Số 9 (2021)

					Xem Số 9 (2021)
Đã Xuất bản: 15-05-2021

Bài viết

  • NGHIÊN CỨU SỰ TƯƠNG TÁC KIỂU GEN VÀ MÔI TRƯỜNG CỦA BỘ GIỐNG CHỐNG CHỊU MẶN TẠI ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG

    Abstract : 13 PDF: 10
    Nguyễn Trọng Phước, Nguyễn Thị Lang, Bùi Chí Bửu
    3-10

    Đã tiến hành phân tích tương tác giữa kiểu gen và môi trường của bộ giống ngắn ngày trong hai vụ: đông xuân 2019-2020 và hè thu 2019 theo theo mô hình tuyến tính, chỉ số thích nghi, chỉ số ổn định, kết hợp với phân tích theo mô hình AMMI triển khai giản đồ biplot AMM2 model, phân nhóm kiểu gen và phân nhóm môi trường. Kết quả cho thấy tại 6 địa điểm: Bến Tre, Sóc Trăng, Cần Thơ, Trà Vinh, Bạc Liêu và Long An các dòng/giống chống chịu mặn chịu ảnh hưởng tương tác kiểu gen và với môi trường qua vụ đông xuân: BC3F3-11(OM1490/Pokkali) và BC3F3-34 (OM1490/Pokkali). Phân tích tương tác kiểu gen và môi trường trên tính trạng chống chịu mặn ghi nhận trong vụ hè thu có dòng BC3F3-51(OM1490/Pokkali) và BC3F3-39(OMCS2000/Pokkali) cho chỉ số ổn định cao nhất, kế đến là dòng BC3F3-34 từ tổ hợp lai (OM14900/Pokkali).

    DOI: https://doi.org/10.71254/j81eat11
  • ĐÁNH GIÁ ĐA DẠNG DI TRUYỀN TẬP ĐOÀN HOA LAN HOÀNG THẢO PHI ĐIỆP (DENDROBIUM ANOSMUM) BẰNG GIẢI TRÌNH TỰ VÙNG ITS (INTERNAL TRANSCRIBED SPACER)

    Abstract : 12 PDF: 12
    Khuất Hữu Trung, Trương Quốc Chính, Trần Duy Dương, Kiều Thị Dung, Trần Đăng Khánh
    11-18

    Các giống hoa lan Hoàng Thảo Phi Điệp (Dendrobium anosmum) trên thị trường rất đa dạng và phức tạp, rất khó để phân biệt giữa giống này với giống khác vì đặc điểm hình thái bên ngoài của chúng rất giống nhau trước khi phát triển hoa. Trong nghiên cứu này, 118 mẫu giống Hoàng Thảo Phi Điệp (Dendrobium anosmum) thu thập ở các vùng khác nhau đã được khuếch đại và giải thành công vùng ITS1, 5.8S và ITS2 (Internal Transcribed Spacer) với chiều dài từ 700 - 800 bp. Dựa trên kết quả giải trình tự vùng ITS đã xác định được 02 mẫu giống khác biệt là mẫu giống L28 (Hạc vĩ - Dendrobium aphyllum) và mẫu giống L35 (Hoàng Thảo trầm - Dendrobium parishii), các mẫu giống còn lại đều thuộc loài Dendrobium anosmum. Qua kết  quả so sánh trình tự đoạn ITS của các mẫu giống hoa lan Hoàng Thảo Phi Điệp bản địa Việt Nam và thế giới cho thấy chúng có độ tương đồng cao so với các mẫu của thế giới, chỉ có sự sai khác ở một số vị trí nucleotide từ đoạn 592-646 bp và được phân thành các nhóm khác nhau. Dựa vào trình tự sai khác chỉ có thể nhận dạng được một số mẫu giống trong loài. Vì vậy, muốn xác định chính xác từng giống trong cùng một loài Dendrobium anosmum của Việt Nam, cần tiếp tục sử dụng thêm các chỉ thị khác như SSR hoặc ISSR hoặc giải trình tự hệ gen của các giống trong nhóm. 

    DOI: https://doi.org/10.71254/d7gqj795
  • NGHIÊN CỨU KHẢ NĂNG SINH TRƯỞNG, PHÁT TRIỂN VÀ NĂNG SUẤT CỦA MỘT SỐ GIỐNG NGÔ LAI MỚI TẠI TÂY NGUYÊN

    Abstract : 6 PDF: 5
    Lê Quý Tường, Nguyễn An Ninh, Nguyễn Hữu Khải
    19-24

    Nghiên cứu sinh trưởng, phát triển và năng suất của 4 giống ngô lai mới trong vụ hè thu 2019, thu đông 2019, đông xuân 2019-2020 tại Tây Nguyên. Thí nghiệm khảo nghiệm diện hẹp, bố trí theo khối ngẫu nhiên hoàn chỉnh, 3 lần lặp. Kết quả đã xác định được 02 giống ngô lai triển vọng: Giống STG257, thời gian sinh trưởng  118 ngày (vụ đông xuân), 101 ngày (vụ hè thu), 109 ngày (vụ thu đông, năng suất TB 82,48 tạ/ha, vượt giống CP888 (đối chứng) 23,6%; ít bị nhiễm sâu đục thân (điểm 1), ít bị nhiễm bệnh khô vằn (0%), ít bị nhiễm bệnh đốm lá lớn (điểm 1), chống đổ tốt, chịu hạn khá; giống HTK150713 có TGST 120 ngày (vụ đông xuân), 105 ngày (vụ hè thu) và 112 ngày (vụ thu đông), năng suất TB 82,24 tạ/ha, vượt giống CP888 (đối chứng) 23,3%; ít bị nhiễm sâu đục thân (điểm 1), ít bị nhiễm bệnh khô vằn (0%), ít nhiễm bệnh đốm lá lớn (điểm 1), chống đổ tốt, chịu hạn khá.

