ĐÁNH GIÁ TÌNH HÌNH TRỒNG RỪNG CÂY BẢN ĐỊA Ở QUẢNG NINH
DOI:
https://doi.org/10.71254/70qby697Abstract
Results of investigation and assessment of the planting of indigenous tree species in 10 districts, towns and cities of Quang Ninh province in 2020 show that, there are 23 species of indigenous trees have been planted in Quang Ninh up to now and divided into 2 groups, including broadleaf indigenous trees and coniferous indigenous trees, in which the area of native coniferous trees dominates, reaching 42,182.4 ha, accounting for 84.1% of the total area of indigenous tree plantations. With native broadleaf species, Cinnamomun verum is the largest tree species, accounting for 97.3% and other indigenous broadleaf plantations only about 2.7%. Quang Ninh's indigenous tree plantations are planted with a very large variation density, ranging from 275 - 6,600 trees/ha, of which 800 - 1,660 trees/ha are the most common. The survival rate of indigenous plantations is not high, averaging about 65.5%. Most indigenous tree species have annual increment in diameter and height, commonly 0.6 - 1.4 cm/year and 0.6 - 1.4 m/year. Some indigenous tree species such as: Castanopsis cerebrina, Magnolia conifera, Melia azedarach, Michelia mediocris, Dalbergia tonkinensis, Cunninghamia lanceolata,… have an average growth rate of over 10 m3/ha/year. The tending and thinning practises for these plantation by forest owners mostly not done well, especially indigenous plantaions with support trees, leading to many plantaions with low survival rate and tree growth. Quang Ninh's current ability to supply timber from indigenous plantations is quite limited, especially for high commercial value timber species.
Keywords:
Quang Ninh, indigenous trees, plantationTóm tắt
Kết quả điều tra, đánh giá tình hình trồng rừng cây bản địa trên địa bàn 10 huyện, thị xã và thành phố của tỉnh Quảng Ninh năm 2020 cho thấy, đến nay có 23 loài cây bản địa đã được đưa vào trồng rừng ở Quảng Ninh và phân chia làm 2 nhóm gồm cây bản địa lá rộng và cây bản địa lá kim. Trong đó, diện tích rừng trồng cây bản địa lá kim chiếm ưu thế, đạt tới 42.182,4 ha, chiếm 84,1% tổng diện tích rừng trồng cây bản địa. Với các loài cây lá rộng bản địa thì Quế là loài cây chiếm diện tích lớn nhất chiếm tới 97,3%, diện tích rừng trồng cây lá rộng bản địa khác chỉ có khoảng 2,7%. Rừng trồng cây bản địa của Quảng Ninh được trồng với mật độ biến động rất lớn, dao động từ 275 - 6.600 cây/ha, trong đó mật độ 800 - 1.660 cây/ha là phổ biến nhất. Tỷ lệ sống của rừng trồng cây bản địa không cao, trung bình chỉ khoảng 65,5%. Đa số các loài cây bản địa đều chỉ đạt lượng tăng trưởng bình quân về đường kính và chiều cao phổ biến là 0,6 - 1,4 cm/năm và 0,6 - 1,4 m/năm. Một số loài cây bản địa như: Sồi phảng, Mỡ, Giổi xanh, Xoan ta, Sưa đỏ, Sa mộc,... có lượng tăng trưởng bình quân về trữ lượng có thể đạt trên 10 m3/ha/năm. Công tác chăm sóc, nuôi dưỡng các rừng trồng này hầu hết chưa được chủ rừng thực hiện tốt, đặc biệt là các rừng trồng cây bản địa có trồng cây phù trợ, dẫn đến nhiều mô hình có tỷ lệ sống thấp, cây sinh trưởng kém. Khả năng cung cấp gỗ lớn từ rừng trồng cây bản địa của Quảng Ninh hiện tại là khá hạn chế, đặc biệt là các loài cây gỗ có giá trị thương mại cao.








