Số 4 (2025)
Bài viết
-
ẢNH HƯỞNG CỦA GIỐNG CHÈ, THỜI VỤ THU HÁI ĐẾN THÀNH PHẦN HÓA HỌC TRONG BÚP CHÈ
Abstract : 495 PDF: 0Hiện nay, nhiều giống chè có năng suất cao, chất lượng tốt đã được tuyển chọn, lai tạo hoặc nhập nội ở nước ta. Trong các giống chè này, hàm lượng các hợp chất hóa học của chúng rất khác nhau, đồng thời hàm lượng của chúng còn phụ thuộc vào phẩm cấp cũng như thời vụ thu hoạch... Bài báo trình bày kết quả xác định hàm lượng một số hợp chất hóa học có trong búp chè của một số giống chè, làm cơ sở cho việc lựa chọn công nghệ chế biến phù hợp, nhằm tạo ra chất lượng sản phẩm tốt nhất. Kết quả nghiên cứu cho thấy, hàm lượng nước và hàm lượng một số hợp chất hóa học như: Chất hòa tan, tanin, cafein, đường tổng số, axit amin trong búp chè 1 tôm 2 lá của giống chè Shan Tham Vè (STV), LDP1, TRI777, Phúc Vân Tiên (PVT), PT95, Kim Tuyên (KT) đều có quy luật tăng lên từ đầu vụ (tháng 5) đến giữa vụ (tháng 7) và giảm dần đến cuối vụ (tháng 9). Hàm lượng các hợp chất hóa học của các giống khác nhau cũng có sự khác nhau, trong đó hàm lượng chất hòa tan, tanin, đường tổng số, axit amin (%CK) của STV, LDP1, TRI777 đạt giá trị trung bình cao hơn so với các giống PVT, PT95, KT. Hàm lượng cafein có sự khác nhau giữa các giống chè nhưng không đáng kể. Từ thành phần hóa học cho thấy, các giống chè STV, LDP1, TRI777 thích hợp cho chế biến chè xanh có độ chát cao và chế biến chè đen cho vị đậm dịu. Các giống chè PVT, PT95 thích hợp cho chế biến chè xanh có vị chát dịu nhẹ, sản phẩm có chất lượng cao, các giống này không thích hợp cho chế biến chè đen vì hàm lượng chất hòa tan, tanin thấp. Giống chè KT phù hợp cho chế biến chè xanh chất lượng cao và chè Ôlong.
-
NGHIÊN CỨU NHÂN GIỐNG VÔ TÍNH NẦN NGHỆ (Dioscorea collettii Hook.f.) TỪ MẦM CỦ
Abstract : 585 PDF: 0Nghiên cứu nhân giống vô tính Nần nghệ (Dioscorea collettii Hook.f.) trong vườn ươm tại tỉnh Lai Châu cho thấy: Sử dụng đoạn giữa củ với kích thước 3 x 5 cm, giâm mầm củ vào thời vụ tháng 01 cho tỷ lệ sống đạt 81,3%; tỷ lệ sống ngoài đồng ruộng đạt 96,6%, hệ số nhân giống đạt 12,01 lần. Sử dụng NAA nồng độ 500 ppm trong 60 giây giúp thời gian sinh trưởng của cây con rút ngắn hơn so với đối chứng 15 ngày, tỷ lệ sống xuất vườn 93,3% và tỷ lệ sống sau trồng đạt trên 98,3%. Mầm củ được giâm trên nền giá thể trấu hun: cát tỷ lệ 1: 1 về thể tích giúp cây sinh trưởng và phát triển tốt nhất cho tỷ lệ sống của củ giống đạt 81,7%, tỷ lệ cây xuất vườn đạt 97,6%. Cây giống sinh trưởng trong vườn ươm từ 90 ngày đủ tiêu chuẩn xuất vườn với chiều cao cây đạt 42,6 cm có từ 5 lá; tỷ lệ xuất vườn và tỷ lệ sống ngoài đồng ruộng đạt trên 95%.