    DOI: https://doi.org/10.71254/0mmkme46
  • XÁC ĐỊNH GIỐNG TIÊU CÓ NĂNG SUẤT CAO, CHẤT LƯỢNG TỐT VÀ PHÙ HỢP VỚI ĐIỀU KIỆN CANH TÁC TẠI HUYỆN PHÚ GIÁO, TỈNH BÌNH DƯƠNG

    Abstract : 6 PDF: 5
    Nguyễn Văn An, Nguyễn Thị Hương, Trần Kim Ngọc, Nguyễn Văn Mãnh, Đoàn Thị Hồng Cam, Trần Tuấn Anh, Hoàng Thị Tuyết, Nguyễn Tiến Hải, Nguyễn Văn Phúc
    25-33

    Đánh giá các giống tiêu đang được trồng phổ biến từ năm 2017 đến năm 2020, nhằm xác định được 1-2 giống có khả năng sinh trưởng tốt, năng suất cao, phù hợp với điều kiện canh tác tại huyện Phú Giáo. Kết quả đã chỉ ra: (i) Các giống có khả năng sinh trưởng phát triển khá tốt. Trong hai giai đoạn sinh trưởng, các giống đều nhiễm bệnh chết nhanh, vàng lá chết chậm và thán thư nhưng với tỷ lệ thấp. Trong khi đó, giống Sẻ Phú Quốc nhiễm ba loại bệnh này với tỷ lệ cao nhất. Bọ xít lưới và rệp sáp gây hại trên cả bốn giống tiêu ở giai đoạn kiến thiết cơ bản (KTCB) với tỷ lệ không đáng kể nhưng tăng cao hơn ở giai đoạn kinh doanh (KD). (ii) Năng suất của giống Vĩnh Linh đạt cao nhất ở cả hai giai đoạn theo dõi, kế đến là Sẻ Lộc Ninh và cao hơn các giống khác có ý nghĩa thống kê. Trong giai đoạn KTCB, giống Vĩnh Linh và Sẻ Lộc Ninh đạt năng suất bình quân lần lượt là 1,27 tấn/ha và 1,21 tấn/ha ở niên vụ 2019-2020 (thu hoạch vụ đầu tiên). Trong giai đoạn kinh doanh, giống Vĩnh Linh đạt năng suất bình quân lần lượt là 2,5 tấn/ha, 3,42 tấn/ha và 1,46 tấn/ha; Sẻ Lộc Ninh lần lượt là 2,37 tấn/ha, 2,33 tấn/ha và 1,45 tấn/ha theo thứ tự qua ba niên vụ theo dõi 2017-2020. Dung trọng của giống Vĩnh Linh đạt trên 560 g/L và 530 g/L ở giống Sẻ Lộc Ninh. Như vậy, hai giống Vĩnh Linh và Sẻ Lộc Ninh có khả năng sinh trưởng tốt, năng suất và dung trọng đạt khá cao, và thích hợp với điều kiện canh tác tại huyện Phú Giáo.

    DOI: https://doi.org/10.71254/3hf2g021
  • KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU CHỌN TẠO VÀ KHẢO NGHIỆM GIỐNG CÀ CHUA LAI VT15

    Abstract : 6 PDF: 5
    Đoàn Xuân Cảnh, Nguyễn Đình Thiều, Đoàn Thị Thanh Thúy, Nguyễn Thị Thanh Hà
    34-41

    VT15 là giống cà chua lai (F1) do Viện Cây lương thực và Cây thực phẩm tạo ra từ tổ hợp lai (D15 x D24) năm 2014. Kết quả khảo nghiệm và mở rộng sản xuất từ năm 2016-2020 xác định được giống VT15 có khả năng sinh trưởng, phát triển tốt, thuộc dạng hình sinh trưởng bán hữu hạn (BHH), thời gian sinh trưởng 130-135 ngày, thời gian thu quả sau trồng 75-80 ngày, chiều cao cây 138,14 cm. Quả có dạng tròn cao, chỉ số dạng quả H=1,06, cùi quả dày >0,9 cm, hàm lượng chất khô 5,8%, độ Brix: 5,21%, khi chín quả có màu đỏ tươi. Giống có khả năng chống chịu bệnh mốc sương trên đồng ruộng ở điểm* 2-3, bệnh héo xanh vi khuẩn thấp và kháng bệnh virus xoăn vàng lá trên đồng ruộng khá. Năng suất đạt 68,49 tấn/ha vụ thu đông (gieo hạt 25/8) và đạt 71,88 tấn/ha trong vụ đông (gieo hạt 10/9), vượt giống đối chứng Savior 19,44- 22,29%. Giống cà chua VT15 đã được khảo nghiệm sản xuất tại các tỉnh Hà Nam, Hưng Yên, Hải Dương, Bắc Giang năm 2018-2020, quy mô 20,0 ha, năng suất đạt 46-47 tấn/ha trong vụ xuân hè và đạt 62,25-68,23  tấn/ha trong thu đông, vượt đối chứng >15%.

    DOI: https://doi.org/10.71254/ays3d592
  • ẢNH HƯỞNG CỦA LIỀU LƯỢNG PHÂN HỮU CƠ VÀ KẼM ĐẾN SINH TRƯỞNG VÀ NĂNG SUẤT TINH DẦU SẢ JAVA (Cymbopogon winterianus Jawitt) TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

    Abstract : 11 PDF: 12
    Nguyễn Phạm Hồng Lan, Phạm Thị Minh Tâm, Nguyễn Thị Hồng HonDa, Trần Thanh Di, Nguyễn Thiện Dương
    42-48

    Sả Java được trồng phổ biến ở Việt Nam để sử dụng cho công nghiệp và dược liệu. Với sự gia tăng của nhu cầu sả nguyên liệu, việc áp dụng phân bón là một trong những biện pháp kỹ thuật để tăng sản lượng sả. Một thí nghiệm 2 yếu tố đã được bố trí theo kiểu khối đầy đủ ngẫu nhiên để tìm hiểu ảnh huởng của liều lượng bón phân hữu cơ và kẽm đến sinh trưởng của cây và năng suất tinh dầu của sả Java. Trên nền phân chung cho thí nghiệm (tính cho 1 ha) là 500 kg vôi + 120 kg N + 60 kg P2O5 + 60 kg K2O, yếu tố H là 2 mức phân bò (20 tấn/ha và 10 tấn/ha) và yếu tố Z là 4 liều lượng phân kẽm (0, 3, 6, 9 kg Zn/ha). Tổng năng suất lá sả Java thực thu (11,9 tấn/ha/2 đợt) và năng suất tinh dầu sả Java của 2 đợt (127,4 kg/ha/2 đợt) đạt cao nhất khi cây sả được bón phân hữu cơ 10 tấn/ha. Việc bón kẽm cho cây sả với liều lượng từ 0 –9 kg/ha chưa thấy tác động rõ rệt đến sinh trưởng cũng như năng suất sả và hàm lượng tinh dầu. Khi kết hợp bón phân hữu cơ (10 – 20 tấn/ha) với bón kẽm (0 –9 kg/ha) chưa tác động đến năng suất lá và năng suất tinh dầu sả Java.

