Số Tháng 10 (2025): SỐ ĐẶC BIỆT: KHOA HỌC - CÔNG NGHỆ NGÀNH THUỶ SẢN
Bài viết
-
NGHIÊN CỨU ĐÁNH GIÁ SINH TRƯỞNG VÀ TỶ LỆ SỐNG CỦA ĐÀN CÁ RÔ PHI VẰN CHỌN GIỐNG SINH TRƯỞNG NHANH THẾ HỆ G4 SO VỚI DÒNG CÁ TRUNG QUỐC VÀ THÁI LAN TRONG HỆ THỐNG LỒNG
Abstract : 377 PDF: 0Nghiên cứu này nhằm đánh giá sinh trưởng, tỷ lệ sống, mức độ đồng đều và tỷ lệ phi lê của cá Rô phi dòng chọn giống G4 với dòng cá Trung Quốc và Thái Lan. Thí nghiệm được bố trí trong hệ thống lồng trên nhánh sông Tam Kỳ, 3.000 con/dòng, thí nghiệm lặp lại 3 lần. Sau 161 ngày nuôi cho thấy sự tăng trưởng về khối lượng và chiều dài của dòng cá G4 (936,3 ± 6,03 g và 422,9 ± 1,84 mm), sai khác không có ý nghĩa thống kê với dòng cá Trung Quốc (985,8 ± 17,59 g và 440,4 ± 6,05 mm) và dòng cá Thái Lan (952,4 ± 12,31 g và 427,4 ± 4,66) (P > 0,05). Tỷ lệ sống của dòng cá chọn giống G4 cao nhất (93,28 ± 2,102%), tương đồng với tỷ lệ sống của dòng cá Thái Lan (P > 0,05), cao hơn dòng cá Trung Quốc (P < 0,05). Tỷ lệ phân đàn của dòng cá G4 (13,66 ± 0,844%) thấp nhất so với hai dòng cá Trung Quốc và Thái Lan (P < 0,05), mức độ đồng đều trong quần đàn cao hơn 27% so với hai dòng cá còn lại. Tỷ lệ phi lê thịt của dòng cá G4 cao hơn hẳn so với hai dòng cá còn lại (P < 0,05).
-
NGHIÊN CỨU THỰC TRẠNG NHIỄM KÝ SINH TRÙNG Ở MỘT SỐ LOÀI CÁ BIỂN TỈNH NGHỆ AN
Abstract : 269 PDF: 0Tổng số 447 mẫu cá biển thuộc 45 loài, 24 họ và 7 bộ được thu thập tại vùng biển tỉnh Nghệ An để tiến hành mổ khám, xét nghiệm tìm ký sinh trùng. Trong đó, bộ cá Vược (Perciformes) đa dạng nhất, với 34 loài thuộc 18 họ. Tiếp theo là bộ cá Đối (Mugiliformes) với 5 loài thuộc 1 họ; bộ cá Trích (Clupeiformes) với 2 loài thuộc 1 họ, các bộ còn lại chỉ ghi nhận 1 loài. Kết quả khảo sát cho thấy, có 37 loài cá (82,22%) nhiễm ít nhất một loài ký sinh trùng. Có 325 mẫu cá (72,71%) nhiễm từ 1 - 4 nhóm ký sinh trùng. Trong đó, sán lá đơn chủ (Monogenea) và sán lá song chủ (Trematoda) là phổ biến nhất, với tỉ lệ nhiễm lần lượt là 30,43% và 20,81%. Các nhóm khác gồm: Giáp xác ký sinh (Crustacea), giun tròn (Nematoda) và giun đầu gai (Acanthocephala) có tỷ lệ nhiễm tương ứng là 13,42%, 6,94% và 1,12%. Cường độ nhiễm trung bình là 7,58 ký sinh trùng/cá nhiễm. Trong đó, nhóm sán lá đơn chủ có cường độ nhiễm cao nhất (8,82 sán/cá), tiếp đến là giun tròn (8,65 giun/cá), sán lá song chủ (7,98 sán/cá), giáp xác (4,03 cá thể/cá) và thấp nhất là giun đầu gai (2,40 giun/cá).
-
ĐẶC ĐIỂM HÌNH THÁI HỌC VÀ DI TRUYỀN PHÂN TỬ CỦA LOÀI TRÙNG BÀO TỬ SỢI Myxobolus baskai Molnár, Székely, Mohamed & Shaharom-Harrison, 2006 KÝ SINH TRONG MANG CÁ TRA (Pangasianodon hypophthalmus) GIAI ĐOẠN GIỐNG Ở THÀNH PHỐ CẦN THƠ
Abstract : 207 PDF: 0Trong quá trình khảo sát sự hiện diện của trùng bào tử sợi (Myxozoa) ký sinh trên mang cá tra giống (Pangasianodon hypophthalmus) tại khu vực thành phố Cần Thơ, 100 mẫu cá được thu thập từ các ao nuôi thuộc phường Trung Nhứt và Trung tâm Dịch vụ Nông nghiệp xã Vĩnh Thạnh, thành phố Cần Thơ. Quan sát đặc điểm hình thái trên tiêu bản soi tươi, kết quả ghi nhận có 25/100 mẫu cá tra nhiễm bào tử của loài Myxobolus baskai ký sinh trong mang. Các bào nang có kích thước từ 0,3 - 0,9 mm bám trên các phiến mang của cá. Trong các bào nang có chứa rất nhiều bào tử. Bào tử trưởng thành có hình trứng khi quan sát từ phía trước bào tử. Cực dưới bào tử tròn và cực trên thon gọn và dày. Bào tử có chiều dài trung bình 14,5 (13,8 - 15,1) µm, rộng 11,1 (10,5 - 11,8) µm và dày 6,4 (6,2 - 6,9) µm. Bào tử chứa 2 nang cực có hình quả lê tương đối bằng nhau, có chiều dài là 6,4 (6,1 - 6,6) µm và chiều rộng là 3,2 (3,0 - 3,6) µm. Bên trong mỗi nang cực có sợi cực cuộn vào nhau thành 4 - 5 vòng. Trình tự đoạn gen SSU rDNA có kích thước 1.552 bp. Kết quả phân tích trình tự SSU rDNA cho thấy, loài Myxobolus baskai có mối quan hệ di truyền gần gũi với loài M. eszterbaueri ký sinh trên mang cá tra tại Thái Lan.
