Số 3+4 (2021)
Bài viết
-
NGHIÊN CỨU ĐA DẠNG DI TRUYỀN NGUỒN GEN CAO SU ĐANG ĐƯỢC BẢO TỒN Ở VIỆT NAM
Abstract : 6 PDF: 7Cao su thiên nhiên là nguyên liệu chiến lược cho nhiều ngành công nghiệp và chỉ được sản xuất bằng việc trồng cây cao su (Hevea brasiliensis Muell. Arg.). Chọn tạo giống loài này chủ yếu tập trung trên những giống đã cải tiến ở châu Á và châu Phi, nhưng cũng dựa vào đa dạng di truyền có trong quỹ gen hoang dại. Nghiên cứu nhằm đánh giá đa dạng di truyền của các mẫu giống từ bang Rondonia (Brazil) đang bảo tồn tại Việt Nam với 15 chỉ thị SSR. Toàn bộ 1.127 mẫu giống được phân tích đã phát hiện 200 mẫu có quan hệ gần gũi di truyền 100% từ 85 cặp và 10 bộ ba, cũng như 7 mẫu không thuộc về nguồn gen Rondonia. Số lượng allele khá phong phú trên các vị trí SSR (15 - 47 allele) và tần số allele giữa các nhóm di truyền là khác biệt; tổng số 467 allele từ 11 nhóm di truyền và 458 allele từ nguồn gen Rondonia. Đa dạng di truyền cao ở tất cả các nhóm, với dị hợp tử kỳ vọng (He = 0,78) cao hơn dị hợp tử quan sát (Ho = 0,66) và giữa các cá thể trên các nhóm di truyền chưa xảy ra cận huyết. Nguồn gen Rondonia có đa dạng di truyền hơn Wickham và Mato Grosso; giữa Wickham và Mato Grosso gần gũi nhau với khác biệt di truyền (Fst) lớn hơn các nhóm di truyền khác, trong khi giữa các nhóm trong nguồn gen Rondonia có sự khác biệt di truyền rất thấp. Quỹ gen cao su Việt Nam có tiềm năng di truyền rất lớn, biến dị di truyền bên trong cá thể là 74%, nhưng giữa các nhóm vẫn có sự khác biệt di truyền và cấu trúc di truyền phù hợp với vị trí được sưu tập.
-
KẾT QUẢ KHẢO NGHIỆM, ĐÁNH GIÁ MỘT SỐ GIỐNG LÚA TẠI TRẠM KHẢO NGHIỆM GIỐNG, SẢN PHẨM CÂY TRỒNG VĂN LÂM, TỈNH HƯNG YÊN
Abstract : 6 PDF: 6Nghiên cứu khả năng sinh trưởng, phát triển của 7 giống lúa thuần trong vụ xuân 2018, vụ mùa 2018 tại Văn Lâm, Hưng Yên. Thí nghiệm khảo nghiệm cơ bản, bố trí 3 lần lặp lại. Kết quả đã xác định được 3 giống lúa triển vọng: Giống Smart68, TGST 132 ngày (xuân), 107 ngày (vụ mùa); năng suất cao (vụ xuân 74,62 tạ/ha và vụ mùa 55,61 tạ/ha), thâm canh năng suất đạt 77,27-84,90 tạ/ha; chất lượng gạo khá, chất lượng cơm mềm, vị đậm, cơm ngon trung bình; giống Tân ưu 98, TGST 140 ngày (xuân), 113 ngày (vụ mùa); năng suất cao (vụ xuân 71,76 tạ/ha và vụ mùa 66,36 tạ/ha), thâm canh năng suất đạt 75,67-78,51 tạ/ha; chất lượng gạo khá, chất lượng cơm mềm, vị đậm, ngon trung bình; giống VS20, TGST 139 ngày (xuân), 107 ngày (vụ mùa); năng suất cao (vụ xuân 78,54 tạ/ha và vụ mùa 64,81 tạ/ha), thâm canh năng suất 76,37-78,54 tạ/ha; chất lượng gạo khá, chất lượng cơm mềm, vị đậm, ngon trung bình.
-
KẾT QUẢ PHỤC TRÁNG GIỐNG LÚA NẾP BẮC TẠI HẢI HẬU, NAM ĐỊNH
Abstract : 12 PDF: 10Nếp Bắc là giống lúa mùa địa phương, hiện còn được trồng tại huyện Hải Hậu, tỉnh Nam Định và một số tỉnh/thành thuộc đồng bằng sông Hồng như: Ninh Bình, Thái Bình, Hải Phòng. Giống được phục tráng trong 3 năm từ năm 2016 đến năm 2018. Kết quả đánh giá theo dõi G0 trên đồng ruộng đã lựa chọn 270 dòng để tiếp tục đánh giá các chỉ tiêu trong phòng, từ kết quả đánh giá đã chọn lọc được 37 dòng đạt yêu cầu. Từ 37 dòng G1 có cùng thời gian sinh trưởng là 140 ngày, các tính trạng chiều dài bông, chiều cao thân, số hạt chắc/cây, khối lượng 1000 hạt đồng nhất, từ đó đã chọn lọc được 19 dòng G1 đạt yêu cầu. Ở thế hệ G2, đã chọn lọc được 14 dòng đạt tiêu chuẩn từ 19 dòng đánh giá. Lượng hạt giống từ thí nghiệm chọn dòng và nhân dòng được hỗn lại và đạt khối lượng 200 kg, lượng hạt giống này được xác nhận đạt tiêu chuẩn hạt giống siêu nguyên chủng với mã số SNC.M18.001.
-
ẢNH HƯỞNG PHÂN HỮU CƠ LÊN NĂNG SUẤT VÀ HIỆU QUẢ TÀI CHÍNH CÂY LÚA TRONG MÔ HÌNH TÔM - LÚA
Abstract : 12 PDF: 13Nghiên cứu nhằm đánh giá ảnh hưởng phân bón hữu cơ lên năng suất và hiệu quả tài chính cây lúa trong hệ thống tôm lúa. Thí nghiệm bố trí khối hoàn toàn ngẫu nhiên bao gồm 9 nghiệm thức với 3 lần lặp lại, thí nghiệm 2 vụ liên tiếp năm 2017 và 2018 trên đất tôm - lúa của 3 nông hộ tại xã Mỹ An, huyện Thạnh Phú, tỉnh Bến Tre. Kết quả nghiên cứu cho thấy, độ phì tự nhiêu trong đất tôm – lúa khá cao. Có 4 nghiệm thức gồm: nghiệm thức bón 0,7 và 0,9 tấn/ha phân hữu cơ Mekong – CTU và 1,0 - 1,2 tấn/ha phân hữu cơ sinh học Nhà Nông cho năng suất thực tế dao động từ 3,1 – 5,7 tấn/ha, trung bình là 4,8 tấn/ha không khác biệt có ý nghĩa thống kê với nghiệm thức bón 0,4 tấn/ha phân hữu cơ khoáng nhãn hiệu Lio Thai và nghiệm thức phân bón vô cơ đối chứng của nông dân (60 N-30 P2O5-30 K2O). Lợi nhuận của 4 nghiệm thức trên đạt cao nhất dao động từ 27,8 – 34,2 triệu đồng/ha, cao hơn nghiệm thức bón phân vô cơ từ 4,0 - 5,9 triệu/ha. Hiệu quả đồng vốn của 4 nghiệm thức trên dao động từ 1,29 – 1,67 lần; hiệu quả đồng vốn của lúa vô cơ dao động từ 1,39 -1,46 lần. Kết quả nghiên cứu nhận thấy trồng lúa hữu cơ trong mô hình tôm - lúa tại huyện Thạnh Phú, tỉnh Bến Tre hoàn toàn khả thi khi áp dụng nhân rộng trong thời gian tới.