    DOI: https://doi.org/10.71254/bpn3nd10
  • THỰC TRẠNG Ô NHIỄM KIM LOẠI NẶNG TRONG ĐẤT SẢN XUẤT NÔNG NGHIỆP TỈNH HẢI DƯƠNG

    Abstract : 13 PDF: 11
    Trần Thị Minh Thu, Trần Minh Tiến, Đặng Thị Thanh Hảo, Đỗ Trọng Thăng, Tạ Hồng Minh
    49-54

    Kết quả điều tra, đánh giá ô nhiễm kim loại nặng (KLN) của 387 mẫu đất sản xuất nông nghiệp của tỉnh Hải Dương [vùng gần nguồn gây ô nhiễm: làng nghề, cơ sở y tế, khu công nghiệp (KCN), cụm công nghiệp (CCN), nước thải sinh hoạt, bãi rác và vùng chuyên canh] cho thấy hầu hết đất sản xuất nông nghiệp tỉnh (74,42%) chưa bị ô nhiễm kim loại nặng với 288/387 mẫu, ở mức cận ô nhiễm 94 mẫu chiếm 24,29% và chỉ có 5 mẫu đất (chiếm 1,29%) được đánh giá ở mức ô nhiễm theo ngưỡng giới hạn cho phép của Bộ Tài nguyên và Môi trường (QCVN03-MT:2015/BTNMT). Hai kim loại có tính độc cao (Pb và As) có trong khá nhiều mẫu ở ngưỡng cận ô nhiễm (27 mẫu đối với Pb và 81 mẫu đối với As). Các mẫu đất được đánh giá là bị ô nhiễm tập trung ở làng nghề vàng bạc Châu Khê, cụm công nghiệp Tân Hồng - Vĩnh Hồng, cụm công nghiệp Phú Thứ và khu vực thâm canh cao; các mẫu đất cận ô nhiễm kim loại nặng tập trung nhiều ở gần khu công nghiệp hoặc khu vực thâm canh cao.

    DOI: https://doi.org/10.71254/c0p71031
  • ẢNH HƯỞNG TƯỚI NƯỚC SÔNG NHIỄM MẶN LÊN SỰ MẶN HÓA CỦA ĐẤT LÚA VÀ GIẢI PHÁP RỬA MẶN TRONG ĐIỀU KIỆN NHÀ LƯỚI

    Abstract : 6 PDF: 5
    Trần Kiều Linh, Đặng Hữu Trí, Vũ Thị Xuân Nhường, Bùi Thanh Dung, Đặng Quốc Thiện, Phan Ngọc Phối, Nguyễn Thị Diễm Trinh, Nguyễn Châu Thanh Tùng, Ngô Thụy Diễm Trang
    55-64

    Nghiên cứu được thực hiện nhằm đánh giá tác động của sự xâm nhập mặn với các mức độ mặn khác nhau lên sự nhiễm mặn của đất lúa và xác định giải pháp rửa mặn phù hợp. Các thí nghiệm được bố trí lần lượt và trong điều kiện nhà lưới theo kiểu bố trí nhân tố hoàn toàn ngẫu nhiên với 3 lần lặp lại, bao gồm 3 thí nghiệm: (i) Sự tích lũy mặn khi tưới nước sông nhiễm mặn lên sự nhiễm mặn của đất lúa; (ii) Giải pháp rửa mặn trong điều kiện nhà lưới; (iii) Khả năng cải thiện đặc tính nhiễm mặn của đất sau khi rửa mặn. Khi tưới nước sông nhiễm mặn bổ sung 5, 10 và 15 g NaCl/L (tương ứng độ mặn 5, 10 và 15‰) vào đất lúa trong 30 ngày đã dẫn đến tình trạng mặn hóa đất, cụ thể ECe trong đất tương ứng 5,82; 7,34 và 11,12 mS/cm. Nồng độ Na+ tích lũy trong đất càng nhiều khi tưới nước sông nhiễm độ mặn càng cao, cụ thể ở mức 0, 5, 10 và 15 g NaCl/L, hàm lượng Na+ trong đất là 253,7; 1137,4; 1574,7 và 2712 mg/kg. Sử dụng nước mưa rửa mặn mang lại hiệu suất rửa mặn cao (70-75%). Đất sau khi ngâm rửa mặn bằng nước mưa trong thời gian ngâm đất 15 ngày, sau đó tháo nước bỏ đi, được cải thiện thông qua sinh trưởng và sinh khối tươi của cây mạ 21 ngày sau gieo. 

    DOI: https://doi.org/10.71254/3zp1tm65
  • ẢNH HƯỞNG CỦA MỘT SỐ CHỈ TIÊU LÝ HÓA TÍNH ĐẤT ĐẾN MẬT ĐỘ TUYẾN TRÙNG TRONG ĐẤT TRỒNG TIÊU TỈNH GIA LAI

    Abstract : 14 PDF: 12
    Nguyễn Ngọc Sinh, Nguyễn Vũ Đức Thịnh, Lê Quốc Tuấn
    65-73

    Cây hồ tiêu (Piper nigrum L.) là cây trồng có giá trị kinh tế cao và có ý nghĩa rất lớn đối với đời sống của người dân địa bàn tỉnh Gia Lai. Phân tích, đánh giá tác động của một số chỉ tiêu lý hóa tính đất đến mật độ của tuyến trùng trong đất là cơ sở để áp dụng các phương pháp quản lý tổng hợp để phát triển hồ tiêu bền vững. Kết quả nghiên cứu phân tích được 26 giống tuyến trùng thuộc 16 họ và 7 bộ khác nhau trong đất ở địa bàn nghiên cứu. Trong quá trình canh tác hồ tiêu, người dân đã sử dụng phân bón, đặc biệt là phân hóa học và thuốc bảo vệ thực vật không hợp lý, không chỉ ảnh hướng đến môi trường đất mà còn ảnh hưởng đến khả năng phát triển và chống chịu dịch bệnh của hồ tiêu. Kết quả nghiên cứu cũng cho thấy môi trường đất có pH càng thấp và đất càng nghèo axit humic thì mật độ tuyến trùng càng cao. Ngoài ra, trong môi trường đất trồng hồ tiêu còn phát hiện các chi nấm, đặc biệt là Fusarium sp., chi nấm này khi kết hợp với tuyến trùng gây ra bệnh vàng lá. Các nguyên nhân trên góp phần làm giảm năng suất tiêu trên địa bàn. Vì vậy, các giải pháp cần tập trung vào việc cải thiện chất lượng môi trường đất nhằm ngăn ngừa hoạt động của tuyến trùng và tăng sức đề kháng cho cây hồ tiêu.