-
NGHIÊN CỨU HỘI CHỨNG VÀNG DA TRÊN CÁ TRA (Pangasianodon hypophthalmus) NUÔI THÂM CANH TẠI ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG, VIỆT NAM
Abstract : 328 PDF: 0Nghiên cứu xác định yếu tố liên quan đến biểu hiện bệnh lý vàng da trên cá tra (P. hypophthalmus) nuôi thâm canh tại đồng bằng sông Cửu Long. Tổng cộng 127 ao cá được khảo sát, trong đó có 22 ao cá không có dấu hiệu bị bệnh, 105 ao có cá bệnh trong đó có 39 ao cá có dấu hiệu bệnh lý vàng da. Kết quả phân tích vi sinh cho thấy, gan thận mủ, viêm túi mật, sưng cuống mật, xuất huyết phù mắt, trương bóng hơi, trắng gan, trắng mang và lở loét có khả năng nhiễm kép đối với cá tra bị vàng da; tuy nhiên, phân tích yếu tố tương quan ghi nhận chỉ gan thận mủ, viêm túi mật và sưng cuống mật có ảnh hướng trực tiếp. Phân tích mô học quan sát thấy sắc tố lắng đọng giữa kẽ tế bào gan, thận, tỳ tạng của cá tra bệnh. Giun tròn và vi khuẩn được ghi nhận trong vách ống mật. Kết quả đã chỉ ra biểu hiện vàng da trên cá tra thực chất là một hội chứng hình thành bởi nhiều yếu tố khác nhau, gây nên hiện tượng tắc ống dẫn mật chủ. Đồng thời, đưa ra giả thuyết vi khuẩn ảnh hưởng đến gan cá tra là căn nguyên tiềm ẩn tác động đến hội chứng vàng da.
-
HIỆN TRẠNG KHÁNG KHÁNG SINH CỦA VI KHUẨN Edwardsiella ictaluri TRÊN CÁ TRA GIỐNG (Pangasianodon hypophthalmus) Ở TỈNH TÂY NINH VÀ ĐỒNG THÁP
Abstract : 410 PDF: 0Nghiên cứu này nhằm đánh giá tỷ lệ kháng kháng sinh của 75 chủng vi khuẩn Edwardsiella ictaluri (E. ictaluri), phân lập từ cá tra giống (Pangasianodon hypophthalmus) tại tỉnh Tây Ninh và Đồng Tháp với 10 loại kháng sinh. Kết quả cho thấy, các chủng E. ictaluri có tỷ lệ kháng cao với các kháng sinh Ampicillin, Streptomycin, Trimethoprim/Sulfamethoxazol, axit Nalidixic, Florfenicol lần lượt là: 61,3; 74,7; 97,3; 93,3; 60,0%. Tỷ lệ vi khuẩn thể hiện tính đa kháng là 97,3%; trong đó, tỷ lệ đa kháng từ 3-6 loại kháng sinh là 89,3%. Chỉ số đa kháng kháng sinh (MAR) dao động từ 0,37 - 0,48 (của mỗi địa điểm thu mẫu) cho thấy, cá tra giống có thể được nuôi trong các khu vực mà kháng sinh thường được sử dụng.
-
ĐÁNH GIÁ ĐỘC TÍNH CỦA IVERMECTIN ĐỐI VỚI CÁ CHIM VÂY VÀNG (Trachinotus spp.) GIAI ĐOẠN GIỐNG
Abstract : 277 PDF: 0Ivermectin là hoạt chất chống ký sinh trùng phổ rộng đã chứng minh hiệu quả trong kiểm soát các bệnh nội ngoại ký sinh trùng. Tuy nhiên, độc tính của Ivermectin đối với các loài cá nuôi, đặc biệt ở giai đoạn giống, vẫn chưa được đánh giá đầy đủ. Nghiên cứu này được thực hiện nhằm xác định độc tính cấp tính và giá trị LD50 (96 giờ) của Ivermectin trên cá chim vây vàng (Trachinotus spp.) giai đoạn giống (5 - 7 cm). Cá được tiếp xúc ở 8 nồng độ Ivermectin (0,05 - 1,00 ppm) trong 96 giờ. Kết quả cho thấy, LD50 sau 96 giờ được xác định là 0,086 ppm (CI 95%: 0,070 - 0,101 ppm). Số cá chết lên tới 100% ở các nồng độ từ 0,16 ppm trở lên sau 48 giờ, đi cùng với các biểu hiện lâm sàng bao gồm mất cân bằng, bơi xoay tròn, giảm phản xạ và cường độ hô hấp tăng mạnh. Ứng dụng Ivermectin trong điều trị ký sinh trùng trên cá chim vây vàng cần được nghiên cứu sâu hơn về liều lượng, thời gian tiếp xúc và con đường đưa thuốc nhằm đảm bảo an toàn cho cá nuôi.
