ CÁC YẾU TỐ ĐỘC LỰC CỦA VI KHUẨN Pasteurella multocida PHÂN LẬP TỪ LỢN

    Abstract : 6 PDF: 7
    Vũ Khắc Hùng, Trịnh Thị Thu Hằng, Trần Xuân Hạnh, Nguyễn Thị Thu Giang, Nguyễn Thị Thịnh
    149-155

    Áp dụng phản ứng PCR để xác định loài, các gen quy định sinh tổng hợp giáp mô và các yếu tố độc lực của 83 chủng vi khuẩn Pasteurella multocida phân lập từ lợn tại Việt Nam. Kết quả cho thấy, bằng cặp mồi đặc hiệu KMT1 tất cả 83 chủng đều cho phản ứng dương tính, chứng tỏ tất cả 83 chủng đều chính xác là P. multocida. Trong số đó, 40 (48,6%) chủng thuộc type A, 24 (28,9%) chủng thuộc type D, và 19 (23,81%) chủng thuộc type B. Không có chủng nào thuộc type E hay type F. Sự có mặt của các gene độc lực của vi khuẩn P. multocida cũng được khảo sát bằng kỹ thuật PCR, bao gồm kháng nguyên bám dính (ptfA - 93,97%, pfhA- 93,97%. fimA - 90,36%), nhóm thu nhận sắt (exbB - 100%, exbD - 85,22%), hyaluronidase (pmHAS – 84,33%), nhóm protein màng ngoài (ompA - 56,62%, ompH - 68,67%, oma87 - 100%). Tỷ lệ gene mã hóa độc tố PMT (toxA) được tìm thấy ở 16/83 (19%) chủng. Có sự liên quan chặt chẽ giữa một số yếu tố độc lực và serogroup đặc trưng, tất cả các chủng thuộc type A đều mang gen pmHAS, trong khi đó đa số các chủng thuộc type D đều mang gen độc tố PMT (toxA).

    DOI: https://doi.org/10.71254/9bmv4w72
  • KHẢO SÁT TỶ LỆ BỆNH VIÊM TỬ CUNG TÍCH MỦ TRÊN CHÓ TẠI CÁC PHÒNG MẠCH THÚ Y TỈNH TIỀN GIANG

    Abstract : 5 PDF: 3
    Trần Văn Thanh, Trần Ngọc Bích, Nguyễn Trung Trực, Nguyễn Thị Yến Mai
    156-160

    Nghiên cứu “Khảo sát bệnh viêm tử cung tích mủ trên chó tại các phòng mạch thú y tỉnh Tiền Giang” được thực hiện từ tháng 8 năm 2020 đến tháng 12 năm 2020. Kết quả chẩn đoán lâm sàng và cận lâm sàng phát hiện có 112/983 con chó cái mắc bệnh viêm tích mủ tử cung khi mang đến khám bệnh và điều trị lần đầu, chiếm tỷ lệ 11,39%. Tỷ lệ chó mắc bệnh viêm mủ tử cung phụ thuộc vào giống, độ tuổi, lứa đẻ và tiền sử sử dụng thuốc ngừa thai. Tỷ lệ mắc bệnh của chó giống ngoại và giống nội lần lượt là 15,19%; 7,66%. Tỷ lệ chó ở nhóm tuổi ≥ 2-5 năm có tỷ lệ mắc bệnh cao nhất (23,65%), kế đến là chó > 5 năm tuổi (8,36%) và chó < 2 năm tuổi (3,29%). Nhóm chó không sinh sản hoặc sinh sản không đều đặn có tỷ lệ mắc bệnh lần lượt là 21,26%; 14,15%. Những chó được nuôi thả và nuôi nhốt có tỷ lệ bệnh lần lượt là 15,32%; 7,17%. Tỷ lệ viêm tích mủ tử cung dạng hở và dạng kín có tỷ lệ bệnh lần lượt là 59,82%; 40,18%. Những con chó được điều trị khỏi bằng phương pháp phẫu thuật có tỷ lệ khỏi bệnh là 98,02%.

    DOI: https://doi.org/10.71254/p11yec40
  • ĐẶC ĐIỂM NGUỒN GIỐNG CÁ DỰA TRÊN KẾT QUẢ ĐIỀU TRA ĐA DẠNG SINH HỌC Ở VÙNG BIỂN TÂY NAM BỘ NĂM 2018

    Abstract : 12 PDF: 9
    Từ Hoàng Nhân, Đào Thị Liên, Nguyễn Văn Hải, Nguyễn Sỹ Đoàn, Nguyễn Khắc Bát
    161-166