    DOI: https://doi.org/10.71254/ytanvf34
  • ỨNG DỤNG TẠO MÀNG CỦA BỘT HUYỀN TRONG BẢO QUẢN XOÀI BA MÀU (Mangifera indica L.) CẮT LÁT

    Abstract : 6 PDF: 5
    Hồ Thanh Bình, Vũ Thị Thanh Đào, Nguyễn Thị Cúc Hương
    74-80

    Nghiên cứu được thực hiện nhằm đánh giá khả năng tạo màng của bột huyền (Tacca leontopetaloides (L.) Kuntze) trồng tại huyện Tịnh Biên, An Giang và ứng dụng trong bảo quản xoài ba màu (Mangifera indica) cắt lát so với tinh bột sắn và chitosan. Kết quả nghiên cứu ban đầu cho thấy nhiệt độ dung dịch bột huyền ở 40oC là phù hợp cho việc bao màng xoài cắt lát. Qua 7 ngày bảo quản, việc bao màng bằng bột huyền giúp hạn chế hao hụt khối lượng, thay đổi màu sắc và sự gia tăng hàm lượng acid, đồng thời đảm bảo giá trị cảm quan của xoài cắt lát so với mẫu không bao màng. Nhìn chung, các tác dụng này của màng bao bột huyền không khác biệt thống kê với màng bao chitosan và tốt hơn màng bao tinh bột sắn.

    DOI: https://doi.org/10.71254/cqk0wq62
  • NGHIÊN CỨU KHẢ NĂNG BẢO QUẢN THỊT HEO TƯƠI BẰNG HỖN HỢP TINH DẦU QUẢ MÀNG TANG (Litsea cubeba) VÀ CHITOSAN Ở NHIỆT ĐỘ LẠNH

    Abstract : 12 PDF: 13
    Nguyễn Hải Vân, Lưu Việt Hà, Hoàng Thị Kim Anh, Phan Thanh Tâm
    81-88

    Nghiên cứu này nhằm mục đích xác định ảnh hưởng việc xử lý phức hợp tinh dầu quả màng tang (TDMT) và chitosan (CTS) đến các chỉ tiêu cảm quan (màu sắc, cấu trúc, mùi, vị), chỉ tiêu hoá lý (pH, NH3), chỉ tiêu vi sinh vật (vi sinh vật hiếu khí tổng số, E. coli, Enterobactericeae) và thời hạn bảo quản thịt lợn tươi. Thịt nạc mông tươi được tiến hành phun CTS, TDMT và phức hợp CTS-TDMT lên bề mặt và lên màng bao miếng thịt ở nồng độ tương ứng là 0,32; 0,02; 0,08 - 0,005% (w/w) và bảo quản ở điều kiện lạnh (2 ± 2°C). Kết quả cho thấy mẫu phun hỗn hợp CTS - TDMT lên bề mặt thịt có tác dụng tốt nhất trong việc kéo dài thời gian bảo quản thịt lợn tươi (15 ngày), tiếp theo là mẫu phun TDMT lên bề mặt thịt, phun CTS lên bề mặt thịt, phun hỗn hợp CTS - TDMT lên màng bao gói, phun TDMT lên màng bao gói (12 ngày) và kém nhất ở mẫu phun CTS lên màng bao gói (9 ngày). Kết quả nghiên cứu chứng minh tiềm năng ứng dụng của các hợp chất tự nhiên trong bảo quản thịt ở điều kiện lạnh.

    DOI: https://doi.org/10.71254/ffamy158
  • ẢNH HƯỞNG CỦA CÁC NGUYÊN LIỆU BỔ SUNG ĐẾN CHẤT LƯỢNG THỊT CUA ĐỒNG ĐÓNG HỘP

    Abstract : 7 PDF: 10
    Nguyễn Duy Tân, Võ Thị Xuân Tuyền, Võ Tấn Thạnh, Nguyễn Thị Minh Anh
    89-97

    Nghiên cứu được thực hiện nhằm khảo sát ảnh hưởng của tỷ lệ đậu hũ (15, 20, 25 và 30%) và trứng vịt (25, 30, 35 và 40%); ảnh hưởng của tỷ lệ bột mì (3, 5, 7 và 9%) và bột bắp (2, 4, 6 và 8%) bổ sung so với thịt cua đến giá trị cảm quan (màu sắc, mùi vị, cấu trúc và mức độ ưa thích) và các thành phần hóa lý (hàm lượng protein, đường tổng, độ cứng, độ dính, hàm ẩm, giá trị độ sáng L và độ khác màu tổng ΔE) của sản phẩm thịt cua đồng đóng hộp. Kết quả nghiên cứu cho thấy tỷ lệ đậu hũ, trứng vịt, bột mì và bột bắp bổ sung tối ưu lần lượt là 25%, 35%, 7% và 4%. Sản phẩm thu được có giá trị cảm quan về màu sắc, mùi vị, cấu trúc và mức độ ưa thích cao. Ngoài ra, sản phẩm còn có hàm lượng protein 74,91 mg/g; đường tổng số 9,36%; độ cứng 315,25 g lực; độ dính 92,41 g lực; hàm ẩm 70,77%; giá trị độ sáng L 44,73 và độ khác màu tổng ΔE 46,52.