-
NGHIÊN CỨU ẢNH HƯỞNG CỦA VI KHUẨN QUANG HỢP (Rhodopseudomonas palustris) LÊN SINH TRƯỞNG VÀ PHÁT TRIỂN CỦA TÔM THẺ CHÂN TRẮNG (Litopenaeus vannamei)
Abstract : 230 PDF: 0Vi khuẩn quang hợp (Rhodopseudomonas palustris) thuộc nhóm vi khuẩn kị khí chứa nhiều enzyme và thành phần có hoạt tính sinh học cao có lợi đối với động vật thủy sinh. Tuy nhiên, những nghiên cứu liên quan đến việc sử dụng vi khuẩn quang hợp trong hoạt động nuôi trồng thủy sản vẫn rất hạn chế. Nghiên cứu này được thực hiện với mục đích đánh giá ảnh hưởng của vi khuẩn quang hợp lên sinh trưởng và phát triển của tôm thẻ chân trắng (Litopenaeus vannamei) thông qua bổ sung vi khuẩn ở các nồng độ khác nhau (1; 3; 5% sinh khối tươi dạng sệt/kg thức ăn) vào khẩu phần thức ăn. Kết quả nghiên cứu chỉ ra rằng các chỉ tiêu liên quan đến tốc độ tăng trưởng về khối lượng (DWG g/ngày, SGRW %/ngày) và chiều dài (DLG mm/ngày, SGRL %/ngày), hệ số chuyển đổi thức ăn (FCR) và tỉ lệ sống (SR) của tôm đã được cải thiện đáng kể khi bổ sung vi khuẩn ở nồng độ 5%. Cụ thể, khối lượng và chiều dài tôm sử dụng thức ăn bổ sung vi khuẩn quang hợp tại thời điểm kết thúc thí nghiệm đạt 8,61 ± 0,05 g/con, 108,76 ± 1,04 mm/con so với 5,54 ± 0,17 g/con, 96,53 ± 1,10 mm/con ở nghiệm thức đối chứng. FCR của tôm sử dụng thức ăn bổ sung (1,34 ± 0,01) thấp hơn có ý nghĩa thống kê so với tôm ở lô đối chứng (1,53 ± 0,01) và tỉ lệ sống của tôm sử dụng thức ăn bổ sung (80 ± 1,15%) cao hơn có ý nghĩa thống kê so với tôm ở nghiệm thức đối chứng (73 ± 1,73%) (p < 0,05). Những kết quả này chỉ ra rằng bổ sung vi khuẩn quang hợp đã thúc đẩy sự sinh trưởng và phát triển của tôm thẻ chân trắng.
-
ẢNH HƯỞNG CỦA MẬT ĐỘ NUÔI ĐẾN SỰ TÍCH LŨY TRẦM TÍCH TRONG AO TÔM THẺ CHÂN TRẮNG (Litopenaeus vannamei)
Abstract : 316 PDF: 0Nghiên cứu này đánh giá ảnh hưởng của mật độ nuôi đến quá trình tích lũy trầm tích trong ao nuôi tôm thẻ chân trắng (Litopenaeus vannamei) tại tỉnh Ninh Bình. Ba mô hình nuôi được so sánh: Siêu thâm canh A (219 con/m²), siêu thâm canh B (167 con/m²) và thâm canh C (92 con/m²) trong 103 ngày. Trầm tích được thu thập định kỳ bằng bẫy chuyên dụng qua bốn giai đoạn nuôi, từ tháng nuôi 1 đến tháng nuôi 4 (TN1 - TN4). Kết quả cho thấy, lượng trầm tích tăng dần theo thời gian, đạt đỉnh ở TN3. Cụ thể, giá trị là 74,56 ± 3,47 g/bẫy (mô hình A), 70,18 ± 4,21 g/bẫy (B) và 57,37 ± 3,51 g/bẫy (C). Sau đó, lượng trầm tích ổn định ở TN4. Tổng lượng trầm tích tích lũy cao nhất ở mô hình A (175 ± 5,5 tấn/ha/vụ), tiếp theo là B (161 ± 7,4 tấn/ha/vụ) và thấp nhất ở C (131 ± 6,5 tấn/ha/vụ). Tốc độ lắng đọng trung bình cũng cao nhất ở mô hình A (255,93 ± 11,56 g/m²/ngày tại TN4), so với mô hình B (231,59 ± 18,73 g/m²/ngày) và mô hình C (194,11 ± 16,69 g/m²/ngày). Phân tích thống kê bằng kiểm định Friedman (p < 0,001) xác nhận sự khác biệt có ý nghĩa thống kê giữa các mô hình nuôi, với mô hình A luôn có lượng trầm tích cao nhất. Hệ số tương quan Spearman (p > 0,86) cho thấy mối quan hệ thuận mạnh mẽ giữa thời gian nuôi và lượng trầm tích tích lũy. Nghiên cứu khẳng định mật độ nuôi cao làm tăng đáng kể lượng trầm tích, đe dọa chất lượng môi trường. Do đó, cần áp dụng các biện pháp quản lý thức ăn chặt chẽ, tăng cường xi - phông đáy ao và kiểm soát mật độ nuôi để giảm thiểu ô nhiễm trầm tích, đặc biệt trong mô hình siêu thâm canh.