-
THÀNH PHẦN NẤM PHÂN GIẢI CELLULOSE TRONG RỪNG THÔNG MÃ VĨ VÀ THÔNG NHỰA
Abstract : 12 PDF: 12Cháy rừng thường xuyên xảy ra và để lại hậu quả vô cùng nghiêm trọng. Trong giai đoạn 2014 -2019, có 1.868 vụ cháy đã xảy ra tại Việt Nam và đã phá hủy khoảng 8.499 ha rừng. Việt Nam có khoảng 400.000 ha rừng thông, chủ yếu là Thông nhựa, Thông mã vĩ và Thông ba lá. Rừng trồng các loài thông thường xuyên xảy ra cháy, khi bị cháy rất khó dập do vật liệu cháy có nhựa và lượng vật liệu cháy dưới tán rừng thông rất nhiều. Việc tuyển chọn các loài nấm có khả năng phân giải cellulose để làm chế phẩm phân hủy vật liệu cháy dưới tán rừng thông vừa giúp giảm lượng vật liệu cháy đồng thời tăng lượng mùn cho đất là một hướng đi tiềm năng và sẽ góp phần tích cực trong hoạt động phát triển rừng ở Việt Nam. Kết quả nghiên cứu đã phân lập thành công 42 chủng nấm từ đất và lá mục thu ở rừng Thông nhựa và Thông mã vĩ tại 5 địa phương gồm: Cao Bằng, Lạng Sơn, Quảng Ninh, Thanh Hóa và Hà Nội. Trong đó đã xác định 24 chủng có khả năng phân giải cellulose mạnh và rất mạnh, chúng thuộc 22 loài, 11 chi. 17 chủng mạnh nhất thuộc 15 loài gồm: Aspergillus chrysellus, A. flavus, Cladophialophora immunda, Fomitopsis sp.1, Fomitopsis sp.2, Paecilomyces formosus, Penicillium adametzii, Pe. austrosinicum, Pe. sclerotiorum, Pe. singorense, Pe. yezoense, Talaromyces pinophilus, Talaromyces sp., Trichoderma citrinoviride và Umbelopsis angularis.
-
ĐỊNH DANH VI KHUẨN GÂY BỆNH THỐI NHŨN TRÊN KHOAI MÔN Ở ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG
Abstract : 12 PDF: 13Nghiên cứu được thực hiện tại Bộ môn Bảo vệ thực vật, Trường Đại học Cần Thơ. Mục tiêu của nghiên cứu nhằm xác định đến loài tác nhân vi khuẩn gây bệnh thối nhũn trên khoai môn ở đồng bằng sông Cửu Long. Trong nghiên cứu này, các dòng vi khuẩn được xác định dựa vào đặc điểm hình thái, đặc tính sinh hóa và triệu chứng bệnh. Kết quả cho thấy cả 8 dòng vi khuẩn phân lập đều thuộc chi Erwinia và được chia thành 2 nhóm: nhóm 1 gồm 4 dòng (ErĐT2, ErĐT3, ErĐT4 và ErĐT5) với các đặc điểm có thể thuộc loài Erwinia carotovora và nhóm 2 gồm 4 dòng (ErAG1, ErAG2, ErĐT1 và ErĐT6) với các đặc điểm có thể thuộc loài Erwinia chrysanthemi. Cả 8 dòng vi khuẩn thí nghiệm đều có khả năng gây bệnh trên khoai môn với triệu chứng điển hình của bệnh thối nhũn. Trình tự đoạn gene 16S rDNA của các dòng vi khuẩn thí nghiệm cũng đã được xác định và so sánh với trình tự gene vùng 16S rDNA của các mẫu sẵn có trên ngân hàng gene. Kết quả cho thấy, dòng vi khuẩn ErĐT4, đại điện cho 4 dòng vi khuẩn thuộc nhóm 1, có mức độ tương đồng với loài Erwinia carotovora là 100% và dòng vi khuẩn ErAG1, đại diện cho 4 dòng vi khuẩn thuộc nhóm 2, có mức độ tương đồng với loài Erwinia chrysanthemi là 100%. Kết quả của nghiên cứu này làm cơ sở cho những nghiên cứu tiếp theo nhằm góp phần tìm ra biện pháp phòng trị bệnh thối nhũn trên khoai môn một cách có hiệu quả.
-
XÁC ĐỊNH NGUYÊN NHÂN GÂY BỆNH THÁN THƯ HẠI CÂY HỒI TẠI VIỆT NAM
Abstract : 14 PDF: 10Cây Hồi (Illicium verum Hook) là loài cây đặc sản có giá trị kinh tế cao không chỉ về giá trị dược liệu mà còn được sử dụng phổ biến trong ngành chế biến thực phẩm với tổng diện tích đạt khoảng trên 50.000 ha tập trung chủ yếu ở Lạng Sơn, Bắc Kạn và một số tỉnh vùng Đông Bắc bộ. Tuy nhiên, hiện nay rừng trồng Hồi đang xuất hiện bệnh thán thư hại cây hồi xảy ra thường xuyên ảnh hưởng không nhỏ đến năng suất, chất lượng hồi. Nghiên cứu này nhằm xác định nguyên nhân gây bệnh thông qua nghiên cứu đặc điểm triệu chứng, đánh giá tính gây bệnh trong thử nghiệm nhân tạo và xác định loài nấm gây bệnh thán thư. Kết quả phân lập đã thu được 12 mẫu nấm từ các lá bị bệnh và 2 mẫu nấm từ quả bị bệnh thán thư. Đánh giá tính gây bệnh của các mẫu nấm trên lá và quả được chia thành năm nhóm gồm: gây bệnh rất mạnh (2 mẫu), gây bệnh mạnh (5 mẫu), gây bệnh trung bình (3 mẫu), gây bệnh yếu (2 mẫu) và không gây bệnh (2 mẫu). Trong đó mẫu HLSL8.1 gây bệnh mạnh nhất, mẫu HLSL5, HLSL1.2, HLSL7.1, HBKL3 và HLSQ1 gây bệnh mạnh và có đặc điểm vết bệnh tương tự như mẫu lá và quả được thu ngoài hiện trường. Kết quả phân tích trình tự vùng gen ITS1+5.8S+ITS2 bằng cặp mồi ITS1 và ITS4 đã xác định nấm gây bệnh thán thư là loài Colletotrichum gloeosporioides sensu lato. Nghiên cứu này ghi nhận nguyên nhân gây bệnh thán thư trên cây hồi ở Việt Nam là do loài nấm Colletotrichum gloesporioides sensu lato gây ra.
-
GHI NHẬN MỚI SINH VẬT CỘNG SINH NGOÀI TRÊN HẢI SÂM VÚ Holothuria nobilis (Selenka, 1867) VÀ HẢI SÂM LỰU Thelenota annanas (Jaeger, 1833) BỊ BỆNH LỞ LOÉT
Abstract : 6 PDF: 6Nghiên cứu xác định thành phần sinh vật cộng sinh trên hải sâm vú và hải sâm lựu bị bệnh lở loét. Mẫu hải sâm bệnh được thu thập thuộc hai nhóm: nhóm trong điều kiện nuôi giữ và nhóm thu thập từ tự nhiên. Các loài sinh vật cộng sinh được định loại theo cả 2 phương pháp: mô tả hình thái và sinh học phân tử dựa vào trình tự đoạn gen 28S rRNA. Dấu hiệu bệnh lý và thành phần loài sinh vật cộng sinh được so sánh giữa hai nhóm hải sâm tự nhiên và nuôi nhốt. Kết quả nghiên cứu đã xác định được 3 loài sinh vật cộng sinh thuộc ngành động vật chân khớp: Elasmopus nkjaf, E. viracochai và Chironomus cf. zealandicus trên mẫu hải sâm vú bị bệnh lở loét cả ngoài tự nhiên lẫn trong điều kiện nuôi giữ và chỉ phát hiện trên mẫu hải sâm lựu được nuôi giữ. Đồng thời, kết quả nghiên cứu cũng cho thấy nhóm hải sâm vú và lựu trong điều kiện nuôi giữ ghi nhận số lượng sinh vật cộng sinh cao hơn so với nhóm thu từ tự nhiên.