    Năm 2018, Viện Nghiên cứu Hải sản thực hiện 2 chuyến điều tra nguồn lợi hải sản bằng lưới kéo tôm ở vùng biển Tây Nam bộ vào tháng 7 và tháng 11 đại diện cho hai mùa gió Tây Nam và Đông Bắc với 38 trạm mặt rộng, kết hợp với thu mẫu nguồn giống cá thuộc đề tài KC.09.10/16-20. Tổng số 76 mẫu trứng cá, cá con (TCCC) được thu thập và phân tích, bước đầu đã có 48 họ cá với 56 loài được xác định. Trong đó, nhóm cá con là 51 loài và nhóm trứng là 9 loài chiếm 4,39% tổng số trứng cá thu được. Mật độ TCCC trung bình toàn vùng biển là 1.485 và 754 cá thể/1.000 m3 tương ứng. Trứng cá phân bố tương đối tập trung, mùa gió Tây Nam, tập trung ở hai khu vực ven bờ thuộc cửa Rạch Giá và phía Nam đảo Thổ Chu với mật độ lớn hơn 1.200 TC/1.000 m3. Mùa gió Đông Bắc, phân bố tập trung ở khu vực phía Bắc quần đảo Nam Du và phía Nam đảo Thổ Chu, mật độ đạt 1.200 TC/1.000 m3. Cá con phân bố rải rác khắp vùng nghiên cứu. Trong khi mùa gió Tây Nam, phân bố tập trung ở khu vực ven bờ, với mật độ phổ biến từ 400 tới trên 600 cá thể/1.000 m3 thì có sự thay đổi rõ rệt ở mùa gió Đông Bắc, với hai vùng tập trung có phạm vi nhỏ là khu vực quần đảo Bà Lụa và quanh mũi Cà Mau với mật độ lớn hơn 600 cá thể/1.000 m3.

    DOI: https://doi.org/10.71254/6vwh0831
  • NGHIÊN CỨU SO SÁNH THÀNH PHẦN LOÀI CÁ PHÍA TRÊN VÀ PHÍA DƯỚI ĐẬP THỦY ĐIỆN SƠN LA, VIỆT NAM

    Abstract : 6 PDF: 4
    Nguyễn Thị Diệu Linh, Đặng Thị Thúy Yên, Phạm Ngọc Tuyên, Trần Trung Thành, Nguyễn Thành Nam
    167-174

    Đập thủy điện Sơn La nằm ở thượng nguồn sông Đà thuộc xã Ít Ong, huyện Mường La, tỉnh Sơn La, nơi có mức độ đa dạng sinh học cao, đặc biệt là sự đa dạng về thành phần loài cá. Dựa trên việc phân tích số liệu từ các nghiên cứu trước đây và các đợt khảo sát thực địa trong năm 2019 và 2020 ở khu vực sông Đà thuộc khu vực đập thủy điện Sơn La, thành phần loài cá của khu vực này được xác định gồm 69 loài và phân loài thuộc 18 họ, 8 bộ và thể hiện mức độ đa dạng cao ở về bậc bộ và bậc họ. Tại khu vực này có 7 loài (12,8%) nằm trong Sách Đỏ Việt Nam 2007 với 2 loài ở bậc Nguy cấp (EN) và 5 loài ở bậc Sắp nguy cấp (VU); 55 loài trong Danh lục Đỏ IUCN, 6 loài bậc sẽ nguy cấp VU, 2 loài bậc sắp bị đe dọa NT, 28 loài bậc ít quan tâm LC, 19 loài bậc thiếu dữ liệu (DD). Kết quả nghiên cứu đã bổ sung loài cá trôi Trường Giang (Prochilodus argenteus Spix & Agassiz, 1829) vào danh sách cá sông Đà khu vực Sơn La. Đập Sơn La đã thúc đẩy các yếu tố tổng hợp dẫn đến sự thay đổi thành phần loài cá của khu vực này và làm cho mức độ gần gũi về thành phần loài cá phía trên và phía dưới đập thủy điện Sơn La được tính toán theo công thức Stugren-Radulescu chỉ ở mức độ “Gần ít” với R = -0,18. Đây là nghiên cứu đầu tiên về thành phần loài cá ở khu vực đập thủy điện Sơn La từ sau khi đập được xây dựng và đưa vào hoạt động năm 2012.

    DOI: https://doi.org/10.71254/28n87587
  • NGHIÊN CỨU TÁC ĐỘNG MÔI TRƯỜNG CỦA HOẠT ĐỘNG NUÔI CÁ LỒNG TẠI MỘT SỐ TỈNH PHÍA BẮC

    Abstract : 13 PDF: 10
    Nguyễn Thị Là, Nguyễn Hữu Nghĩa, Phạm Thái Giang
    175-184