    DOI: https://doi.org/10.71254/stxszp74
  • NGHIÊN CỨU ẢNH HƯỞNG CỦA CHITOSAN VÀ DỊCH CHIẾT TRÀ XANH ĐẾN CHẤT LƯỢNG FILLET CÁ TRA (Pangasius hypophthalmus) ĐÔNG LẠNH

    Abstract : 13 PDF: 16
    Trần Thị Hồng Cẩm, Nguyễn Thị Thanh Bình
    98-104

    Mục tiêu của nghiên cứu này là đánh giá ảnh hưởng của chitosan, trà xanh và hỗn hợp chitosan-trà xanh đến chất lượng của sản phẩm fillet cá tra (Pangasius hypophthalmus) đông lạnh trong thời gian bảo quản. Dịch chiết trà xanh 8% (T) và dung dịch chitosan 2% trong acid acetic 1% (C) và hỗn hợp của chúng (CT) được sử dụng để xử lý 5 mẫu cá tra fillet đông lạnh: mẫu không rửa trà, mạ băng bằng chitosan (KTC); mẫu không rửa trà, mạ băng bằng chitosan-trà (KTCT); mẫu rửa trà, mạ băng bằng chitosan (TC); mẫu rửa trà, mạ băng bằng chitosan-trà (TCT) và mẫu đối chứng: không rửa trà và không mạ băng bằng chitosan (DC). Định kì 15 ngày kiểm tra mẫu theo các chỉ tiêu: chỉ số TBARS, hàm lượng nitơ amoniac, màu sắc, pH, hiệu suất rã đông. Sau 60 ngày, kết quả thu được như sau: Mẫu TCT có chất lượng tốt nhất với chỉ số TBARS là 1,12 mg MDA/kg, hàm lượng nito amoniac là 12,2 mg/100 g. Trà xanh và chitosan có khả năng làm chậm quá trình oxy hóa và không có ảnh hưởng xấu đến độ sáng của mẫu, màu sắc đặc trưng của cá được giữ ổn định khi mạ băng bằng chitosan. Nhóm mẫu có xử lý trà xanh có giá trị pH thấp hơn và có xu hướng ổn định sau 45 ngày bảo quản. Hiệu suất rã đông của các mẫu mạ băng bằng chitosan cao hơn hẳn mẫu đối chứng.

    DOI: https://doi.org/10.71254/jdbgxe95
  • NGHIÊN CỨU SỬ DỤNG ENZYME ĐỂ CHIẾT XUẤT PECTIN TỪ VỎ CHANH LEO TÍM

    Abstract : 6 PDF: 5
    Nguyễn Thị Hồng Hà, Nguyễn Ngọc Huyền, Nguyễn Thị Hương Trà, Vũ Thu Diễm, Đỗ Thị Thu Hiền, Lê Khánh Linh
    105-111

    Pectin là một chất phụ gia thực phẩm sinh học an toàn và có cấu tạo gồm các polysaccharite dị thể, mạch thẳng, dẫn xuất methyl của axit pectic. So với polysaccarits khác, pectin có nhiều lợi thế như ổn định nhiệt và axit, điều chỉnh độ đàn hồi gel và độ cứng, độ trong suốt cao, giải phóng hương vị tốt. Nó được ứng dụng trong thực phẩm, dược phẩm và các ngành công nghiệp khác như một chất tạo độ đặc, ổn định, làm dày, chất nhũ hóa và chất tạo gel. Bài báo trình bày các kết quả nghiên cứu sử dụng enzyme để chiết xuất pectin từ vỏ chanh leo tím. Trong số các chế phẩm enzyme thử nghiệm (Celluclast® 1,5L và Viscozyme®) đã lựa chọn Celluclast® 1,5L là enzyme thích hợp cho quá trình thủy phân để thu hồi hàm lượng pectin từ vỏ chanh leo tím. Đã tìm được các thông số thích hợp cho quá trình thủy phân của enzyme: nồng độ enzyme 0,5%; pH 4,5 - 5,0; thời gian 120 phút, nhiệt độ 45oC – 50oC, tốc độ khuấy 150 vòng/phút. Ở điều kiện này, phương pháp sử dụng enzyme cho sản lượng pectin đạt 3,6 g/100 g nguyên liệu, cao hơn 27,65% so với phương pháp hóa học. 

    DOI: https://doi.org/10.71254/7k4y8691
  • CẤU TRÚC VÀ TÍNH CHẤT LƯU BIẾN CỦA CARRAGEENAN THU NHẬN TỪ RONG SỤN (Kappaphycus alvarezii) NUÔI TRỒNG TẠI CAM RANH, KHÁNH HÒA

    Abstract : 6 PDF: 5
    Bùi Trần Nữ Thanh Việt, Nguyễn Trọng Bách
    112-118

    Nghiên cứu này tập trung vào tính chất lưu biến và cấu trúc của keo carrageenan (Car), loại keo được chiết xuất từ rong sụn Kappaphycus alvarezii (Ka) nuôi trồng tại vịnh Cam Ranh, tỉnh Khánh Hòa. Sử dụng phương pháp tách chiết keo rong trong nước nóng nhằm giảm ảnh hưởng đến cấu trúc tự nhiên của carrageenan. Rong thô được tinh chế và loại bỏ muối trước khi tiến hành phân tích cấu trúc và tính chất tạo gel. Kết quả phân tích cấu trúc cho thấy Car thu nhận từ rong Ka chứa chủ yếu là loại kappa-car (95%), khối lượng phân tử (Mw) và kích thước polyme (Rg) của carrageenan này là 1,1 x 106 g/mol và 180 nm. Mô đun đàn hồi (G’) của gel carrageenan tăng khi giảm nhiệt độ và ngược lại. Bổ sung muối KCl với nồng độ từ 5 - 40 mM làm tăng đáng kể mô đun đàn hồi và nhiệt độ tạo gel, tuy nhiên khi bổ sung muối > 40 mM thì mô đun đàn hồi vẫn không tăng thêm. Nhiệt độ tạo gel tăng từ khoảng 20oC đến 50oC khi tăng hàm lượng KCl từ 5 mM đến 100 mM, nhưng nhiệt độ này lại không thay đổi khi thay đổi hàm lượng carrageenan (5, 10, 20 g/L). 

    DOI: https://doi.org/10.71254/q8frmt60
  • ẢNH HƯỞNG CỦA THỨC ĂN LÊN SINH TRƯỞNG, TỶ LỆ SỐNG VÀ HỆ SỐ PHÂN ĐÀN CỦA CÁ CHUỐI HOA Channa maculata (Lacepède, 1801) GIAI ĐOẠN CÁ BỘT LÊN CÁ HƯƠNG

    Abstract : 6 PDF: 6
    Tạ Thị Bình, Nguyễn Đình Vinh,  Nguyễn Hữu Dực, Chu Chí Thiết, Nguyễn Như Sỹ
    119-128

    Nghiên cứu ảnh hưởng của thức ăn lên sinh trưởng, tỷ lệ sống và hệ số phân đàn của cá chuối hoa giai đoạn cá bột lên cá hương được tiến hành từ tháng 4 đến tháng 5 năm 2020. Thí nghiệm được bố trí hoàn toàn ngẫu nhiên với 3 nghiệm thức NT1: Moina + Thức ăn công nghiệp; NT2: Moina + Giun chỉ (trùn chỉ); NT3: Moina + Moi (tép biển). Mỗi nghiệm thức được lặp lại 3 lần. Kết quả cho thấy, cá bột được cho ăn bằng Moina - Giun chỉ và Moina - Moi phát triển tốt và đồng đều hơn so với cá bột ương bằng thức ăn khác: Tỷ lệ sống (91,62-91,76%), tốc độ tăng trưởng đặc trưng về khối lượng từ 18,29-18,51%/ngày và chiều dài 4,68-4,85%/ngày, cá phát triển đồng đều, nhóm kích cỡ  W = 0,31-0,45 g chiếm ưu thế > 60% và khả năng cá chịu sốc và chết trong phạm vi chấp nhận được (1,33-12%).