-
NGHIÊN CỨU ĐẶC ĐIỂM SINH LÝ SINH THÁI CỦA ĐƯỚC ĐÔI (Rhizophora apiculata Blume.) TẠI KHU DỰ TRỮ SINH QUYỂN RỪNG NGẬP MẶN CẦN GIỜ, TP. HỒ CHÍ MINH
Abstract : 12 PDF: 10Các đặc điểm sinh lý sinh thái của Đước đôi (Rhizophora apiculata Blume.) và 2 loài Đước cùng chi Rhizophora hiện diện cùng sinh cảnh tại rừng ngập mặn Cần Giờ được khảo sát để xác định sự khác biệt trong cơ chế thích ứng của từng loài đối với điều kiện môi trường. Kết quả nghiên cứu cho thấy trong cùng điều kiện môi trường thuận lợi, Đước đôi có sức sinh trưởng tốt hơn, tốc độ quang hợp và khả năng hấp thụ năng lượng ánh sáng cao hơn hai loài Đước vòi (Rhizophora stylosa Griff.) và Đước xanh (Rhizophora mucronata Lamk.). Những yếu tố này cho thấy với khả năng sinh trưởng nhanh, thích ứng cao hơn với điều kiện môi trường thuận lợi, Đước đôi nhanh chóng chiếm lĩnh tán rừng. Tuy nhiên, những đặc điểm này có thể cũng làm cho Đước đôi nhạy cảm hơn với stress môi trường cực đoan, xảy ra trong thời gian rất ngắn, chỉ vài giờ vào thời điểm khi nhiệt độ không khí cao và triều thấp; điều này có thể là nguyên nhân gây nên cái chết bất thường của những khoảnh rừng Đước đôi đã được ghi nhận tại địa phương. Hiện tượng này không xảy ra khi Đước đôi mọc ở những nơi có điều kiện bất lợi. Trong khi đó, Đước vòi và Đước xanh có tốc độ quang hợp thấp hơn, kết hợp với hình thái lá giảm diện tích nên có biên độ thích nghi rộng hơn với các điều kiện môi trường. Trên thực tế, 2 loài này có khả năng cạnh tranh kém hơn Đước đôi tại khu vực khảo sát nhưng có phân bố rộng ở những nơi có điều kiện khắc nghiệt hơn.
-
ĐA DẠNG HỆ THỰC VẬT BẬC CAO CÓ MẠCH TẠI VƯỜN THỰC VẬT, VƯỜN QUỐC GIA PHONG NHA - KẺ BÀNG
Abstract : 13 PDF: 10Kết quả điều tra hệ thực vật bậc cao có mạch tại Vườn Thực vật, Vườn Quốc gia Phong Nha - Kẻ Bàng khá đa dạng và phong phú, không chỉ đa dạng về thành phần loài mà còn đa dạng về dạng sống và giá trị sử dụng, bước đầu đã xác định được 513 loài, 327 chi, 122 họ của 4 ngành thực vật bậc cao có mạch. Trong đó, có 16 loài nguy cơ tuyệt chủng được ghi trong Sách Đỏ Việt Nam (2007); 24 loài thuộc nhóm IIA được liệt kê trong danh mục Nghị định 06/2019/NĐ-CP ngày 22/01/2019 của Chính phủ về quản lý thực vật rừng, động vật rừng nguy cấp, quý, hiếm và thực thi Công ước về buôn bán Quốc tế các loài động vật, thực vật hoang dã nguy cấp; 82 loài nằm trong Sách Đỏ IUCN (2020). Hệ thực vật ở Vườn Thực vật, Vườn Quốc gia Phong Nha - Kẻ Bàng có 14 dạng sống và giá trị sử dụng khác nhau, trong đó có 251 loài cây thuốc, 163 cây lấy gỗ, 68 loài cây làm cảnh và 54 loài cây ăn được.
-
NGHIÊN CỨU ẢNH HƯỞNG CỦA MỘT SỐ CHẤT KÍCH THÍCH SINH TRƯỞNG ĐẾN KHẢ NĂNG NUÔI CẤY IN VITRO CÂY ĐẢNG SÂM BẮC (Codonopsis pilosula (Franch.) Nannf.)
Abstract : 6 PDF: 5Bài báo trình bày kết quả nghiên cứu về ảnh hưởng của các chất kích thích sinh trưởng BAP, BAP kết hợp với Kinetin, NAA và IBA với các nồng độ khác nhau đến hiệu quả nuôi cấy in vitro loài Đảng sâm Bắc (Codonopsis pilosula (Franch.) Nannf.). Từ các thí nghiệm tiến hành cho thấy các đoạn chồi được cấy trong môi trường MS (Murashige và Skoog) có bổ sung 1,0 mg/l BAP cho hệ số nhân chồi cao nhất đạt 17,56 lần/chu kỳ nhân. Các chồi tạo thành đạt tiêu chuẩn được tách ra và đưa vào môi trường kích thích tạo rễ. Trong đó môi trường có bổ sung 0,5 mg/l NAA cho tỷ lệ mẫu ra rễ cao nhất đạt 95,55%.
-
KỸ THUẬT GIEO ƯƠM CÂY BẦN KHÔNG CÁNH (SONNERATIA APETALA BUCH.-HAM.) TẠI VƯỜN QUỐC GIA XUÂN THỦY, NAM ĐỊNH
Abstract : 6 PDF: 4Bần không cánh có các ưu thế là sinh trưởng nhanh, có độ rộng muối cao và biên độ sinh thái rộng nên loài này có thể đáp ứng tốt nhiều mục đích của dải rừng ngập mặn ven biển. Nghiên cứu được tiến hành nhằm xây dựng quy trình kỹ thuật gieo, ươm để sản xuất cây giống Bần không cánh trong điều kiện vùng bãi bồi ven biển Vườn Quốc gia Xuân Thủy. Các công thức nghiên cứu kỹ thuật gieo, ươm cây Bần không cánh được bố trí theo khối đầy đủ ngẫu nhiên với dung lượng mẫu 100 hạt và 30 cây/lần lặp. Kết quả nghiên cứu cho thấy hạt giống được bảo quản 02 ngày sau đó đem gieo cho tỷ lệ nảy mầm cao nhất đạt 47,67%. Hạt Bần không cánh gieo trên nền đất pha cát với tỷ lệ 1:1 và không có lớp phủ cho tỷ lệ nảy mầm là tốt nhất đạt 59%. Lớp phủ bề mặt sẽ ảnh hưởng xấu tới thời gian nảy mầm và tỷ lệ nảy mầm của hạt. Thành phần ruột bầu có tỷ lệ 90% đất phù sa, 1% phân vô cơ, 4% tro trấu, 5% phân chuồng hoai mục theo thể tích và bầu có kích thước 22 cm x 25 cm sử dụng để gieo ươm cây Bần không cánh là tốt nhất đối với sinh trưởng của cây con trong giai đoạn vườn ươm. Cây mạ có kích thước từ 5 cm đến 7 cm nên được lựa chọn để đưa vào bầu vì bộ rễ của cây không bị tổn thương và tỷ lệ sống của cây con cao hơn.
-
NGHIÊN CỨU SỬ DỤNG CHỈ SỐ CHẤT LƯỢNG NƯỚC ĐỂ ĐÁNH GIÁ CHẤT LƯỢNG NƯỚC MẶT KHU VỰC HẠ LƯU SÔNG HỒNG NĂM 2019
Abstract : 12 PDF: 12Nghiên cứu này sử dụng hướng dẫn tính toán chỉ số chất lượng nước WQI theo Quyết định số 1460/QĐ-TCMT ngày 12 tháng 11 năm 2019 của Tổng cục Môi trường để đánh giá chất lượng nước tại khu vực hạ lưu sông Hồng đoạn chảy từ Hoàng Mai, Hà Nội đến thành phố Nam Định, tỉnh Nam Định. Đã tiến hành lấy 30 mẫu nước vào tháng 9 năm 2019, đồng thời đo nhanh một số chỉ tiêu chất lượng nước tại hiện trường. Kết quả phân tích cho thấy, hầu hết các chỉ tiêu dinh dưỡng, các kim loại nặng đều có hàm lượng nhỏ hơn giới hạn cho phép về chất lượng nước sử dụng cho mục đích tưới tiêu, giao thông thủy. Tuy nhiên, giá trị COD dao dộng từ 24,0 đến 240 mgO2/L (trung bình là 95,2 mgO2/L) cho thấy khu vực nghiên cứu có dấu hiệu ô nhiễm các chất hữu cơ. Bên cạnh đó, chỉ số chất lượng nước (WQI) khẳng định chất lượng nước tại khu vực nghiên cứu đều tương đối tốt. Kết quả thu được sẽ là cơ sở dữ liệu cho các nghiên cứu tiếp theo trong quá trình theo dõi diễn biến chất lượng nước tại lưu vực sông lớn thứ 2 của Việt Nam.