    Hoạt động nuôi cá lồng trên sông/hồ ở Hòa Bình, Yên Bái và Hải Dương cho sản lượng tương ứng 3.068 tấn, 8.500 tấn và 16.500 tấn vào năm 2019, chiếm 40,9%; 80,1% và 19,9% sản lượng nuôi thủy sản ở Hòa Bình, Yên Bái và Hải Dương, đã góp phần mang lại hiệu quả phát triển kinh tế cho địa phương. Tuy nhiên, hoạt động nuôi cá lồng còn là nguyên nhân gây ra tình trạng ô nhiễm môi trường nước xung quanh khu vực nuôi thủy sản và ảnh hưởng tới những vùng khác, đặc biệt là vùng hạ lưu do sự dư thừa thức ăn, chất thải của cá nuôi và người nuôi sống trên bè, thuốc và hóa chất phòng trị bệnh được sử dụng trong quá trình nuôi. Quan trắc môi trường nước vùng nuôi cá lồng tại Hải Dương, Yên Bái và Hòa Bình được tiến hành từ tháng 4 đến tháng 10 năm 2019. Kết quả quan trắc đã phát hiện các thông số COD vượt ngưỡng vào tháng 4, 6 và 7; N-NO2 vượt ngưỡng vào tháng 6, 8 và 9; N-NH3 vượt ngưỡng vào tháng 6 tại Hải Dương. Thông số N-NO2 vượt ngưỡng vào tháng 6 và COD vượt ngưỡng vào tháng 7 tại Yên Bái. Phân tích tương quan các thông số môi trường cho thấy hàm lượng oxy hòa tan có tương quan nghịch (P<0,01) với các thông số N-NH3, N-NO2, H2S, COD, N-NH4, P-PO4, tảo độc. Hàm lượng H2S và COD có tương quan thuận với mật độ tảo độc (P<0,01). Các thông số N-NH3, N-NO2, H2S, COD, N-NH4, P-PO4 có tương quan thuận với nhau (P<0,01).

    DOI: https://doi.org/10.71254/5skpyh29
  • NGHIÊN CỨU THIẾT KẾ, CHẾ TẠO VÀ KHẢO NGHIỆM MÁY TÁCH HẠT ĐẬU XANH

    Abstract : 6 PDF: 7
    Đỗ Minh Cường, Bùi Tấn Thông
    185-191

    Bài báo trình bày một số kết quả tính toán thiết kế, chế tạo và khảo nghiệm máy tách hạt đậu xanh. Máy sử dụng nguyên lý va đập để gây vỡ vỏ và phân ly làm sạch hạt nhờ quạt. Một số chi tiết chính của máy được tính toán thiết kế sử dụng phương pháp lý thuyết kết hợp với thực nghiệm. Kết quả khảo nghiệm cho thấy máy có cấu tạo đơn giản, vận hành an toàn, chất lượng làm việc tốt, hiệu suất tách vỏ đạt 98,8%, hiệu suất phân ly hạt đạt 97,6%, độ sạch đạt 96,2% khi tốc độ trống đập 450 vg/ph (5,5 m/s). Mẫu máy có thể sử dụng để phục vụ cho cơ giới hoá khâu đập vỏ tách hạt, góp phần đẩy mạnh cơ giới hoá khâu thu hoạch cây đậu xanh.

    DOI: https://doi.org/10.71254/yyf4hs36
  • ĐÁNH GIÁ TÌNH HÌNH TRỒNG RỪNG CÂY BẢN ĐỊA Ở QUẢNG NINH

    Abstract : 7 PDF: 5
    Hoàng Văn Thắng 
    192-198

    Kết quả điều tra, đánh giá tình hình trồng rừng cây bản địa trên địa bàn 10 huyện, thị xã và thành phố của tỉnh Quảng Ninh năm 2020 cho thấy, đến nay có 23 loài cây bản địa đã được đưa vào trồng rừng ở Quảng Ninh và phân chia làm 2 nhóm gồm cây bản địa lá rộng và cây bản địa lá kim. Trong đó, diện tích rừng trồng cây bản địa lá kim chiếm ưu thế, đạt tới 42.182,4 ha, chiếm 84,1% tổng diện tích rừng trồng cây bản địa. Với các loài cây lá rộng bản địa thì Quế là loài cây chiếm diện tích lớn nhất chiếm tới 97,3%, diện tích rừng trồng cây lá rộng bản địa khác chỉ có khoảng 2,7%. Rừng trồng cây bản địa của Quảng Ninh được trồng với mật độ biến động rất lớn, dao động từ 275 - 6.600 cây/ha, trong đó mật độ 800 - 1.660 cây/ha là phổ biến nhất. Tỷ lệ sống của rừng trồng cây bản địa không cao, trung bình chỉ khoảng 65,5%. Đa số các loài cây bản địa đều chỉ đạt lượng tăng trưởng bình quân về đường kính và chiều cao phổ biến là 0,6 - 1,4 cm/năm và 0,6 - 1,4 m/năm. Một số loài cây bản địa như: Sồi phảng, Mỡ, Giổi xanh, Xoan ta, Sưa đỏ, Sa mộc,... có lượng tăng trưởng bình quân về trữ lượng có thể đạt trên 10 m3/ha/năm. Công tác chăm sóc, nuôi dưỡng các rừng trồng này hầu hết chưa được chủ rừng thực hiện tốt, đặc biệt là các rừng trồng cây bản địa có trồng cây phù trợ, dẫn đến nhiều mô hình có tỷ lệ sống thấp, cây sinh trưởng kém. Khả năng cung cấp gỗ lớn từ rừng trồng cây bản địa của Quảng Ninh hiện tại là khá hạn chế, đặc biệt là các loài cây gỗ có giá trị thương mại cao.

    DOI: https://doi.org/10.71254/70qby697