    DOI: https://doi.org/10.71254/d9eydy04
  • ẢNH HƯỞNG CỦA KIỂU GEN POU1F1 VÀ THỨC ĂN BỔ SUNG ĐẾN SINH TRƯỞNG CỦA DÊ ĐỊA PHƯƠNG ĐỊNH HÓA

    Abstract : 12 PDF: 13
    Nguyễn Thị Minh Thuận, Trần Văn Phùng, Phạm Bằng Phương, Bùi Thị Thơm
    129-135

    Mục tiêu của nghiên cứu nhằm xác định ảnh hưởng của kiểu gen POU1F1 và thức ăn tinh bổ sung đến sinh trưởng của dê địa phương Định Hóa. Thí nghiệm được thiết kế theo phương pháp thí nghiệm có hai nhân tố với sự tương tác giữa chúng. Nhân tố kiểu gen của gen POU1F1 bao gồm D1D1 (k‎ý hiệu là D1) và kiểu gen D1D2 (Ký hiệu là D2); nhân tố thức ăn tinh bổ sung có 3 mức (không bổ sung 0%, bổ sung 15% và bổ sung 30% tính theo vật chất khô khẩu phần). Kết quả nghiên cứu cho thấy, bổ sung thức ăn tinh có tác dụng tốt đến sinh trưởng tích lũy của dê địa phương Định Hóa. Những dê được bổ sung thức ăn tinh ở mức cao hơn sinh trưởng cao hơn, cao nhất ở những dê có kiểu gen D1D1 của gen POU1F1 được bổ sung 30% thức ăn tinh tính theo lượng vật chất khô của khẩu phần, thấp nhất là những dê mang kiểu gen D1D2 và không được bổ sung thức ăn tinh. Kiểu gen của gen POU1F1 có ảnh hưởng không rõ rệt đến sinh trưởng của dê ở cả tình huống có bổ sung hoặc không bổ sung thức ăn tinh (P≥0,05). Việc bổ sung thức ăn tinh trong khẩu phần có ảnh hưởng rõ rệt đến sinh trưởng của dê, đặc biệt ở giai đoạn từ 9 tháng tuổi trở đi (P<0,05). Ảnh hưởng của tương tác giữa kiểu gen của gen POU1F1 và thức ăn tinh bổ sung đến sinh trưởng của dê là không rõ rệt (P≥0,05). Trên thực tế, nên kết hợp công tác chọn lọc những dê có kiểu gen D1D1 kết hợp bổ sung thức ăn tinh để nâng cao sức sinh trưởng, góp phần bảo tồn và lưu giữ giống dê địa phương Định Hóa.

    DOI: https://doi.org/10.71254/vx7wsd28
  • ẢNH HƯỞNG CỦA THỨC ĂN ĐẾN KHẢ NĂNG SINH TRƯỞNG, SINH SẢN CỦA DẾ CƠM (Gryllus bimaculatus De Geer, 1773) TRONG ĐIỀU KIỆN NUÔI TẠI KIÊN GIANG

    Abstract : 6 PDF: 6
    Ngô Văn Thống, Trần Thị Hữu Hạnh, Đinh Thị Hồng Cúc
    136-140

    Nghiên cứu được thực hiện từ tháng 6 năm 2020 đến tháng 12 năm 2020 tại huyện Châu Thành, tỉnh Kiên Giang. Thí nghiệm được bố trí hoàn toàn ngẫu nhiên gồm 9 nghiệm thức với thành phần thức ăn khác nhau NT1: 10% thức ăn hỗn hợp (thức ăn cho gà con) + 90% rau muống, NT2: 15% thức ăn hỗn hợp + 85% rau muống, NT3: 20% thức ăn hỗn hợp + 80% rau muống, NT4: 10% thức ăn hỗn hợp + 45% rau muống + 45% lá khoai mì, NT5: 15% thức ăn hỗn hợp + 42,5% rau muống + 42,5 lá khoai mì, NT6: 20% thức ăn hỗn hợp + 40% rau muống + 40% lá khoai mì, NT7: 10% thức ăn hỗn hợp + 90% lá khoai mì, NT8: 15% thức ăn hỗn hợp + 85% lá khoai mì, NT9: 20% thức ăn hỗn hợp + 80% lá khoai mì, mỗi nghiệm thức được lặp lại 3 lần. Kết quả cho thấy số trứng trung bình trên con là 745 trứng (535 - 955 trứng). Số trứng cao nhất ở nghiệm thức có khẩu phần ăn là 20% thức ăn hỗn hợp + 80% lá khoai mì và số trứng thấp nhất ở nghiệm thức có khẩu phần là 10% thức ăn hỗn hợp + 90% rau muống), tỷ lệ nở trung bình 70,15% (51,4% - 88,9%), khối lượng trung bình sau 4 tuần tuổi là 298,5 mg/con (284,667 - 312,333 mg/con). Kết quả khảo sát khối lượng của dế cơm giai đoạn 4 tuần tuổi cho thấy khối lượng lớn ở các nghiệm thức bổ sung 15 - 20% thức ăn hỗn hợp.