-
ẢNH HƯỞNG CỦA MỘT SỐ YẾU TỐ MÔI TRƯỜNG VÀ THỨC ĂN ĐẾN QUÁ TRÌNH THÀNH THỤC SINH DỤC CỦA BÀO NGƯ CHÍN LỖ BỐ MẸ (Haliotis diversicolor) TRONG ĐIỀU KIỆN NUÔI VỖ
Abstract : 215 PDF: 0Nghiên cứu được thực hiện nhằm xác định ảnh hưởng của nhiệt độ, độ mặn, thời gian chiếu sáng và tỷ lệ hàm lượng dinh dưỡng trong khẩu phần ăn đến quá trình thành thục sinh dục của bào ngư chín lỗ bố mẹ (Haliotis diversicolor) trong điều kiện nuôi thí nghiệm. Ba thí nghiệm được bố trí hoàn toàn ngẫu nhiên trong 75 ngày. Thí nghiệm 1, khảo sát 9 tổ hợp nhiệt độ (25, 28, 31°C) và độ mặn (27, 30, 33‰); thí nghiệm 2, đánh giá 3 chế độ chiếu sáng ở 3 mức nhiệt độ khác nhau; thí nghiệm 3, khảo sát 9 công thức thức ăn có hàm lượng protein (28, 33, 38%) và lipid (6, 8, 10%) khác nhau. Kết quả cho thấy, tổ hợp nhiệt độ 28°C và độ mặn 30 - 33‰ là tối ưu, cho tăng trưởng sinh trưởng và thành thục sinh dục của bố mẹ bào ngư chín lỗ, với tốc độ phát triển tuyến sinh dục (VGB) đạt 11,9%/ngày. Về thời gian chiếu sáng, nghiệm thức “24 giờ tối” kích thích rõ ràng quá trình thành thục, đặc biệt ở cá thể cái, với tỷ lệ phóng trứng tự phát cao hơn. Thí nghiệm thức ăn cho thấy, công thức chứa 33% protein và 8% lipid đạt hiệu quả vượt trội về về tốc độ phát triển VGB, đồng thời hỗ trợ tăng trưởng chiều dài và khối lượng cơ thể. Các công thức có protein thấp (28%) hoặc lipid quá cao (10%) không mang lại hiệu quả tương ứng. Nghiên cứu cung cấp bằng chứng rõ ràng về ảnh hưởng đồng thời của các yếu tố môi trường và dinh dưỡng đến thành thục sinh dục bào ngư chín lỗ bố mẹ, qua đó đề xuất tổ hợp điều kiện tối ưu hỗ trợ xây dựng quy trình kỹ thuật nuôi vỗ phục vụ sản xuất giống bào ngư chủ động và bền vững tại Việt Nam.
-
NGHIÊN CỨU ĐÁNH GIÁ CHẤT LƯỢNGMÔI TRƯỜNG NƯỚC VÙNG NUÔI TÔMVEN BIỂN GIAI ĐOẠN 2017 - 2024
Abstract : 256 PDF: 0Nghiên cứu này đánh giá chất lượng nước vùng nuôi tôm ven biển ở năm tỉnh, từ Ninh Bình đến thành phố Huế, giai đoạn 2017 - 2024 và phân tích mối liên hệ với sản xuất. Tổng số 2.164 mẫu được phân tích cho 15 chỉ tiêu lý - hóa và sinh học. So sánh với TCVN 13656:2023, tỷ lệ mẫu vượt chuẩn nhiều nhất là độ mặn (43,9%), nhiệt độ (33,9%), kiềm (30,3%) và DO (26,0%). Ghi nhận một số ngoại lệ cao đối với coliforms (12,3 lần), NO2- (11,2 lần) và H2S (9,4 lần). Biến động thời gian khá rõ rệt: 100% mẫu tháng 1 - 2 dưới ngưỡng nhiệt tối ưu (26 - 32°C), vào giữa năm tỷ lệ vượt ngưỡng ít hơn. Theo không gian, thành phố Huế có tỷ lệ vượt chuẩn cao nhất. Sản lượng tôm tăng dần qua các năm với ngoại trừ tỉnh Quảng Trị có xu thế không ổn định. Diện thích nuôi thủy sản giảm rõ rệt ở tỉnh Hà Tĩnh và tỉnh Quảng Trị trong khi các tỉnh khác tăng nhẹ. Tương quan Kendall và Spearman cho thấy sản lượng và diện tích liên quan có ý nghĩa (p < 0,05) với pH, DO, kiềm, NH3, PO4, TSS, Vibrio và tảo độc, chứng minh tăng trưởng gắn với áp lực dinh dưỡng, hữu cơ và vi sinh. Kết quả nhấn mạnh, quản lý nuôi tôm trong giới hạn chịu tải môi trường có xét đến biến động mùa vụ và khác biệt không gian là cần thiết.
