ẢNH HƯỞNG CỦA MẬT ĐỘ NUÔI ĐẾN SỰ TÍCH LŨY TRẦM TÍCH TRONG AO TÔM THẺ CHÂN TRẮNG (Litopenaeus vannamei)

Các tác giả

  • Nguyễn Đức Bình, Phan Trọng Bình, Nguyễn Thị Minh Nguyệt, Phạm Thái Giang, Mai Đăng Nhân, Vũ Đức Duy

DOI:

https://doi.org/10.71254/3vdxym66

Abstract

This study assessed the impact of stocking density on the process of sediment accumulation in whiteleg shrimp (Litopenaeus vannamei) ponds in Ninh Binh. Three farming models were compared: super-intensive A (219 shrimp/m²), B (167 shrimp/m²) and intensive C (92 shrimp/m²) over a 103 - day cycle. Sediment was collected periodically using specialized traps across four culture stages, from month 1 to month 4 (TN1 - TN4). The results showed that the amount of sediment gradually increased over time, peaking at TN3 with values of 74.56 ± 3.47 g/trap (model A), 70.18 ± 4.21 g/trap (B), and 57.37 ± 3.51 g/trap (C). The sediment amount then stabilized at TN4. The total accumulated sediment was highest in model A (175 ± 5.5 tons/ha/cycle), followed by B (161 ± 7.4 tons/ha/cycle) and lowest in C (131 ± 6.5 tons/ha/cycle). The average sedimentation rate was also highest in model A (255.93 ± 11.56 g/m²/day at TN4), compared to B (231.59 ± 18.73 g/m²/day) and C (194.11 ± 16.69 g/m²/day). Statistical analysis using the Friedman test (p < 0.001) confirmed a significant difference between the farming models, with model A consistently showing the highest sediment accumulation. The Spearman correlation coefficient (ρ > 0.86) indicated a strong positive relationship between farming duration and accumulated sediment. The study concludes that high stocking density significantly increases the amount of sediment, threatening environmental quality. Therefore, strict feed management, enhanced pond bottom siphoning and controlled stocking density are necessary to mitigate sediment pollution, especially in super-intensive models.

Keywords:

Farming model, sediment accumulation, stocking density, super-intensive, whiteleg shrimp

Tóm tắt

Nghiên cứu này đánh giá ảnh hưởng của mật độ nuôi đến quá trình tích lũy trầm tích trong ao nuôi tôm thẻ chân trắng (Litopenaeus vannamei) tại tỉnh Ninh Bình. Ba mô hình nuôi được so sánh: Siêu thâm canh A (219 con/m²), siêu thâm canh B (167 con/m²) và thâm canh C (92 con/m²) trong 103 ngày. Trầm tích được thu thập định kỳ bằng bẫy chuyên dụng qua bốn giai đoạn nuôi, từ tháng nuôi 1 đến tháng nuôi 4 (TN1 - TN4). Kết quả cho thấy, lượng trầm tích tăng dần theo thời gian, đạt đỉnh ở TN3. Cụ thể, giá trị là 74,56 ± 3,47 g/bẫy (mô hình A), 70,18 ± 4,21 g/bẫy (B) và 57,37 ± 3,51 g/bẫy (C). Sau đó, lượng trầm tích ổn định ở TN4. Tổng lượng trầm tích tích lũy cao nhất ở mô hình A (175 ± 5,5 tấn/ha/vụ), tiếp theo là B (161 ± 7,4 tấn/ha/vụ) và thấp nhất ở C (131 ± 6,5 tấn/ha/vụ). Tốc độ lắng đọng trung bình cũng cao nhất ở mô hình A (255,93 ± 11,56 g/m²/ngày tại TN4), so với mô hình B (231,59 ± 18,73 g/m²/ngày) và mô hình C (194,11 ± 16,69 g/m²/ngày). Phân tích thống kê bằng kiểm định Friedman (p < 0,001) xác nhận sự khác biệt có ý nghĩa thống kê giữa các mô hình nuôi, với mô hình A luôn có lượng trầm tích cao nhất. Hệ số tương quan Spearman (p > 0,86) cho thấy mối quan hệ thuận mạnh mẽ giữa thời gian nuôi và lượng trầm tích tích lũy. Nghiên cứu khẳng định mật độ nuôi cao làm tăng đáng kể lượng trầm tích, đe dọa chất lượng môi trường. Do đó, cần áp dụng các biện pháp quản lý thức ăn chặt chẽ, tăng cường xi - phông đáy ao và kiểm soát mật độ nuôi để giảm thiểu ô nhiễm trầm tích, đặc biệt trong mô hình siêu thâm canh.

Từ khóa:

Mật độ nuôi, mô hình nuôi, siêu thâm canh, tích lũy trầm tích, tôm thẻ chân trắng

Ngày nhận bài:

25-11-2025

Ngày nhận bài sửa:

17-06-2026

Ngày duyệt đăng:

17-06-2026

Ngày xuất bản:

05-10-2025

Title:

IMPACT OF STOCKING DENSITY ON SEDIMENT ACCUMULATION IN WHITELEG SHRIMP PONDS

Các trích dẫn

ẢNH HƯỞNG CỦA MẬT ĐỘ NUÔI ĐẾN SỰ TÍCH LŨY TRẦM TÍCH TRONG AO TÔM THẺ CHÂN TRẮNG (Litopenaeus vannamei). (2025). Tạp Chí Nông nghiệp Và Môi trường, Tháng 10, 118-127. https://doi.org/10.71254/3vdxym66
Lượt xem
316
Lượt tải
0