-
CÁC GIÁ TRỊ KINH TẾ CỦA RỪNG BẦN TẠI ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG
Abstract : 5 PDF: 6Cây Bần chua có tên khoa học là Sonneratia caseolaris L. thuộc họ Bần (Sonneratiaceae), là loại cây tự mọc và được trồng nhiều ven các con sông, cửa biển, trên các bãi bồi và là một quần thể không thể thiếu của rừng ngập mặn (RNM) ven biển nước ta; với chiều cao to lớn của cây và hệ thống rễ phát triển cây bần có khả năng chắn sóng, chống xói mòn và gió. Nghiên cứu nhằm xác định giá trị kinh tế của rừng bần tại đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL). Địa bàn nghiên cứu gồm 3 huyện thuộc 2 tỉnh Sóc Trăng và Trà Vinh, với tổng diện tích rừng bần gần 3.170 ha. Thông qua việc phân tích giá trị sử dụng trực tiếp và gián tiếp, kết quả nghiên cứu cho thấy giá trị kinh tế của rừng bần hàng năm mang lại tổng số tiền trên 445,6 tỷ đồng; trong đó giá trị trực tiếp trên 384,9 tỷ đồng, chiếm 86,38%; giá trị gián tiếp của rừng bần phòng hộ trên 60,7 tỷ đồng, chiếm 13,62% tổng giá trị kinh tế.
-
VAI TRÒ CỦA NÔNG NGHIỆP ĐỐI VỚI GIẢM NGHÈO VÙNG ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG
Abstract : 5 PDF: 7Bài viết đề cập đến vai trò của nông nghiệp đến quá trình giảm nghèo vùng đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) từ năm 2010 đến nay. Bằng phương pháp xu hướng điểm với các kỹ thuật ghép cặp cận gần nhất, ghép cặp bán kính, ghép cặp Kernel để loại bỏ các đặc điểm không tương đồng giữa nhóm đối chứng và nhóm xử lý. Kết quả nghiên cứu chỉ ra rằng nông nghiệp đóng vai trò tích cực đối với quá trình giảm nghèo tại vùng ĐBSCL, tuy nhiên vai trò này có suy giảm qua thời gian. Trên cơ sở đó các chính sách được đề xuất để tăng cường vai trò của nông nghiệp đối với giảm nghèo trong bối cảnh biến đổi khí hậu. Các chính sách khuyến nghị cho rằng sản xuất nông nghiệp vùng ĐBSCL cần phải chuyển đổi và thích nghi với biến đổi khí hậu, nâng cao năng suất trong dài hạn, phát triển nông nghiệp thích ứng với từng tiểu vùng sinh thái.
-
THỰC TRẠNG KHAI THÁC THỦY SẢN CỦA NGƯ DÂN VEN BIỂN: TRƯỜNG HỢP NGHIÊN CỨU TẠI MỘT THỊ TRẤN VEN BIỂN
Abstract : 6 PDF: 5Tài nguyên thủy sản đóng một vai trò rất quan trọng đối với sinh kế của ngư dân. Tại Việt Nam, tài nguyên thủy sản đang bị suy giảm nghiêm trọng. Bài viết này đi sâu tìm hiểu sự suy giảm tài nguyên thủy sản thông qua xem xét thực trạng khai thác tài nguyên này trong bối cảnh nguồn tài nguyên bị suy giảm. Bài viết này sử dụng số liệu thứ cấp do chính quyền địa phương cung cấp và số liệu sơ cấp thu thập từ điều tra ngư hộ. Kết quả nghiên cứu cho thấy, sản lượng khai thác thủy sản đang có chiều hướng suy giảm nghiêm trọng do có quá nhiều ghe thuyền và nhiều loại ngư cụ có tính hủy diệt đang được sử dụng, cùng với việc môi trường nước bị ô nhiễm. Sự suy giảm tài nguyên thủy sản ảnh hưởng tiêu cực đến sinh kế của người dân ven biển không chỉ tại điểm nghiên cứu mà còn ở các vùng khác, do đây là loại tài nguyên dùng chung của rất nhiều vùng lãnh thổ. Điều này đòi hỏi Việt Nam phải nỗ lực thích ứng và khai thác hiệu quả các nguồn tài nguyên thủy sản. Để thực hiện tốt công tác quản lý, các nhà hoạch định chính sách cần phải hiểu thực trạng khai thác, từ đó xây dựng các giải pháp hiệu quả để phát triển bền vững nghề cá, bảo đảm sinh kế của ngư dân.
-
ỨNG DỤNG ArcGIS ĐỂ ĐÁNH GIÁ PHÂN HẠNG THÍCH HỢP ĐẤT ĐAI CHO CÂY CÔNG NGHIỆP LÂU NĂM TẠI TỈNH ĐẮK LẮK
Abstract : 13 PDF: 13Đắk Lắk được biết đến là địa phương có tiềm năng rất lớn để phát triển cây công nghiệp lâu năm với 4 sản phẩm chủ lực là cà phê, hồ tiêu, cao su, điều. Với nhiều lợi thế về điều kiện thổ nhưỡng, khí hậu, Đắk Lắk đã hình thành nhiều vùng sản xuất cây công nghiệp lâu năm. Để có cơ sở khoa học để mở rộng phát triển sản phẩm cây công nghiệp lâu năm tại tỉnh Đắk Lắk, nghiên cứu đã phúc tra, khảo sát 1.275.797 ha (chiếm 97,91% tổng diện tích tự nhiên), xây dựng được 8 bản đồ đơn tính (loại đất, độ dày tầng đất, thành phần cơ giới, độ dốc, độ chua của đất, chất hữu cơ tổng số, dung tích hấp thu, lượng mưa trung bình năm) và chồng xếp xây dựng bản đồ đơn vị đất đai và phân hạng thích hợp cho cây ăn quả sử dụng phần mềm ArcGIS. Kết quả đánh giá mức độ thích hợp đất đối với cây công nghiệp lâu năm cho thấy mức rất thích hợp (S1) với diện tích 92.156 ha; thích hợp trung bình (S2) là 604.239 ha; thích hợp thấp (S3) là 426.110 ha; không thích hợp (N) là 153.292 ha. Kết quả đánh giá góp phần cung cấp cơ sở thực tiễn để khoanh vùng phát triển vùng trồng cây công nghiệp lâu năm cũng như điều chỉnh quy mô phát triển cây công nghiệp lâu năm của tỉnh trong những năm tiếp theo.
-
ĐÁNH GIÁ CÔNG TÁC BỒI THƯỜNG, HỖ TRỢ, TÁI ĐỊNH CƯ KHI NHÀ NƯỚC THU HỒI ĐẤT ĐỂ THỰC HIỆN MỘT SỐ DỰ ÁN TẠI THÀNH PHỐ CẨM PHẢ, TỈNH QUẢNG NINH
Abstract : 16 PDF: 12Nghiên cứu nhằm đánh giá thực trạng và đề xuất giải pháp khắc phục những tồn tại trong công tác bồi thường, hỗ trợ, tái định cư tại thành phố Cẩm Phả. Nghiên cứu đã tiến hành điều tra 10 cán bộ viên chức, 90 hộ bị thu hồi đất tại 2 dự án đã chọn theo phương pháp chọn mẫu ngẫu nhiên. Sử dụng phương pháp so sánh và dùng thang đo 5 cấp của Likert để đánh giá công tác bồi thường, hỗ trợ, tái định cư. Kết quả nghiên cứu cho thấy về cơ bản, bồi thường, hỗ trợ và tái định cư đã thực hiện đúng tiến độ, đúng pháp luật và được đại đa số người bị thu hồi đất đồng ý. Một số tồn tại là phương án bồi thường chủ yếu bằng tiền; chưa có định hướng sử dụng hiệu quả các khoản tiền bồi thường, hỗ trợ; người dân không chọn ở khu đất tái định cư. Các giải pháp đề xuất là cần thực hiện tốt công tác quản lý đất đai, đặc biệt là đăng ký biến động đất đai; xây dựng cơ sở dữ liệu đất đai tổng thể; xây dựng khu tái định cư phù hợp và có hướng dẫn sử dụng hiệu quả các khoản tiền bồi thường, hỗ trợ.