-
ĐÁNH GIÁ HIỆN TRẠNG KỸ THUẬT VÀ HIỆU QUẢ KINH TẾ CỦA MÔ HÌNH NUÔI NGHÊU (Meretrix lyrata) TRÊN BÃI TRIỀU TẠI TỈNH CÀ MAU VÀ VĨNH LONG
Abstract : 343 PDF: 0Nghiên cứu tiến hành điều tra khảo sát các hộ nuôi nghêu trắng tại tỉnh Cà Mau và Vĩnh Long nhằm đánh giá hiện trạng kỹ thuật nuôi và hiệu quả kinh tế của nghề nuôi nghêu tại đây. Kết quả cho thấy, mô hình nuôi ở tỉnh Vĩnh Long là tổ hợp tác xã và ở tỉnh Cà Mau là theo nhóm hoặc nông hộ riêng lẻ. Hiện trạng kỹ thuật của mô hình nuôi có sự khác biệt giữa hai địa phương: Ở tỉnh Vĩnh Long, diện tích nuôi nghêu trung bình là 106,55 ± 82,23 ha, mật độ nuôi 167 ± 50,56 con/m2 với kích cỡ giống là 1.218,18 ± 292,64 con/kg, thời gian nuôi trung bình 16,46 ± 4,93 tháng; các hộ nuôi nghêu ở tỉnh Cà Mau có diện tích nuôi nhỏ hơn, chỉ 23,75 ± 14,49 ha, mật độ nuôi 402,08 ± 198,42 con/m2, cỡ giống thả 2.641,67 ± 729,21 con/kg, thời gian nuôi 13,7 ± 3,2 tháng. Mô hình nuôi nghêu trên bãi triều ở tỉnh Cà Mau đạt năng suất 34,65 ± 19,13 tấn/ha/vụ, lợi nhuận 577,27 ± 388,51 triệu đồng/ha/vụ và tỷ suất lợi nhuận là 4,06 ± 2,43 lần, cao hơn kết quả nuôi ở tỉnh Vĩnh Long, lần lượt là 16,51 ± 4,73 tấn/ha/vụ, 289,39 ± 136,81 triệu đồng/ha/vụ và tỷ suất lợi nhuận là 2,53 ± 1,25 lần. Bên cạnh đó, nghiên cứu cũng đã xác định được một số khó khăn, thách thức mà người nuôi nghêu ở tỉnh Cà Mau và Vĩnh Long đang gặp phải đó là biến đổi khí hậu, chất lượng nước, dịch bệnh và khan hiếm nguồn con giống chất lượng cao; qua đó các giải pháp liên quan được đề xuất nhằm phát triển nghề nuôi nghêu tại các tỉnh đồng bằng sông Cửu Long theo hướng bền vững.
-
HIỆN TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN NUÔI TRỒNG THỦY SẢN TRÊN BIỂN TẠI THÀNH PHỐ CẨM PHẢ, TỈNH QUẢNG NINH
Abstract : 318 PDF: 0Nghiên cứu đánh giá hiện trạng và đề xuất giải pháp phát triển nuôi trồng thủy sản trên biển tại thành phố Cẩm Phả, tỉnh Quảng Ninh. Phương pháp nghiên cứu bao gồm: Khảo sát thực địa, phân tích tài liệu thứ cấp và phỏng vấn chuyên gia. Cẩm Phả có điều kiện tự nhiên thuận lợi, diện tích mặt nước rộng (~150 km²), hệ sinh thái đa dạng, che chắn tốt trước gió bão, phù hợp cho cả nuôi cá biển và nhuyễn thể. Chất lượng nước nhìn chung đáp ứng tiêu chuẩn nuôi thủy sản, với độ mặn, nhiệt độ, DO, pH… ổn định. Hiện nay, nuôi biển tập trung ở 7 phường, chủ yếu gần bờ, quy mô hộ gia đình, mật độ cao, còn tự phát. Năm 2023, diện tích nuôi cá biển ~13,9 ha, sản lượng 5.373 tấn, đối tượng chính: Cá song, cá chim vây vàng, cá vược, cá giò… Tỷ lệ sống thấp (50 - 70%), thức ăn chủ yếu là cá tạp, giống phần lớn nhập ngoài tỉnh. Nuôi nhuyễn thể (hàu, ngao hai cùi) diện tích 39,4 ha, sản lượng 1.536,6 tấn, giá trị ~15,4 tỷ đồng, công nghệ nuôi còn đơn giản, chất lượng giống chưa ổn định. Quy hoạch chưa đồng bộ, hạ tầng thiếu (cảng, khu neo đậu, cấp giống, chế biến), dịch bệnh phổ biến, thiếu liên kết chuỗi, thị trường tiêu thụ phụ thuộc thương lái, giá trị gia tăng thấp. Nghiên cứu đề xuất nhóm giải pháp chính: Quy hoạch, phân vùng, đối tượng nuôi, xây dựng cơ sở hạ tầng, hậu cần, phát triển thị trường và tăng cường giám sát môi trường nuôi. Các giải pháp đề xuất trong nghiên cứu là cơ sở quan trọng để định hướng phát triển nuôi biển hiện đại, hiệu quả, góp phần thực hiện Đề án phát triển nuôi trồng thủy sản trên biển đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045.