    DOI: https://doi.org/10.71254/t19jn640
  • TẠO CHẾ PHẨM PROBIOTIC Bacillus sp. RGB7.1 VÀ ẢNH HƯỞNG CỦA CHẾ PHẨM ĐẾN TỶ LỆ NUÔI SỐNG VÀ KHỐI LƯỢNG CỦA GÀ

    Abstract : 6 PDF: 9
    Nguyễn Thị Lâm Đoàn, Hồ Thị Thơm
    141-148

    Một số loài Bacillus được ứng dụng rộng rãi trong sản xuất probiotic, chúng có khả năng chịu được điều kiện pH axít dạ dày, sản sinh các enzyme hỗ trợ tiêu hóa thức ăn và ức chế các loại vi khuẩn gây bệnh. Chế phẩm probiotic Bacillus góp phần làm giảm việc sử dụng kháng sinh trong chăn nuôi. Chủng vi khuẩn RGB7.1 được phân lập từ ruột gà và đã được xác định có một số đặc tính probiotic. Nghiên cứu này xác định đặc điểm phân loại của chủng RGB7.1, thời gian lên men, tạo chế phẩm probiotic từ chủng này và bước đầu thử nghiệm đánh giá hiệu quả của chế phẩm lên tỷ lệ nuôi sống và khối lượng trung bình của gà Ai Cập từ 1 ngày đến 9 tuần tuổi. Bằng xác định đặc điểm hình thái khuẩn lạc, tế bào kết hợp với kít API 50 CHB bước đầu đã xác định được chủng RGB7.1 thuộc loài Bacillus subtilis, thời gian lên men là 24 giờ. Với chất mang cám gạo, nhiệt độ sấy 400C, tỷ lệ sống sót của chủng sau sấy là 75,56%, mật độ tế bào trong chế phẩm 3,03×109 CFU/g, độ ẩm 8,21%. Chế phẩm probiotic được bổ sung nồng độ 0,3% trong khẩu phần thức ăn của gà Ai Cập đã làm tăng tỷ lệ nuôi sống của gà từ 1 ngày đến 9 tuần tuổi là 2,75% và khối lượng trung bình tăng 155g so với công thức không bổ sung chế phẩm.

    DOI: https://doi.org/10.71254/y8vg3v86
  • HÀM LƯỢNG FUCOIDAN VÀ ALGINATE CỦA MỘT SỐ LOÀI RONG NÂU Ở QUẦN ĐẢO NAM DU, KIÊN GIANG

    Abstract : 11 PDF: 10
    Nguyễn Văn Thành, Trần Nhật My, Nguyễn Văn An, Lê Hoàng Phượng, Bùi Văn Nguyên
    149-154

    Nghiên cứu này nhằm đánh giá sự biến đổi hàm lượng fucoidan và hàm lượng alginate có trong một số loài rong nâu ở quần đảo Nam Du, Kiên Giang. Kết quả nghiên cứu cho thấy hàm lượng fucoidan và alginate có sự biến đổi tùy thuộc vào giống loài, thời kỳ sinh trưởng và theo mùa. So với khối lượng rong khô, hàm lượng fucoidan và alginate cao nhất vào cuối mùa khô (tháng 3) ở loài  rong Turbinaria ornata (tương ứng là 2,39% và 26,3%) và loài rong Sagrassum polycystum (tương ứng là 2,04% và 28,6%). Tuy nhiên đối với loài rong Turbinaria decurrens thì hàm lượng fucoidan và alginate cao nhất vào đầu mùa mưa (tháng 5) tương ứng 2,89% và 31,16%.

    DOI: https://doi.org/10.71254/ek8fw877
  • ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG THIẾU NƯỚC SẢN XUẤT NÔNG NGHIỆP DƯỚI TÁC ĐỘNG CỦA BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU TẠI VÙNG U MINH THƯỢNG THUỘC TỈNH KIÊN GIANG

    Abstract : 12 PDF: 10
    Dương Văn Nhã, Thái Minh Tín
    155-162

    Sự khan hiếm nước đã ảnh hưởng nặng nề đến con người, hệ sinh thái tự nhiên và hoạt động sản xuất nông nghiệp. Nghiên cứu được tiến hành tại tiểu vùng U Minh Thượng, tỉnh Kiên Giang (UMT - KG) với ba mục tiêu chính: (i) xác định lượng nước ngọt tiềm năng; (ii) đánh giá nhu cầu sử dụng nước cho 3 loại cây trồng chính (lúa, khóm và mía); (iii) đánh giá sự khan hiếm nước ngọt hàng tháng cho ngành nông nghiệp từ 7/2015 đến 6/2016. Nghiên cứu thu thập dữ liệu và kết quả chạy mô hình VRSAP và kỹ thuật GIS để xây dựng bản đồ trữ lượng nước. Để xác định vùng khan hiếm nước ngọt, nghiên cứu tiến hành phân tích dựa trên lịch thời vụ, tính chất đất, nhiệt độ, nhu cầu nước và trữ lượng nước tiềm tàng. Kết quả nghiên cứu cho thấy tổng nhu cầu tưới cho toàn vùng nghiên cứu cao nhất vào tháng 11/2015 và thấp nhất vào tháng 3, 4/2016. Trong khi đó, vùng UMT - KG đối mặt tình trạng thiếu nước nghiêm trọng vào các tháng hạn gồm tháng 1, 2 và 5/2016. Kết quả nghiên cứu này cho thấy một bức tranh tổng thể về tình trạng khan hiếm nước tưới trong sản xuất nông nghiệp trên địa bàn nghiên cứu. Dựa vào kết quả này, các nhà quản lý địa phương có thể có những giải pháp kịp thời để giảm nhẹ thiệt hại do khô hạn gây ra đối với ngành nông nghiệp trong điều kiện biến đổi khí hậu.

    DOI: https://doi.org/10.71254/5nrj8x88
  • KHẢO SÁT CHẤT LƯỢNG MÔI TRƯỜNG NƯỚC TẠI VƯỜN QUỐC GIA TRÀM CHIM, TỈNH ĐỒNG THÁP

    Abstract : 6 PDF: 7
    Nguyễn Thanh Giao, Trương Hoàng Đan, Huỳnh Thị Hồng Nhiên
    163-170

    Nghiên cứu được tiến hành nhằm đánh giá hiện trạng chất lượng môi trường nước trên các sinh cảnh tại Vườn Quốc gia Tràm Chim, huyện Tam Nông, tỉnh Đồng Tháp thông qua các chỉ tiêu độ ngập sâu, nhiệt độ, pH, EC, độ đục, DO, COD, N-NH4+, P-PO43- trong nước tại 10 sinh cảnh vào mùa mưa (tháng 8/2018) và mùa khô (tháng 4/2019). Kết quả phân tích cho thấy pH của nước ở mức trung tính, giá trị EC cao và trong vùng lõi thấp hơn ở các kênh ngoài vùng đệm. Độ đục vào mùa khô cao hơn mùa mưa nhưng độ ngập sâu thì ngược lại. Hàm lượng P-PO43- thấp và nằm trong giới hạn cho phép của QCVN 08-MT:2015/BTNMT (cột A1), tuy nhiên hàm lượng N-NH4+, DO và COD đều không đạt qui chuẩn cho phép. Kết quả nghiên cứu cho thấy rằng môi trường nước ở các sinh cảnh tại VQG Tràm Chim có dấu hiệu ô nhiễm hữu cơ. Vì vậy cần có kế hoạch quản lý tốt chất lượng môi trường nước để duy trì đa dạng sinh học tại Vườn Quốc gia Tràm chim. 

    DOI: https://doi.org/10.71254/7prhns75
  • CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN THU NHẬP CỦA CỘNG ĐỒNG ĐỊA PHƯƠNG TẠI XÃ PHÚ AN THUỘC VÙNG ĐỆM BAN QUẢN LÝ RỪNG PHÒNG HỘ TÂN PHÚ, TỈNH ĐỒNG NAI

    Abstract : 13 PDF: 9
    Nguyễn Thanh Tuấn, Phạm Văn Thắng
    171-180

    Nghiên cứu được thực hiện nhằm xác định các yếu tố ảnh hưởng đến thu nhập của các hộ gia đình sống tại xã Phú An thuộc vùng đệm Ban Quản lý rừng phòng hộ Tân Phú, tỉnh Đồng Nai. Kết quả nghiên cứu được tổng hợp từ số liệu điều tra của 100 hộ gia đình sống trên địa bàn xã Phú An, với phương pháp phân tích thống kê mô tả và hồi qui đa biến. Kết quả nghiên cứu cho thấy, trình độ học vấn của cộng đồng dân cư tương đối thấp, với khoảng 69% số nông hộ có thu nhập chủ yếu dựa vào hoạt động sản xuất nông nghiệp. Ngoài ra, các nhân tố chính ảnh hưởng đến thu nhập của các hộ dân bao gồm: vốn, diện tích đất canh tác, loài cây trồng, nghề nghiệp và trình độ học vấn. Từ đó, đã đưa ra một số giải pháp nhằm tạo sinh kế bền vững, góp phần bảo tồn tài nguyên rừng tại khu vực nghiên cứu, bao gồm: tạo nguồn vốn cho các hộ gia đình, nâng cao hiệu quả sử dụng đất và đa dạng hóa ngành nghề. 

    DOI: https://doi.org/10.71254/g07grm78
  • NĂNG SUẤT YẾU TỐ TỔNG HỢP: NGHIÊN CỨU ĐIỂN HÌNH TRONG SẢN XUẤT LÚA CỦA NÔNG HỘ Ở AN GIANG

    Abstract : 13 PDF: 11
    Nguyễn Lan Duyên, Cao Văn Hơn
    181-189

    Nghiên cứu được tiến hành trên cơ sở nguồn dữ liệu sơ cấp được thu thập trực tiếp chủ hộ hoặc nông dân canh tác lúa thông qua phỏng vấn ngẫu nhiên 250 nông hộ ở An Giang trong vụ thu đông 2019, đông xuân 2020 và hè thu 2020. Nghiên cứu được thực hiện nhằm: (1) Xác định năng suất yếu tố tổng hợp trong sản xuất lúa của nông hộ An Giang; (2) Xác định khả năng và mức độ ảnh hưởng của các yếu tố đến năng suất yếu tố tổng hợp (TFP) của nông hộ trồng lúa An Giang. Kết quả ước lượng cho thấy diện tích đất đóng vai trò quan trọng quyết định sự hình thành năng suất yếu tố tổng hợp với mức ý nghĩa cao. Đồng thời, kết quả nghiên cứu còn cho thấy có ba yếu tố sản xuất có ảnh hưởng ngược chiều đến TFP bao gồm biến thời gian sinh sống của chủ hộ, ngày công lao động thuê mướn làm lúa và số năm kinh nghiệm trồng lúa. Đồng thời, các biến tuổi chủ hộ, trình độ học vấn của chủ hộ, lượng vốn vay, canh tác vụ đông xuân, địa bàn cư trú ở Thoại Sơn và Tri Tôn có ảnh hưởng cùng chiều đến năng suất yếu tố tổng hợp. Từ đó, nghiên cứu đề xuất một số khuyến nghị giúp nông hộ sử dụng và đầu tư các yếu tố đầu vào hợp lý góp phần nâng cao năng suất yếu tố tổng hợp.

    DOI: https://doi.org/10.71254/ae7eae21
  • ẢNH HƯỞNG CỦA ĐỘ ẨM VÀ ĐỘ NHẴN BỀ MẶT VÁN GHÉP THANH ĐẾN CHẤT LƯỢNG MÀNG TRANG SỨC

    Abstract : 5 PDF: 5
    Nguyễn Thị Thanh Hiền, Tạ Phương Ngân, Trần Văn Chứ
    190-196

    Trong nghiên cứu này, ván ghép thanh được sản xuất từ gỗ Keo lai (Acacia mangium x auriculiformis) được điều chỉnh để có ba cấp độ ẩm (7%, 10% và 13%) và ba cấp độ nhẵn (32 µm, 60 µm, 100 µm) khác nhau. Sơn alkyd một thành phần được sử dụng để làm chất phủ lên bề mặt ván, đồng thời, ảnh hưởng của độ ẩm và độ nhẵn bề mặt ván nền đến một số chỉ tiêu chất lượng màng sơn trên bề mặt ván cũng được nghiên cứu. Kết quả nghiên cứu cho thấy: độ ẩm và độ nhẵn bề mặt của ván nền đã sử dụng đều ảnh hưởng đến khả năng bám dính, chiều dày và độ bóng của màng sơn. Độ ẩm ván càng cao và bề mặt ván càng mịn thì độ bám dính và chiều dày của màng sơn càng giảm, nhưng độ bóng của màng sơn lại càng cao. Tuy nhiên, độ ẩm và độ nhẵn của bề mặt ván nền lại không ảnh hưởng đến độ cứng, độ mài mòn và khả năng chống chịu môi trường axit và bazơ của màng sơn trên bề mặt ván. Màng trang sức thu được từ sơn alkyd áp dụng trên ván ghép thanh có độ ẩm 10% và độ nhẵn bề mặt N= 60 µm có các tính chất cơ học và tính vật lý tốt nhất. 

    DOI: https://doi.org/10.71254/9r6cx166