ẢNH HƯỞNG CỦA THỨC ĂN LÊN SINH TRƯỞNG, TỶ LỆ SỐNG VÀ HỆ SỐ PHÂN ĐÀN CỦA CÁ CHUỐI HOA Channa maculata (Lacepède, 1801) GIAI ĐOẠN CÁ BỘT LÊN CÁ HƯƠNG
DOI:
https://doi.org/10.71254/d9eydy04Abstract
Effect of diets on growth, survival and coefficient of blotched sankehead Channa maculata (Lacepède, 1801) of fry to fingerlings stage conducted from april to may 2020. The experiment was designed completely randomly with 3 treatments: Treatment 1: Moina + commercial food; Treatment 2: Moina + Filariae; Treatment 3: Moina + marine shrimp. Each treatment was replicated 3 times. The results of this experiment showed that fry fed by moina - threadworms and moina - shrimp developed better and more uniformly than larvae fed by other foods:survival rate from 91.62 to 91.76%, special growth rate with weight from 18.29 to 18.51%/days and length from 4.68 to 4.85%/days, fish grow evenly Group size W = 0.31-0.45 g predominate> 60% and the fish's ability to withstand shock and death is within acceptable ranges from 1.33 to 12%.
Keywords:
Blotched sankehead, survival rate, growth, coefficient of varianceTóm tắt
Nghiên cứu ảnh hưởng của thức ăn lên sinh trưởng, tỷ lệ sống và hệ số phân đàn của cá chuối hoa giai đoạn cá bột lên cá hương được tiến hành từ tháng 4 đến tháng 5 năm 2020. Thí nghiệm được bố trí hoàn toàn ngẫu nhiên với 3 nghiệm thức NT1: Moina + Thức ăn công nghiệp; NT2: Moina + Giun chỉ (trùn chỉ); NT3: Moina + Moi (tép biển). Mỗi nghiệm thức được lặp lại 3 lần. Kết quả cho thấy, cá bột được cho ăn bằng Moina - Giun chỉ và Moina - Moi phát triển tốt và đồng đều hơn so với cá bột ương bằng thức ăn khác: Tỷ lệ sống (91,62-91,76%), tốc độ tăng trưởng đặc trưng về khối lượng từ 18,29-18,51%/ngày và chiều dài 4,68-4,85%/ngày, cá phát triển đồng đều, nhóm kích cỡ W = 0,31-0,45 g chiếm ưu thế > 60% và khả năng cá chịu sốc và chết trong phạm vi chấp nhận được (1,33-12%).