-
THÀNH PHẦN LOÀI CÁ TẠI THỦY VỰC NƯỚC NGỌT VÀ TÙNG, ÁNG Ở CÁC ĐẢO THUỘC VỊNH BÁI TỬ LONG VÀ VỊNH HẠ LONG
Abstract : 312 PDF: 0Nghiên cứu này được thực hiện trong giai đoạn 2023 - 2024 nhằm xác định thành phần loài cá tại các thủy vực nước ngọt và tùng, áng trên các đảo thuộc vịnh Bái Tử Long và vịnh Hạ Long. Kết quả ghi nhận tổng cộng 48 loài cá, thuộc 38 giống, 31 họ và 18 bộ. Trong đó, bộ cá vược (Perciformes) chiếm ưu thế với 11 loài (22,9%), tiếp theo là bộ cá bống (Gobiiformes) với 9 loài (18,7%) và cá đuôi gai (Acanthuriformes) với 4 loài (8,3%). Các bộ còn lại có số loài ít hơn. So sánh theo khu vực, tại các tùng, áng của vịnh Bái Tử Long ghi nhận 40 loài, nhiều hơn so với 32 loài ở vịnh Hạ Long; riêng các thủy vực nước ngọt nội địa (suối, hồ) chỉ có 8 loài. Trong tổng số 48 loài, có 15 loài (31,3%) được xác định là cá kinh tế, góp phần quan trọng vào sinh kế cộng đồng ven biển, trong khi có 1 loài cá bánh đường (Evynnis cardinalis) được ghi nhận trong Danh lục Đỏ IUCN (2025) và Sách Đỏ Việt Nam (2024) ở bậc Nguy cấp (EN). Khu hệ cá tại đây phản ánh đặc trưng sinh thái chuyển tiếp giữa nước ngọt - nước lợ - biển ven đảo, đồng thời thể hiện sự tương đồng cao giữa hai vịnh (32 loài chung). Tuy nhiên, các mối đe dọa như khai thác quá mức, ô nhiễm, biến đổi khí hậu và loài ngoại lai (Oreochromis niloticus, Gambusia affinis) đang tiềm ẩn nguy cơ suy giảm đa dạng sinh học. Nghiên cứu cung cấp dữ liệu cơ bản, có ý nghĩa quan trọng cho công tác quản lý, khai thác hợp lý và bảo tồn bền vững nguồn lợi thủy sản tại vịnh Bái Tử Long và vịnh Hạ Long.
-
THÀNH PHẦN LOÀI CÁ SUỐI Ở KHU DỰ TRỮ THIÊN NHIÊN ĐỘNG CHÂU - KHE NƯỚC TRONG, TỈNH QUẢNG TRỊ
Abstract : 282 PDF: 0Khu Dự trữ Thiên nhiên (DTTN) Động Châu - Khe Nước Trong thuộc địa phận xã Kim Ngân, tỉnh Quảng Trị, với tổng diện tích gần 22.596 ha, là khu vực thượng nguồn của sông Long Đại và sông Kiến Giang. Qua 2 đợt khảo sát gồm: Đợt 1 vào tháng 11/2024 và đợt 2 vào tháng 6/2025, đã ghi nhận 42 loài cá thuộc 38 giống, 20 họ và 7 bộ. Bộ cá chép (Cypriniformes) chiếm ưu thế với 22 loài (52,38% tổng số loài). Tại khu vực nghiên cứu có 2 loài được liệt kê trong Danh lục Đỏ IUCN (2025) là: Cá hồng nhau (Poropuntius deauratus) ở bậc Nguy cấp (EN), cá sỉnh (Scaphostoma gerlachi) ở bậc Gần bị đe dọa (NT); 1 loài trong Sách Đỏ Việt Nam (2024) là loài cá hồng nhau (bậc Sẽ nguy cấp -VU); 3 loài đặc hữu của Việt Nam là cá chạch đá nhỏ (Micronemacheilus cruciatus), cá lăng miền trung (Hemibagrus centralus) và cá thèo (Pterocryptis cochinchinensis). Một phát hiện đáng lưu ý là sự xuất hiện phổ biến của loài ngoại lai cá rô phi vằn (Oreochromis niloticus) trong các thủy vực tự nhiên. Kết quả nghiên cứu này góp phần bổ sung dữ liệu quan trọng về đa dạng thành phần loài cá nước ngọt cho Việt Nam, đồng thời cung cấp cơ sở khoa học cho công tác bảo tồn và quản lý bền vững nguồn tài nguyên thủy sinh tại khu vực.
-
NGHIÊN CỨU ẢNH HƯỞNG CỦA THỜI GIAN THỦY PHÂN PROTEIN BẰNG ENZYME PAPAIN ĐẾN CHẤT LƯỢNG BỘT ĐẠM VÀ BỘT KHOÁNG TỪ ĐẦU VÀ PHỤ PHẨM CÁ HỒI (Salmo salar)
Abstract : 345 PDF: 0Nghiên cứu được thực hiện nhằm so sánh chất lượng bột đạm thủy phân và bột khoáng từ đầu và phụ phẩm cá hồi (Salmo salar) bằng enzyme papain thông qua 2 nội dung: Ảnh hưởng của thời gian thủy phân protein bằng enzyme papain đến chất lượng bột đạm và bột khoáng từ (i) đầu cá hồi và (ii) phụ phẩm cá hồi. Kết quả cho thấy, đầu cá hồi được thủy phân với enzyme papain nồng độ 2% trong 10 giờ cho dịch đạm thủy phân có hiệu suất thủy phân 30,4%, hàm lượng đạm amin 4,90 g/L và bột đạm thủy phân có điểm cảm quan, hiệu suất thu hồi, hàm lượng protein hòa tan, DPPH lần lượt là 19,4 điểm; 11,9%; 59,2%; 52,8% và bột khoáng có hàm lượng khoáng, độ hòa tan, hiệu suất thu hồi, hàm lượng canxi lần lượt là 96,2%; 58,7%; 42,0%; 34,3 g/100 g. Phụ phẩm cá hồi được thủy phân với papain trong 10 giờ cho dịch đạm thủy phân có hiệu suất thủy phân 20,3%, hàm lượng đạm amin 7,47 g/L và bột đạm thủy phân có điểm cảm quan, hiệu suất thu hồi, hàm lượng protein hòa tan, DPPH lần lượt là 19,1 điểm; 13,6%; 43,5%; 39,7% và bột khoáng có hàm lượng khoáng, độ hòa tan, hiệu suất thu hồi và hàm lượng canxi lần lượt là 96,6%; 51,1%; 26,5%; 37,3 g/100 g.