-
NGHIÊN CỨU, ĐÁNH GIÁ CÔNG TÁC CHO THUÊ ĐẤT VÀ SỬ DỤNG ĐẤT THUÊ CỦA CÁC DOANH NGHIỆP TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ THÁI NGUYÊN, TỈNH THÁI NGUYÊN TỪ NĂM 2017 ĐẾN NĂM 2019
Abstract : 6 PDF: 5Nghiên cứu, đánh giá công tác cho thuê đất và sử dụng đất thuê của các doanh nghiệp được thực hiện trên địa bàn thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên, giai đoạn 2017 - 2019. Nghiên cứu này được tiến hành nhằm tìm ra những thuận lợi, khó khăn từ đó đề xuất một số giải pháp nâng cao kết quả công tác cho thuê đất và sử dụng đất thuê. Nghiên cứu đã áp dụng các phương pháp: Thu thập số liệu; chọn mẫu điều tra; so sánh, đánh giá giữa tình hình quản lý và sử dụng đất đai trên địa bàn với các văn bản pháp luật của Trung ương và địa phương. Kết quả nghiên cứu cho thấy trong giai đoạn năm 2017 - 2019 trên địa bàn thành phố Thái Nguyên có 106 doanh nghiệp được thuê đất với tổng số khu đất được thuê là 244 khu và tổng diện tích là 6.115.897,0 m2. Về cơ bản các doanh nghiệp sau khi nhận đất đều sử dụng đất đúng mục đích, có hiệu quả, đóng góp đáng kể vào sự phát triển kinh tế - xã hội của thành phố. Để tiếp tục nâng cao kết quả công tác cho thuê đất và sử dụng đất thuê của các doanh nghiệp được thực hiện trên địa bàn thành phố Thái Nguyên, đã đề xuất thực hiện một số giải pháp về cơ chế và cải cách thủ tục hành chính; giải pháp về thực hiện chính sách đất đai; giải pháp về việc thu hút vốn đầu tư.
-
ĐA DẠNG NGUỒN TÀI NGUYÊN CÂY THUỐC TẠI VƯỜN QUỐC GIA U MINH THƯỢNG
Abstract : 13 PDF: 13Vườn Quốc gia U Minh Thượng là khu Ramsar thứ 8 của Việt Nam, nơi đây được công nhận là 1 trong 3 khu bảo tồn đất ngập nước ưu tiên cao nhất ở đồng bằng sông Cửu Long. Tài nguyên cây thuốc ở Vườn Quốc gia U Minh Thượng khá đa dạng, đặc trưng cho hệ sinh thái rừng tràm trên đất than bùn. Kết quả điều tra đã ghi nhận có 195 loài cây thuốc thuộc 164 chi, 78 họ, 2 ngành thực vật bậc cao có mạch là ngành Dương xỉ (Pteridophyta) và ngành Ngọc lan (Magnoliophyta). Hai họ có số loài nhiều nhất là họ Cúc 18 loài và họ Đậu 12 loài. Dạng thân của cây thuốc được chia làm 5 nhóm, trong đó dạng thân thảo chiếm số lượng lớn nhất là 109 loài chiếm 55,9%. Trong các bộ phận được sử dụng làm thuốc thì bộ phận cả cây được sử dụng nhiều nhất với 101 loài chiếm 51,79%. Nhóm thuốc chữa các bệnh về gan, thận, mật, đường tiết niệu có nhiều loài nhất 111 loài. 2 loài cây thuốc thuộc diện quý hiếm cần được bảo tồn là loài Cà na (Elaeocarpus hygrophilus Kurz) nằm trong Sách Đỏ Việt Nam (2007) ở mức sẽ nguy cấp (VU A2c, B1+2a,b) và loài Lõi tiền (Stephania longa Lour.) nằm trong Nghị định 06/2019/NĐ - CP thuộc nhóm II hạn chế khai thác, sử dụng vì mục đích thương mại.
-
ĐA DẠNG DI TRUYỀN NGUỒN GEN SÂM CAU (Curculigo orchioides Gaertn) BẰNG CHỈ THỊ PHÂN TỬ ISSR
Abstract : 12 PDF: 12Trong nghiên cứu này, đa dạng di truyền trong số 21 nguồn gen sâm cau (Curculigo orchioides Gaertn) thu thập từ 15 tỉnh, thành trong nước đã được đánh giá bằng chỉ thị phân tử ISSR. Tổng cộng 92 băng DNA được tạo ra bằng khuếch đại 10 mồi, kích thước dao động từ 150 bp - 1300 bp, trung bình tạo ra 9,2 băng/mồi. Số băng đa hình chiếm 80,4%. Hệ số tương đồng di truyền trong số 21 nguồn gen dao động từ 0,34-0,78. Chỉ số PIC trung bình là 0,41. Chỉ số sai khác giữa các mồi là 9,96. Quan hệ di truyền trong số 21 nguồn gen được chia làm 2 nhóm lớn: Nhóm thứ nhất gồm các mẫu SC1, SC6, SC5, CS2, SC8, SC9, SC10, SC3, SC7, SC4, SC11, SC12; nhóm thứ 2 gồm các mẫu SC13, SC16, SC14, SC15, SC20, SC21, SC17, SC18, SC19.
-
ẢNH HƯỞNG CỦA MỘT SỐ BIỆN PHÁP KỸ THUẬT ĐẾN NĂNG SUẤT VÀ CHẤT LƯỢNG HẠT GIỐNG NGƯU TẤT VDL-1
Abstract : 6 PDF: 6Nghiên cứu được tiến hành nhằm đánh giá ảnh hưởng của các biện pháp kỹ thuật đến năng suất và chất lượng hạt giống ngưu tất trồng tại Bắc Hà, tỉnh Lào Cai. Hom giống có chồi cao khoảng 5 cm, đường kính gốc 1,5 - 2,0 cm, thời vụ trồng từ 15 đến 28 tháng 2 và thời điểm thu hoạch khi số quả chín trên bông chiếm 2/3 là các yếu tố kỹ thuật thích hợp trong sản xuất hạt giống. Năng suất hạt giống đạt 594,3 kg/ha, tỷ lệ nảy mầm đạt trên 90%. Kết quả nghiên cứu có thể được áp dụng để sản xuất hạt giống ngưu tất tại Bắc Hà, Lào Cai và vùng sinh thái tương tự.
-
XÁC ĐỊNH HÀM LƯỢNG AXÍT AMIN CỦA SÂM BỐ CHÍNH (Abelmoschus sagittifolius) THU HÁI TẠI TỈNH QUẢNG BÌNH
Abstract : 6 PDF: 7Sâm Bố Chính (Abelmoschus sagittifolius (Kurz) Merr) hay còn được gọi tên khác như sâm Phú Yên, sâm Thổ Hào. Đây là loài sâm bản địa được tìm thấy lần đầu tiên tại Châu Bố Chính (Quảng Bình ngày nay). Thời gian gần đây, Trường Đại học Quảng Bình, Công ty Trách nhiệm Hữu hạn Nông nghiệp công nghệ cao Tuệ Lâm đã phối hợp để phát triển loài sâm Bố Chính với quy mô lớn ở Quảng Bình và các tỉnh lân cận bên cạnh việc đa dạng hóa các sản phẩm từ sâm. Để có cơ sở xây dựng chuỗi sản phẩm dinh dưỡng cho loài dược liệu này đã tiến hành nghiên cứu xác định hàm lượng và thành phần axít min trong củ sâm Bố Chính thu hái tại tỉnh Quảng Bình bằng máy sắc ký lỏng hiệu năng cao (HPLC). Kết quả nghiên cứu đã cho thấy có tới 18 loại axít amin ở mẫu thủy phân và 16 loại axít amin tự do, trong đó có đầy đủ 9 loại axít amin thiết yếu, hàm lượng axít amin tổng số là 6,786% (axít amin thiết yếu chiếm 2,228% khối lượng sâm và gần 33% trên tổng hàm lượng axít amin) và tổng hàm lượng axít amin tự do là 1,5% khối lượng sâm (axít amin thiết yếu chiếm hơn 25% tổng hàm lượng axít amin tự do), trong đó hàm lượng aspartic là cao nhất (hơn 23% trên tổng hàm lượng axít amin).
-
HÀM LƯỢNG MỘT SỐ HỢP CHẤT CÓ HOẠT TÍNH SINH HỌC TRONG LÁ VÀ NỤ HOA CÂY TRÀ HOA VÀNG (Camellia chrysanthoides) THU THẬP TẠI QUẢNG NINH
Abstract : 12 PDF: 12Trà hoa vàng (Camellia chrysanthoides) là loài cây dược liệu quý chứa nhiều hợp chất có hoạt tính chống viêm, hỗ trợ và điều trị ung thư và một số bệnh khác. Bằng kỹ thuật sắc ký lỏng hiệu năng cao đã xác định được hàm lượng một số hợp chất có trong lá và nụ hoa cây trà hoa vàng thu thập tại Quảng Ninh. Các chất được xác định có nhóm flavonoid gồm: catechin (C); epicatechin (EC); epigallocatechin 3-gallate (EGCG); epicatechin 3-gallate (ECG). Hàm lượng rutin và hàm lượng quercetin cũng được xác định trên lá và nụ hoa. Ngoài ra, các chất resveratrol; coumarin và nhóm axit phenolic gồm: axit caffeic (CF), axit p-coumaric (PCA), axit salicylic (SLA), axit vanillic (VA) cũng được định lượng trên lá và nụ hoa. Kết quả định lượng cho thấy, các hợp chất trên mẫu nụ hoa đều cao hơn trên mẫu lá, điều này chứng tỏ giá trị dược liệu của nụ hoa là ưu việt hơn lá. Mẫu nụ hoa được thu lấy tại Nam Mẫu, huyện Yên Tử, tỉnh Quảng Ninh có giá trị hàm lượng hoạt chất là cao nhất. Ngoài ra, nghiên cứu cũng chỉ ra rằng các mẫu lá và nụ hoa thu tại các địa điểm khác nhau thì hàm lượng các hợp chất được xác định ở các mẫu cũng khác nhau.
