ĐẶC ĐIỂM NGUỒN GIỐNG CÁ DỰA TRÊN KẾT QUẢ ĐIỀU TRA ĐA DẠNG SINH HỌC Ở VÙNG BIỂN TÂY NAM BỘ NĂM 2018

Các tác giả

  • Từ Hoàng Nhân, Đào Thị Liên, Nguyễn Văn Hải, Nguyễn Sỹ Đoàn, Nguyễn Khắc Bát

DOI:

https://doi.org/10.71254/6vwh0831

Abstract

In 2018, two surveys of marine resources by shrimp trawl in the southwestern waters in july and november represented the southwest and northeast monsoon seasons with 38 stations, combined with fish seed source sampling at an early stage. A total of 76 samples were collected and analyzed, initially, we identified 48 families with 56 species. In particular, the young fish group is 51 species and the egg group is 9 species, accounting for 4.39% of the total. The average density of fish eggs and larvae in the entire sea area is 1,485 and 754 ind./1,000 m3 respectively. The eggs are distributed relatively concentrated, the southwest monsoon, they are focused in two core areas, the coastal area of ​​Rach Gia estuary and the southern area of ​​Tho Chu island with a density greater than 1,200 eggs/1,000 m3. In the Northeast monsoon season, they are fixed in the area north of Nam Du archipelago and south of Tho Chu island, with a density of 1,200 individuals/1,000 m3. Juveniles are scattered throughout the study area. While the Southwest monsoon season, they are distributed clustered in coastal areas, with the common density from 400 to over 600 individuals/1,000 m3, the Northeast monsoon season has a clear change, with two intense areas have range small is the Ba Lua island area and around Ca Mau cape with a density greater than 600 individuals/1,000 m3.

Keywords:

Fish eggs, larvae, density, distribution, monsoon season, Southwest region

Tóm tắt

Năm 2018, Viện Nghiên cứu Hải sản thực hiện 2 chuyến điều tra nguồn lợi hải sản bằng lưới kéo tôm ở vùng biển Tây Nam bộ vào tháng 7 và tháng 11 đại diện cho hai mùa gió Tây Nam và Đông Bắc với 38 trạm mặt rộng, kết hợp với thu mẫu nguồn giống cá thuộc đề tài KC.09.10/16-20. Tổng số 76 mẫu trứng cá, cá con (TCCC) được thu thập và phân tích, bước đầu đã có 48 họ cá với 56 loài được xác định. Trong đó, nhóm cá con là 51 loài và nhóm trứng là 9 loài chiếm 4,39% tổng số trứng cá thu được. Mật độ TCCC trung bình toàn vùng biển là 1.485 và 754 cá thể/1.000 m3 tương ứng. Trứng cá phân bố tương đối tập trung, mùa gió Tây Nam, tập trung ở hai khu vực ven bờ thuộc cửa Rạch Giá và phía Nam đảo Thổ Chu với mật độ lớn hơn 1.200 TC/1.000 m3. Mùa gió Đông Bắc, phân bố tập trung ở khu vực phía Bắc quần đảo Nam Du và phía Nam đảo Thổ Chu, mật độ đạt 1.200 TC/1.000 m3. Cá con phân bố rải rác khắp vùng nghiên cứu. Trong khi mùa gió Tây Nam, phân bố tập trung ở khu vực ven bờ, với mật độ phổ biến từ 400 tới trên 600 cá thể/1.000 m3 thì có sự thay đổi rõ rệt ở mùa gió Đông Bắc, với hai vùng tập trung có phạm vi nhỏ là khu vực quần đảo Bà Lụa và quanh mũi Cà Mau với mật độ lớn hơn 600 cá thể/1.000 m3.

Từ khóa:

Trứng cá, cá con, mật độ, phân bố, mùa gió, Tây Nam bộ

Tải xuống

Ngày nhận bài:

18-08-2026

Ngày nhận bài sửa:

31-10-2026

Ngày duyệt đăng:

31-10-2026

Ngày xuất bản:

30-04-2021

Title:

THE CHARACTERISTICS OF FISH SEED SOURCES BASED ON THE RESULTS OF BIODIVERSITY SURVEYS IN THE SOUTHWESTERN SEA OF VIETNAM IN 2018
Cách trích dẫn
ĐẶC ĐIỂM NGUỒN GIỐNG CÁ DỰA TRÊN KẾT QUẢ ĐIỀU TRA ĐA DẠNG SINH HỌC Ở VÙNG BIỂN TÂY NAM BỘ NĂM 2018. (2021). Tạp Chí Nông nghiệp Và Môi trường, 8, 161-166. https://doi.org/10.71254/6vwh0831
Bài viết

Các trích dẫn

ĐẶC ĐIỂM NGUỒN GIỐNG CÁ DỰA TRÊN KẾT QUẢ ĐIỀU TRA ĐA DẠNG SINH HỌC Ở VÙNG BIỂN TÂY NAM BỘ NĂM 2018. (2021). Tạp Chí Nông nghiệp Và Môi trường, 8, 161-166. https://doi.org/10.71254/6vwh0831
Lượt xem
12
Lượt tải
9