-
NGHIÊN CỨU ĐÁNH GIÁ HIỆN TRẠNG ƯƠNG NUÔI CÁ CHIÊN (Bagarius rutilus Ng & Kottelat, 2000) GIAI ĐOẠN CÁ HƯƠNG LÊN CÁ GIỐNG VÀ ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP NÂNG CAO TỶ LỆ SỐNG TRONG ƯƠNG NUÔI CÁ CHIÊN
Abstract : 250 PDF: 0Nghiên cứu đánh giá hiện trạng ương nuôi cá Chiên (Bagarius rutilus Ng & Kottelat, 2000) giai đoạn cá hương (3 - 4 cm) lên cá giống (8 - 10 cm) ở 8 cơ sở đã và đang sản xuất giống/ương nuôi cá Chiên ở miền Bắc. Kết quả cho thấy, năng suất sản xuất giống/ương nuôi tại các cơ sở khoảng 3 - 10 vạn giống/năm, cỡ giống từ 3 - 14 cm. Nguồn cá bố mẹ tham gia sinh sản từ thu gom tự nhiên (40%) hoặc từ sinh sản nhân tạo (60%), trong đó 25% có dấu hiệu bệnh xuất huyết. Về thức ăn, trong quá trình ương nuôi cá Chiên sử dụng nhiều loại thức ăn khác nhau (giun trùn chỉ, cá tạp và thức ăn công nghiệp), tùy theo giai đoạn phát triển và khối lượng cá. Trong đó, 60% các cơ sở sử dụng hoàn toàn giun trùn chỉ; 12,5% sử dụng hoàn toàn thức ăn công nghiệp ương nuôi cá Chiên giống lớn (7 - 10 cm). Ngoài ra, trong quá trình ương nuôi có bổ sung vitamin, men tiêu hóa, thuốc diệt ký sinh trùng. Tỷ lệ sống trong ương nuôi cá Chiên dao động đặc biệt thấp ở giai đoạn 6 - 8 cm (0 - 50%). Trong giai đoạn này có ghi nhận bệnh ký sinh trùng. Các biện pháp phòng trị bệnh chủ yếu dựa vào kinh nghiệm cá nhân (100%) hoặc dùng kháng sinh (12,5%), với hiệu quả điều trị < 50%. Nghiên cứu bước đầu chỉ ra 3 nguyên nhân chính ảnh hưởng đến tỷ lệ sống trong ương nuôi cá Chiên giai đoạn cá hương lên cá giống gồm: Bệnh (100%), thức ăn (56%) và quản lý môi trường (48%).
-
THỬ NGHIỆM NUÔI ỐC BƯƠU ĐEN (Pila polita) TRONG CÁC MÔ HÌNH NUÔI KHÁC NHAU
Abstract : 354 PDF: 0Nghiên cứu này được thực hiện trên các mô hình nuôi khác nhau nhằm đánh giá khả năng tăng trưởng của ốc bươu đen (Pila polita). Thí nghiệm gồm 3 nghiệm thức: Nuôi trong bể bạt (NT1), giai trong ao (NT2) và giai trên sông (NT3), mỗi nghiệm thức được lặp lại 4 lần. Ốc giống sử dụng có khối lượng trung bình 0,048 g, chiều cao 7,79 mm và chiều rộng 6,49 mm. Các đơn vị thí nghiệm có thể tích 1 m³, mực nước 80 cm, mật độ thả 200 con/m². Sau 90 ngày nuôi, kết quả cho thấy, NT3 đạt tốc độ sinh trưởng tốt nhất, với các chỉ tiêu về khối lượng, chiều cao và chiều rộng lần lượt là 14,34 g; 38,59 mm; 29,87 mm, sai khác có ý nghĩa thống kê so với các nghiệm thức còn lại (p < 0,05). Tốc độ tăng trưởng tuyệt đối của NT3 về khối lượng, chiều cao, chiều rộng lần lượt đạt 0,158 g/ngày, 0,342 mm/ngày, 0,259 mm/ngày, cao hơn so với NT1 và NT2, có sự khác biệt về mặt ý nghĩa thống kê (p < 0,05). Tỷ lệ sống cao nhất được ghi nhận ở NT3 đạt 80,87% và năng suất sinh khối cũng cao nhất ở NT3 đạt 2,317 kg/m², có sự sai khác có ý nghĩa thống kê (p < 0,05).