-
NGHIÊN CỨU HOẠT TÍNH KHÁNG VIÊM VÀ GIẢM ĐAU CỦA CAO CHIẾT CÂY HOÀNG TINH ĐỎ TRÊN MÔ HÌNH ĐỘNG VẬT THỰC NGHIỆM
Abstract : 5 PDF: 6Nghiên cứu này nhằm mục đích đánh giá hoạt tính kháng viêm cấp và giảm đau của cao chiết cây Hoàng tinh đỏ (Polygonatum kingianum Coll. Et Hemsl.). Kết quả cho thấy, cao chiết thể hiện hoạt tính kháng viêm cấp tốt trên 2 mô hình gây phù chân chuột cống bằng carrageenan và dầu croton. Ở mô hình gây phù chân chuột cống bằng carrageenan thông qua độ phù và độ dày chân chuột tỷ lệ là 12,43% và 61,31% giảm rõ rệt so với lô chuột đối chứng là 28,65% và 91,7%. Với mô hình gây phù chân chuột bằng dầu croton, ở lô chuột thí nghiệm sử dụng cao hoàng tinh đỏ liều lượng 0,02 gam/lần bôi 1 lần và 3 lần, mức độ ức chế viêm tương ứng là 44,44% và 49,67%. Bên cạnh đó, cao chiết Hoàng tinh đỏ còn có tác dụng giảm đau, được đánh giá trên các mô hình gây đau bằng nhiều tác nhân khác nhau: tác nhân nhiệt độ (mô hình mâm nóng và tail-flick), tác nhân cơ học (phương pháp rê kim) thời gian xuất hiện đáp ứng đau lần lượt là 13,72 giây; 5,58 giây và 2,4 giây dài hơn các lô chuột đối chứng. Nghiên cứu cho thấy, cây Hoàng tinh đỏ là một dược liệu tiềm năng chứa hợp chất có tác dụng kháng viêm và giảm đau.
-
NGHIÊN CỨU SỰ ẢNH HƯỞNG CỦA CÁC THÔNG SỐ ĐẾN QUÁ TRÌNH CHIẾT XUẤT DỊCH CHIẾT TINH DẦU TRÀM BẰNG SÓNG SIÊU ÂM
Abstract : 6 PDF: 6Nghiên cứu đã thực nghiệm chiết xuất dịch chiết tinh dầu tràm bằng sóng siêu âm nhằm xác định ảnh hưởng của các thông số chiết xuất đến tỷ lệ tinh dầu thu hồi trong quá trình chiết xuất tinh dầu tràm và xác định chế độ chiết xuất hợp lý. Các thực nghiệm được tiến hành tại các mức thay đổi về tỉ lệ nguyên liệu:nước từ 1:0,6 - 1:0,9, thời gian chiết xuất thay đổi từ 45 - 90 phút, nhiệt độ thay đổi từ 50 - 80oC, công suất siêu âm thay đổi từ 0 - 40 W. Kết quả đã xác định được ảnh hưởng của các thông số đến tỷ lệ tinh dầu thu hồi và xác định được chế độ chiết xuất hợp lý với tỉ lệ tràm:nước là 1:0,75, thời gian 75 phút, nhiệt độ 80oC, công suất siêu âm 30 W, tỷ lệ tinh dầu thu hồi đạt 0,376%.
-
KHẢO SÁT HOẠT TÍNH KHÁNG OXY HÓA VÀ ỨC CHẾ TYROSINASE TỪ CAO CHIẾT METHANOL THÂN VÀ THỊT QUẢ CÂY DỨA (Ananas comosus) VÙNG TẮC CẬU, KIÊN GIANG
Abstract : 6 PDF: 6Dứa có tên khoa học là Ananas comosus, là loại cây ăn trái có giá trị dinh dưỡng cao. Khảo sát khả năng kháng oxy hóa và ức chế tyrosinase của cao chiết methanol thân và thịt quả thu hái tại Tắc Cậu, tỉnh Kiên Giang được thực hiện nhằm tìm ra nguồn nguyên liệu mới sử dụng trong ngành dược liệu và mỹ phẩm. Nghiên cứu hiệu suất ly trích cao trong dung môi methanol 99%, tỷ lệ phối trộn giữa mẫu với dung môi là 1:4, kết hợp đánh sóng siêu âm với công suất là 120 W trong 72 giờ. Kết quả, hàm lượng polyphenol tổng số ở mẫu thân (301,990 mg GAE/g) cao hơn nghiệm thức thịt quả (142,562 mg GAE/g). Khả năng bắt gốc tự do DPPH ở mẫu thân với IC50 =158,94 µg/ml cao hơn mẫu thịt quả IC50 =196,97 µg/ml, khả năng khử ion Cu2+ mẫu thịt quả với IC50 = 310,1 µg/ml lại cao hơn mẫu thân IC50 =1819,6 µg/ml. Đồng thời, khả năng ức chế tyrosinase của cao thịt quả với IC50 = 395,51 µg/ml cao hơn mẫu thân IC50 = 825,82 µg/ml. Nghiên cứu đã phát hiện việc tận dụng phế phẩm từ thân và thịt quả dứa có khả năng kháng oxy hóa và ức chế tyrosinase là nguồn nguyên liệu tiềm năng trong lĩnh vực sản xuất dược liệu và mỹ phẩm.
-
ẢNH HƯỞNG CỦA QUÁ TRÌNH NẤU VÀ LÊN MEN CHÍNH ĐẾN HÀM LƯỢNG ĐƯỜNG KHỬ, AXIT AMIN HÒA TAN VÀ POLYPHENOL TRONG DỊCH BIA TỪ MALT CỦA GIỐNG LÚA IR50404
Abstract : 6 PDF: 8Khảo sát sự thay đổi hàm lượng đường khử, axit amin hòa tan (FAN) và polyphenol tổng (TPC) trong quá trình nấu và lên men chính của malt từ giống lúa IR50404 được thực hiện. Giống lúa IR50404 được ngâm trong 24 giờ với nước cất, nảy mầm ở 30±2oC trong 4 ngày tạo malt non. Sau đó, malt non được ủ nhiệt ở nhiệt độ 50oC trong 60 phút, tiếp theo được sấy ở nhiệt độ 50oC trong 24 giờ. Quá trình dịch hóa được thực hiện trên cơ sở điều chỉnh các mức nhiệt độ tối ưu cho hoạt tính của enzyme glucoamylase (52oC trong 40 phút) và alpha amylase (70oC trong 50 phút) trên cơ sở có bổ sung 5% malt lót vào cuối quá trình dịch hóa. Kết quả cho thấy, sau quá trình dịch hóa và nấu hoa houblon hàm lượng đường khử, axit amin hòa tan và TPC tăng tương ứng 1,61; 4,89 và 1,87 lần. Trong đó, hàm lượng FAN trong dịch nha sau đun sôi (12,5 độ Brix hay 13 oP) đạt yêu cầu cho quá trình lên men (170,49 mg/L). Quá trình lên chính (lên men chìm) được tiến hành cho dịch nha (12,5oBrix) bởi Saccharomyces cereviase (1 g/L) ở nhiệt độ 14-15oC giúp dịch bia non đạt độ cồn khoảng 5%V sau 4-5 ngày. Mặt khác, trong suốt quá trình lên men chính ghi nhận sự sụt giảm tương ứng của hàm lượng đường khử, FAN, TPC và pH dịch bia. Nghiên cứu này khẳng định tiềm năng của việc sản xuất bia hoàn toàn từ malt lúa IR50404 là khả thi.
