NGHIÊN CỨU ĐÁNH GIÁ SINH TRƯỞNG VÀ TỶ LỆ SỐNG CỦA ĐÀN CÁ RÔ PHI VẰN CHỌN GIỐNG SINH TRƯỞNG NHANH THẾ HỆ G4 SO VỚI DÒNG CÁ TRUNG QUỐC VÀ THÁI LAN TRONG HỆ THỐNG LỒNG
DOI:
https://doi.org/10.71254/4v88zg16Abstract
This study aimed to evaluate the growth performance, survival rate, uniformity and fillet yield of selectively bred tilapia of the 4th generation (G4 strain) compared with Chinese and Thai trains. The experiment was cultured in a cage system on a branch of the Tam Ky river, with 3,000 fish per strain and three replicates. The results showed that the body weight and length of the G4 strain (936.3 ± 6.03 g and 422.9 ± 1.84 mm) were not significantly different from those of the Chinese strain (985.8 ± 17.59 g and 440.4 ± 6.05 mm) and the Thai strain (952.4 ± 12.31 g and 427.4 ± 4.66 mm) after 161 days of culture (P > 0.05). The survival rate of the G4 strain was the highest (93.28 ± 2.102%), comparable to that of the Thai strain (P > 0.05), but significantly higher than that of the Chinese strain (P < 0.05). The coefficient of variation in the G4 strain (13.66 ± 0.844%) was the lowest among the three strains, with uniformity 27% higher than the other two strains (P < 0.05). The fillet yield of the G4 strain was also significantly higher than that of both Chinese and Thai strains (P < 0.05).
Keywords:
Nile tilapia, G4 strain, Thai strain, Chinese strain, cage cultureTóm tắt
Nghiên cứu này nhằm đánh giá sinh trưởng, tỷ lệ sống, mức độ đồng đều và tỷ lệ phi lê của cá Rô phi dòng chọn giống G4 với dòng cá Trung Quốc và Thái Lan. Thí nghiệm được bố trí trong hệ thống lồng trên nhánh sông Tam Kỳ, 3.000 con/dòng, thí nghiệm lặp lại 3 lần. Sau 161 ngày nuôi cho thấy sự tăng trưởng về khối lượng và chiều dài của dòng cá G4 (936,3 ± 6,03 g và 422,9 ± 1,84 mm), sai khác không có ý nghĩa thống kê với dòng cá Trung Quốc (985,8 ± 17,59 g và 440,4 ± 6,05 mm) và dòng cá Thái Lan (952,4 ± 12,31 g và 427,4 ± 4,66) (P > 0,05). Tỷ lệ sống của dòng cá chọn giống G4 cao nhất (93,28 ± 2,102%), tương đồng với tỷ lệ sống của dòng cá Thái Lan (P > 0,05), cao hơn dòng cá Trung Quốc (P < 0,05). Tỷ lệ phân đàn của dòng cá G4 (13,66 ± 0,844%) thấp nhất so với hai dòng cá Trung Quốc và Thái Lan (P < 0,05), mức độ đồng đều trong quần đàn cao hơn 27% so với hai dòng cá còn lại. Tỷ lệ phi lê thịt của dòng cá G4 cao hơn hẳn so với hai dòng cá còn lại (P < 0,05).