-
ẢNH HƯỞNG CỦA THỨC ĂN, MẬT ĐỘ ƯƠNG LÊN SINH TRƯỞNG VÀ TỶ LỆ SỐNG ẤU TRÙNG TÔM CÀNG SÔNG (Macrobrachium nipponense, de Haan 1849)
Abstract : 227 PDF: 0Tôm càng sông (Macrobrachium nipponense de Haan 1849) là loài giáp xác nước ngọt có giá trị kinh tế cao và tiềm năng phát triển trong nuôi trồng thủy sản. Nhằm nâng cao hiệu quả kỹ thuật sản xuất giống, nghiên cứu đã tiến hành 2 thí nghiệm để xác định loại thức ăn và mật độ ương phù hợp cho giai đoạn ương ấu trùng. Thí nghiệm thứ nhất đánh giá ảnh hưởng của thức ăn với 3 nghiệm thức: Artemia, thức ăn tổng hợp cho ấu trùng tôm và sự kết hợp của cả hai loại. Thí nghiệm thứ hai nghiên cứu ảnh hưởng của mật độ ương: 50, 75, 100, 125 con/L. Mỗi nghiệm thức được thực hiện với 3 lần lặp lại để đảm bảo độ tin cậy của kết quả. Kết quả nghiên cứu cho thấy, cả mật độ ương và loại thức ăn đều ảnh hưởng đến tỷ lệ sống, tốc độ tăng trưởng của ấu trùng. Trong đó, nghiệm thức sử dụng kết hợp thức ăn (Artemia + thức ăn tổng hợp) và mật độ 50 - 75 con/L cho kết quả tốt nhất với tỷ lệ sống cao, tốc độ sinh trưởng nhanh, sự khác biệt có ý nghĩa thống kê (p < 0,05). Tuy nhiên, xét về hiệu quả năng suất ương nuôi thì mật độ ương nuôi 75 con/L cao hơn mật độ 50 con/L. Từ kết quả nghiên cứu, có thể khuyến nghị sử dụng kết hợp thức ăn (Artemia + thức ăn tổng hợp) và mật độ ương 75 con/L là điều kiện tối ưu để nâng cao hiệu quả ương nuôi ấu trùng tôm càng sông trong sản xuất giống.
-
ẢNH HƯỞNG CỦA MẬT ĐỘ ĐẾN HIỆU QUẢ ƯƠNG CÁ TRÁP VÂY VÀNG (Acanthopagrus latus) GIAI ĐOẠN CÁ GIỐNG
Abstract : 392 PDF: 0Cá tráp vây vàng (Acanthopagrus latus) là loài có giá trị kinh tế cao, được nuôi phổ biến ở các vùng nước lợ khu vực phía Bắc, Việt Nam. Tuy nhiên, nguồn giống chủ yếu dựa vào khai thác tự nhiên. Nghiên cứu đánh giá ảnh hưởng của mật độ ương cá tráp vây vàng khác nhau (50, 100, 150 con/m3) lên tốc độ sinh trưởng, tỷ lệ sống, độ đồng đều và hệ số tiêu tốn thức ăn ở cá giống cỡ 3 - 4 cm lên 6 cm. Thí nghiệm được bố trí trong 9 giai (3 x 2 x 1,5 m), đặt trong ao 2.000 m² có che lưới lan, với 3 lần lặp cho mỗi nghiệm thức và thời gian nuôi là 45 ngày. Cá được cho ăn thức ăn công nghiệp Inve G12 với khẩu phần 8% khối lượng thân cá/ngày và bổ sung vitamin C định kỳ (1 lần/tuần với liều 250 mg/kg thức ăn) để tăng sức đề kháng. Kết quả cho thấy, mật độ ương có ảnh hưởng đáng kể đến các chỉ tiêu tăng trưởng, tỷ lệ sống và độ đồng đều kích thước của cá. Mật độ 100 con/m3 cho hiệu quả tăng trưởng và tỷ lệ sống tối ưu. Trong khi đó, mật độ 150 con/m3 cho hiệu quả thấp nhất. Hệ số chuyển đổi thức ăn (FCR) có xu hướng tăng ở mật độ cao (FCR = 1,78 ở mật độ 150 con/m3). Nghiên cứu này cung cấp cơ sở khoa học quan trọng để xác định mật độ ương phù hợp, góp phần nâng cao hiệu quả sản xuất và phát triển bền vững nghề nuôi cá tráp vây vàng tại Việt Nam.
-
TỐI ƯU HÓA MẬT ĐỘ VÀ NHIỆT ĐỘ LƯU GIỮ SỐNG MỰC NANG (Sepia spp.) THƯƠNG PHẨM BẰNG PHƯƠNG PHÁP ĐÁP ỨNG BỀ MẶT
Abstract : 242 PDF: 0Nghiên cứu nhằm xác định mật độ và nhiệt độ tối ưu để lưu giữ sống mực nang (Sepia spp.) thương phẩm, góp phần nâng cao hiệu quả bảo quản và giá trị kinh tế. Thí nghiệm tiến hành ở 2 giai đoạn (quy mô thí điểm và thực nghiệm) với các mức mật độ 10, 15, 20 kg/500 L và nhiệt độ 21, 24, 27°C. Phương pháp đáp ứng bề mặt (RSM) được sử dụng để phân tích ảnh hưởng và xác định giá trị tối ưu. Kết quả cho thấy, cả mật độ và nhiệt độ đều ảnh hưởng đáng kể đến tỷ lệ sống (p < 0,05), trong đó mật độ có tác động mạnh hơn. Tỷ lệ sống cao nhất (100%) đạt được ở 10 kg/500 L và 21, 24°C, trong khi mật độ và nhiệt độ cao (20 kg/500 L; 27°C) đồng thời làm giảm tỷ lệ sống xuống 71,4 - 78,6%. Mô hình hồi quy bậc hai xác định mật độ và nhiệt độ tối ưu lần lượt là 17,9 kg/500 L và 22,8°C giúp duy trì tỷ lệ sống trên 85% trong quá trình lưu giữ. Kết quả này là cơ sở để để xây dựng quy trình công nghệ lưu giữ sống mực nang ứng dụng vào thực tiễn sản xuất tại những cơ sở kinh doanh, tiêu thụ mực sống.