-
ẢNH HƯỞNG CỦA SÓNG SIÊU ÂM LÊN HÀM LƯỢNG ANTHOCYANINS TRÍCH LY TỪ BẮP CẢI TÍM (Brassica oleracea var. capitate) VÀ RAU DỀN ĐỎ (Amaranthus tricolor)
Abstract : 6 PDF: 7Nghiên cứu ảnh hưởng của sóng siêu âm đến hiệu quả trích ly anthocyanins trên nguyên liệu bắp cải tím và rau dền đỏ được nghiên cứu với sự thay đổi của tần số sóng siêu âm ở các mức 58 kHz, 132 kHz, 192 kHz và mixed frequencies (hỗn hợp liên tục ba tần số 58 kHz, 132 kHz và 192 kHz), thời gian trích ly lần lượt là 10, 20, 30, 40, 50 và 60 phút, sử dụng dung môi khác nhau như nước cất, cồn 30% và 15% v/v được thực hiện. Các kết quả cho thấy, tần số mixed frequencies cho hiệu quả trích ly anthocyanins cao nhất trên cả hai loại nguyên liệu. Thời gian tối ưu cho quá trình trích ly là 40 phút đối với bắp cải tím và 30 phút cho rau dền đỏ. Ngoài ra, dung môi cồn 30% v/v là tối ưu cho quá trình trích ly anthocyanins từ bắp cải tím, ngược lại dung môi nước cho thấy sự hiệu quả khi xử lý trên nguyên liệu rau dền đỏ. Các kết quả trên gợi ý rằng, có thể sử dụng sóng siêu âm cho việc nâng cao hiệu quả trích ly anthocyanins từ thực vật.
-
NGHIÊN CỨU TỐI ƯU HÓA CÔNG NGHỆ SẤY CÁ ĐÙ BẰNG PHƯƠNG PHÁP SẤY PHỐI HỢP BƠM NHIỆT VÀ BỨC XẠ HỒNG NGOẠI
Abstract : 6 PDF: 6Bài báo này trình bày kết quả tối ưu hóa công nghệ sấy cá đù bằng phương pháp sấy phối hợp bơm nhiệt và bức xạ hồng ngoại. Ứng dụng phương pháp nghiên cứu thực nghiệm đa yếu tố theo phương án quy hoạch thực nghiệm bậc 1 Box-Wilson đã thiết lập được mô hình toán: Y= 5,50 + 0,29X1 + 0,56X2+ 0,07X3- 0,5 X1X2 – 0,34X1X3+ 0,39X2X3, biểu diễn mối quan hệ giữa thời gian sấy Y với nồng độ sorbitol ngâm nguyên liệu X1, nhiệt độ sấy X2 và tốc độ gió X3, trong đó nhiệt độ sấy X2 là yếu tố có ảnh hưởng lớn nhất đến thời gian sấy. Kết quả tối ưu hóa đã xác định được giá trị tối ưu của các yếu tố vào: nồng độ sorbitol 12%, nhiệt độ sấy 58,5oC, tốc độ gió 1,84 m/s và giá trị tối ưu của thông số ra: thời gian sấy 5,83 giờ. Cá đù sấy ở điều kiện tối ưu này đạt chất lượng cảm quan, vệ sinh an toàn thực phẩm và có chất lượng vượt trội so với các phương pháp sấy bằng không khí nóng và phơi nắng. Kết quả nghiên cứu trên là cơ sở quan trọng để hoàn thiện công nghệ và triển khai ứng dụng rộng rãi phương pháp sấy phối hợp bơm nhiệt và bức xạ hồng ngoại trong sản xuất.
-
TÌNH HÌNH NHIỄM GIUN TRÒN Spirocerca lupi GÂY RA TRÊN CHÓ TẠI MỘT SỐ ĐỊA ĐIỂM CỦA TỈNH THÁI NGUYÊN
Abstract : 12 PDF: 12Nghiên cứu tình hình nhiễm giun tròn Spirocerca lupi (S. lupi) gây ra trên chó tại thành phố Thái Nguyên, huyện Phú Bình và huyện Định Hóa của tỉnh Thái Nguyên cho thấy: Tỷ lệ nhiễm S. lupi ở chó qua mổ khám là 18,82%. Qua kiểm tra 1451 mẫu phân chó tại 3 huyện, thành phố của tỉnh Thái Nguyên, có 248 mẫu nhiễm S. lupi chiếm 17,09%, trong đó có 61,29% số mẫu nhiễm ở cường độ nhiễm nhẹ, 26,21% số mẫu nhiễm ở cường độ nhiễm trung bình, 12,5% số mẫu nhiễm ở cường độ nhiễm nặng. Tỷ lệ và cường độ nhiễm S. lupi ở chó nội (24,7%) cao hơn chó lai (19,61%) và chó ngoại (3,39%). Tỷ lệ và cường độ nhiễm S. lupi tăng dần theo tuổi. Tỷ lệ nhiễm S. upi ở chó cao nhất vào mùa hè (25,6%), thấp nhất là mùa đông (9,97%). Chó nuôi thả rông có tỷ lệ nhiễm S. lupi cao nhất (23,75%), thấp nhất là phương thức nuôi nhốt (5,97%).
-
ĐÁNH GIÁ CHẤT LƯỢNG MỘT SỐ GIỐNG XOÀI (Mangifera indica L.) CHÍNH TẠI ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG
Abstract : 12 PDF: 10Nghiên cứu này nhằm mục đích đánh giá chất lượng 10 giống xoài đang được trồng phổ biến tại vùng đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL), bao gồm các đặc tính vật lý, thành phần sinh hóa…giúp cho người trồng có cơ sở lựa chọn giống đưa vào canh tác. Kết quả nghiên cứu cho thấy: 10 giống phổ biến trong sản xuất, bao gồm xoài cát Hòa Lộc, Cát Chu, xoài Tượng, Thanh Ca, vv có khối lượng trái xoài dao động trong khoảng 359 g đến 1.023 g, cao nhất là giống xoài Tượng (1.023 g) và thấp nhất là giống xoài Keo (350 g). Hàm lượng vitamine C cao nhất (92,23 mg/100 g) thuộc về giống xoài Tượng. Xoài Thanh Ca có giá trị tổng chất rắn hòa tan (TSS) cao nhất (23,56° Brix) và giống xoài Úc thấp nhất (11,33° Brix). Với chỉ tiêu hàm lượng carotene, các giống xoài Thanh Ca, cát Hòa Lộc vượt trội hơn các giống khác. Đánh giá cảm quan cho thấy các giống Thanh Ca, Hòa Lộc, Keo Bảy Núi có vị ngọt hấp dẫn và giống xoài Tượng có vị chua hơi gắt. Kết quả nghiên cứu này có thể được sử dụng để cập nhật cơ sở dữ liệu thành phần thực phẩm xoài của Việt Nam.
-
ẢNH HƯỞNG CỦA UNICONAZOLE RIÊNG LẺ HAY KẾT HỢP VỚI MEPIQUAT CHLORIDE LÊN SỰ RA HOA XOÀI TƯỢNG DA XANH TẠI HUYỆN CHỢ MỚI, TỈNH AN GIANG
Abstract : 5 PDF: 6Nghiên cứu được thực hiện nhằm xác định nồng độ và liều lượng Uniconazole (UCZ) riêng lẻ hay kết hợp với Mepiquate chloride (MC) có hiệu quả lên sự ra hoa, năng suất xoài Tượng da xanh (TDX) tại huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang. Thí nghiệm được thực hiện từ tháng 5/2019 đến tháng 12/2019 trên 2 vườn tại huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang. Cả 2 thí nghiệm được bố trí theo thể thức khối hoàn toàn với mỗi thí nghiệm có 5 nghiệm thức và 5 lần lập lại, mỗi lần lập lại là 1 cây. Thí nghiệm 1 các nghiệm thức lần lượt là: 1) tưới Paclobutrazol (PBZ) vào đất với liều lượng 1,5 g a.i./m đkt (đối chứng), 2) phun UCZ qua lá với nồng độ 1.000 ppm, 3) phun UCZ qua lá với nồng độ 1.000 ppm và 30 ngày sau phun MC với nồng độ 1.000 ppm, 4) phun UCZ qua lá với nồng độ 1.500 ppm và 5) phun UCZ 1.500 ppm và 30 ngày sau phun MC với nồng độ 1.000 ppm. Thí nghiệm 2 các nghiệm thức tương tự như thí nghiệm 1 nhưng UCZ được xử lý bằng cách tưới vào gốc xung quanh tán cây với liều lượng 1,0; 1,5 gam a.i./m đkt. Hai thí nghiệm đều sử dụng KNO3 để kích thích trổ hoa (KTTH) với 2 lần cách nhau 7 ngày, lần 1 sử dụng với nồng độ 3% và lần 2 sử dụng nồng độ 2%. Kết quả cho thấy ở thí nghiệm 1 khi xử lý nồng độ UCZ riêng lẻ hay kết hợp với MC đều không làm ảnh hưởng đến hàm lượng các chất đồng hóa so với xử lý bằng PBZ 1,5 g a.i/m đkt. Tỷ lệ ra hoa trung bình là 78,62%. Ở thí nghiệm 2 khi xử lý UCZ bằng cách tưới vào đất với liều lượng 1,0 hoặc 1,5 gam a.i./m đkt riêng lẻ hay kết hợp với MC có tỷ lệ ra hoa đều lớn hơn 78%. Năng suất, thành phần năng suất đều khác biệt không có ý nghĩa thống kê so với đối chứng xử lý PBZ với liều lượng 1,5 g a.i./m đkt. Xử lý UCZ không ảnh hưởng đến phẩm chất quả ở cả hai thí nghiệm.
