NGHIÊN CỨU ẢNH HƯỞNG CỦA CHẾ PHẨM PHÂN BÓN LÁ ĐẾN NĂNG SUẤT VÀ PHẨM CHẤT THANH LONG RUỘT ĐỎ TẠI TỈNH THÁI NGUYÊN
DOI:
https://doi.org/10.71254/24k39d63Abstract
Aimed to reduce fuit dropping and improve the yield of red dragon fruit considered as valuable crop that has been currently developed in Northern provinces of Viet Nam, a study on the effect of some foliar fertilizers to the productivity and fruit quality of Taiwan red colord dragon fruit cultivar cultivated in Thai Nguyen was implemented in 2017. Results conducted from the study showed that all foliar fertilizers sprayed 3 times (3-4 days before blooming, young fruit formed completion and fruit peel turned pink),gave good impact to the productivity indicated by increasing fruit setting, fruit dimension and fruit pulp percentation in which remarkable effectiveness was recorded with foliar fertilizers 1 (N 5%; B 0.05%; P205 1%; Zn 0.02%; K2O 5%) and 3 (acid Humíc: 4.5% (Phil’s K-Humate 25%); N–P2O5–K2O: 5% - 3% - 4%; Fe: 0.05%; Mn: 0.01%; Cu: 0.03%; Zn: 0.03%; Mg: 0.1%; Bo > 800ppm and acids amine) treatments (the yield of 11.06 kg and 11.75 kg/a bush respectively, much higher than 7.41 kg/a bush of the control). In addition, the concentration of 1 ml of foliar fertilize 4 (considerd as promissing one) was also reported appropriate for improvement of the yield and fruit quality as well.
Keywords:
Red dragon fruit, fruit set, fruit yield, fruit quality, foliar fertilizerTóm tắt
Nhằm mục đích hạn chế sự rụng quả và cải thiện năng suất thanh long ruột đỏ, vốn có giá trị kinh tế cao, đã và đang được trồng phổ biến ở các tỉnh miền Bắc Việt Nam, đề tài nghiên cứu tác động của một số chế phẩm phân bón lá đến năng suất và chất lượng giống thanh long ruột đỏ Đài Loan, trồng tại tỉnh Thái Nguyên đã được tiến hành trong năm 2017. Kết quả cho thấy: các chế phẩm bón lá, phun vào 3 lần (trước khi hoa nở 3-4 ngày, sau khi quả rụng râu và khi vỏ quả bắt đầu chuyển màu đỏ) đều có tác dụng nâng cao năng suất thông qua việc làm tăng tỷ lệ đậu quả, kích thước quả và tỷ lệ thịt quả. Trong đó, chế phẩm 1 (N 5%; B 0,05%; P205 1%; Zn 0,02%; K2O 5%) và chế phẩm 3 (axít Humíc: 4,5% (Phil’s K-Humate 25%); N–P2O5–K2O: 5% - 3% - 4%; Fe: 0,05%; Mn: 0,01%; Cu: 0,03%; Zn: 0,03%; Mg: 0,1%; Bo > 800ppm và các axít amin khác) cho kết quả vượt trội (năng suất lần lượt là 11,06 kg và 11,75 kg/trụ, so với đối chứng chỉ đạt 7,41 kg/trụ). Sử dụng chế phẩm 4 để xác định nồng độ xử lý thích hợp, kết quả chỉ ra rằng nồng độ 1ml/l đem lại hiệu quả cao cả về năng suất và chất lượng quả.