-
SINH TỔNG HỢP SAPONIN CK TRÊN CÂY MÔ HÌNH Arabidopsis thaliana
Abstract : 495 PDF: 0Saponin CK có trong nhân sâm thuộc nhóm triterpenoid có hoạt tính sinh học cao, có tác dụng lớn trong điều trị các bệnh ung thư, đái tháo đường, miễn dịch, tim mạch và nhiều bệnh khác. Tuy nhiên, với giá thành đắt đỏ và thời gian nuôi trồng nhân sâm là rất lâu và tốn kém, đòi hỏi những yêu cầu khắt khe về điều kiện môi trường, ánh sáng, nhiệt độ, độ ẩm, hàm lượng các vi chất trong đất. Trong nghiên cứu này, ba gen liên quan chặt chẽ đến quá trình tổng hợp CK ở cây nhân sâm Hàn Quốc (Panax ginseng) bao gồm: Tổng hợp Dammaranediol (PgDDs) và Protopanaxadiol (PgPPDs), enzyme đường hóa PgUGT71A27 và enzyme tHMGR, enzyme tăng cường con đường tổng hợp axit mevalonic ở thực vật được biến nạp vào (cây họ cải) Arabidopsis thaliana. Các dòng đồng hợp tử mang vector tái tổ hợp được sử dụng và phân tích đánh giá mức độ biểu hiện gen bằng phương pháp PCR định lượng để chọn lọc những cá thể biểu hiện gen chuyển mạnh nhất. Phân tích dịch chiết triterpenoid tổng số để phát hiện sự có mặt của saponin CK. Kết quả nghiên cứu chứng minh khả năng tổng hợp saponin CK trên cây Arabidopsis thaliana, là tiền đề cho việc tạo ra các loại cây trồng nông nghiệp có năng suất cao, thời gian sinh trưởng ngắn, với mục đích thu sinh khối hợp chất saponin phục vụ mục đích sản xuất công nghiệp, bổ sung vào các loại thức ăn chăn nuôi.
-
NGHIÊN CỨU ẢNH HƯỞNG CỦA THỜI GIAN LẬP LIẾP ĐẾN TÍNH CHẤT VẬT LÝ ĐẤT TRỒNG SẦU RIÊNG Ở ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG
Abstract : 552 PDF: 0Thời gian lập liếp (tuổi liếp) có thể ảnh hưởng đến các tính chất vật lý quan trọng của đất. Nghiên cứu được thực hiện nhằm đánh giá ảnh hưởng của 3 tuổi liếp khác nhau (12, 20, 31 năm) đến sự thay đổi các tính chất vật lý trên đất trồng sầu riêng ở đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL). Các thông số vật lý đất như: Dung trọng, độ chặt, ẩm độ thủy dung và lượng nước hữu dụng được ghi nhận tại độ sâu từ 0 - 2 m của 3 phẫu diện đất. Kết quả nghiên cứu cho thấy, thời gian lập liếp có ảnh hưởng đáng kể đến dung trọng và độ chặt của đất. Cụ thể, đất có tuổi liếp cao (31 năm) có độ chặt và dung trọng cao hơn so với tuổi liếp thấp (12 năm). Ngoài ra, canh tác cây trồng trên đất liếp trong thời gian dài có nguy cơ suy giảm hàm lượng chất hữu cơ trong đất, từ đó làm gia tăng nguy cơ nén dẽ và giảm khả năng giữ nước trong đất. Vì vậy, người dân nên sử dụng các biện pháp bảo tồn đất như: Che phủ bề mặt đất liếp bằng cỏ dại hoặc rơm rạ. Các biện pháp này góp phần cải thiện và nâng cao độ thoáng khí của đất, tăng hệ vi sinh vật có lợi trong đất, cũng như giảm thiểu độ nén dẽ trên bề mặt đất liếp.
-
XÁC ĐỊNH TỶ LỆ PHỤ PHẨM PHