ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG THIẾU NƯỚC SẢN XUẤT NÔNG NGHIỆP DƯỚI TÁC ĐỘNG CỦA BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU TẠI VÙNG U MINH THƯỢNG THUỘC TỈNH KIÊN GIANG
DOI:
https://doi.org/10.71254/5nrj8x88Abstract
Water scarcity has seriously affected for human, natural ecosystems, and agricultural production. This study was carried out in the Upper U Minh (UMT) zone of Kien Giang province to: (i) determine the freshwater availability; (ii) assess the irrigation demand for 3 crops (rice, pineapple and sugarcane); (iii) assess the monthly water scarcity for agricultural sector. Data collection in associated with VRSAP’s outcome has been conducted to map the potential water storage. Then, the agricultural water scarcity will be indicated based on crop calendar, soil properties, temperature, water requirements and potential water reserves. The results showed that the total amount of irrigation demand for the study area was fluctuating, namely, the highest irrigation demand occurred in November 2015 and the lowest value was in March and April 2016. Meanwhile, this area faces serious water shortages in the dry season including January, February, and May 2016. In summary, this study has been indicated an overview perspective of agricultural water scarcity that is more straightforward to advise the local managers with future mitigation and adaption strategy under the context of climate change.
Keywords:
Agricultural production, climate change, freshwater storage, Upper U MinhTóm tắt
Sự khan hiếm nước đã ảnh hưởng nặng nề đến con người, hệ sinh thái tự nhiên và hoạt động sản xuất nông nghiệp. Nghiên cứu được tiến hành tại tiểu vùng U Minh Thượng, tỉnh Kiên Giang (UMT - KG) với ba mục tiêu chính: (i) xác định lượng nước ngọt tiềm năng; (ii) đánh giá nhu cầu sử dụng nước cho 3 loại cây trồng chính (lúa, khóm và mía); (iii) đánh giá sự khan hiếm nước ngọt hàng tháng cho ngành nông nghiệp từ 7/2015 đến 6/2016. Nghiên cứu thu thập dữ liệu và kết quả chạy mô hình VRSAP và kỹ thuật GIS để xây dựng bản đồ trữ lượng nước. Để xác định vùng khan hiếm nước ngọt, nghiên cứu tiến hành phân tích dựa trên lịch thời vụ, tính chất đất, nhiệt độ, nhu cầu nước và trữ lượng nước tiềm tàng. Kết quả nghiên cứu cho thấy tổng nhu cầu tưới cho toàn vùng nghiên cứu cao nhất vào tháng 11/2015 và thấp nhất vào tháng 3, 4/2016. Trong khi đó, vùng UMT - KG đối mặt tình trạng thiếu nước nghiêm trọng vào các tháng hạn gồm tháng 1, 2 và 5/2016. Kết quả nghiên cứu này cho thấy một bức tranh tổng thể về tình trạng khan hiếm nước tưới trong sản xuất nông nghiệp trên địa bàn nghiên cứu. Dựa vào kết quả này, các nhà quản lý địa phương có thể có những giải pháp kịp thời để giảm nhẹ thiệt hại do khô hạn gây ra đối với ngành nông nghiệp trong điều kiện biến đổi khí hậu.