-
NGHIÊN CỨU ẢNH HƯỞNG CỦA CHẾ PHẨM PHÂN BÓN LÁ ĐẾN NĂNG SUẤT VÀ PHẨM CHẤT THANH LONG RUỘT ĐỎ TẠI TỈNH THÁI NGUYÊN
Abstract : 11 PDF: 12Nhằm mục đích hạn chế sự rụng quả và cải thiện năng suất thanh long ruột đỏ, vốn có giá trị kinh tế cao, đã và đang được trồng phổ biến ở các tỉnh miền Bắc Việt Nam, đề tài nghiên cứu tác động của một số chế phẩm phân bón lá đến năng suất và chất lượng giống thanh long ruột đỏ Đài Loan, trồng tại tỉnh Thái Nguyên đã được tiến hành trong năm 2017. Kết quả cho thấy: các chế phẩm bón lá, phun vào 3 lần (trước khi hoa nở 3-4 ngày, sau khi quả rụng râu và khi vỏ quả bắt đầu chuyển màu đỏ) đều có tác dụng nâng cao năng suất thông qua việc làm tăng tỷ lệ đậu quả, kích thước quả và tỷ lệ thịt quả. Trong đó, chế phẩm 1 (N 5%; B 0,05%; P205 1%; Zn 0,02%; K2O 5%) và chế phẩm 3 (axít Humíc: 4,5% (Phil’s K-Humate 25%); N–P2O5–K2O: 5% - 3% - 4%; Fe: 0,05%; Mn: 0,01%; Cu: 0,03%; Zn: 0,03%; Mg: 0,1%; Bo > 800ppm và các axít amin khác) cho kết quả vượt trội (năng suất lần lượt là 11,06 kg và 11,75 kg/trụ, so với đối chứng chỉ đạt 7,41 kg/trụ). Sử dụng chế phẩm 4 để xác định nồng độ xử lý thích hợp, kết quả chỉ ra rằng nồng độ 1ml/l đem lại hiệu quả cao cả về năng suất và chất lượng quả.
-
SỬ DỤNG PHÂN Ủ BẰNG CHẾ PHẨM SINH HỌC MỚI COMPOST MAKER BIO-02 TRONG SẢN XUẤT RAU HỮU CƠ TẠI SÓC SƠN – HÀ NỘI
Abstract : 6 PDF: 4Phân hữu cơ ủ là nguồn dinh dưỡng chủ yếu được sử dụng trong sản xuất rau hữu cơ. Để thúc đẩy quá trình ủ phân và tăng chất lượng phân ủ, chế phẩm sinh học Compost maker Bio-02 đã được sử dụng để sản xuất phân ủ (HC2). Nghiên cứu này được triển khai trên đất canh tác hữu cơ của xã Thanh Xuân, huyện Sóc Sơn, TP. Hà Nội qua 3 vụ năm 2019 nhằm xác định liều lượng bón HC2 thích hợp cho sản xuất các loại rau hữu cơ. Thí nghiệm được bố trí theo khối ngẫu nhiên đầy đủ với 4 mức bón HC2 (10, 12, 14 và 16 tấn/ha), đối chứng là bón 12 tấn HC1/ha (phân ủ thông dụng tại địa phương) và 3 lần nhắc lại. Thí nghiệm tiến hành lần lượt với 3 loại rau trong một công thức luân canh: dưa chuột xuân hè – mồng tơi hè thu – cải củ đông. Kết quả cho thấy bón 14 tấn HC2/ha là thích hợp nhất, giúp cho các loại rau sinh trưởng, phát triển tốt, cho năng suất cao, chất lượng tốt. Bón HC2 ở mức cao (14 – 16 tấn/ha) làm tăng chất lượng của đất (tăng hàm lượng hữu cơ, đạm, lân, kali dễ tiêu và Mg trao đổi).
-
NGHIÊN CỨU ẢNH HƯỞNG CỦA CHẤT ĐIỀU HOÀ SINH TRƯỞNG GA3 ĐẾN TỶ LỆ ĐẬU QUẢ, NĂNG SUẤT VÀ CHẤT LƯỢNG QUẢ GIỐNG BƯỞI DA XANH TẠI THÁI NGUYÊN
Abstract : 6 PDF: 6Kết quả nghiên cứu trên cây bưởi giống Da Xanh 6-7 năm tuổi trong các năm 2017-2018 tại Thái Nguyên cho thấy: phun 3 lần chất điều hòa sinh trưởng GA3 vào các thời kỳ: trước khi hoa nở 10 ngày (lần 1), khi hoa nở rộ (lần 2) và sau khi hoa nở 10 ngày (lần 3) cho tỷ lệ đậu quả cao nhất, tăng từ 0,12 đến 7,35% so với đối chứng phun nước lã. Trong đó, xử lý ở nồng độ 50 ppm đem lại hiệu quả cao nhất (tỷ lệ đậu quả tăng từ 1,38% đến 10,45%, năng suất quả đạt 58,74 – 85,40 kg quả/cây), sai khác có ý nghĩa thống kê ở mức tin cậy 95%. Phun GA3 ở các nồng độ từ 50 đến 70 ppm kết hợp với khoanh vỏ vào ngày 15/12 của năm trước có tác dụng làm tăng tỷ lệ đậu 2,17 – 10,42% và tăng năng suất quả từ 57,60 – 97,16 kg quả/cây so với công thức đối chứng phun nước lã. Phun GA3 không làm thay đổi chất lượng bưởi Da Xanh thể hiện qua một số chỉ tiêu cơ bản như hàm lượng đường tổng số, axit, độ brix và vitamin C...
-
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU BIỆN PHÁP KỸ THUẬT CẮT TỈA CHO GIỐNG THANH LONG RUỘT ĐỎ TL5 TẠI HÀ NỘI
Abstract : 6 PDF: 4Nghiên cứu biện pháp kỹ thuật cắt tỉa trên giống thanh long ruột đỏ TL5 nhằm nâng cao năng suất và hiệu quả kinh tế cho người nông dân trồng thanh long. Thí nghiệm bao gồm 5 công thức: Cắt tỉa để lại 8, 16, 24, 32 cành/trụ và công thức đối chứng cắt tỉa theo quy trình của Viện Nghiên cứu Rau quả. Các thí nghiệm được bố trí theo khối ngẫu nhiên đầy đủ, mỗi công thức 15 cây, nhắc lại 3 lần, trên cây 5 năm tuổi, mật độ trồng 1.000 trụ/ha tại Viện Nghiên cứu Rau quả, Trâu Quỳ, Gia Lâm, Hà Nội. Kết quả nghiên cứu thu được cho thấy, các công thức cắt tỉa để lại số cành/trụ khác nhau có ảnh hưởng đến khả năng sinh trưởng, chiều dài cành và tổng số cành/trụ. Các công thức cắt tỉa để lại 24 cành/trụ và 32 cành/trụ có tổng số quả thu hoạch/trụ đạt 82,5-83,7 quả/trụ; năng suất thu được đạt 40,8-41,7 kg/trụ, lớn hơn so với năng suất thu được ở công thức đối chứng và các công thức cắt tỉa để lại số cành/trụ nhỏ hơn. Cắt tỉa bớt số cành trên trụ vào thời điểm sau thu hoạch quả có tác dụng làm tăng khối lượng quả và làm giảm tỷ lệ gây hại của một số đối tượng bệnh hại chính.








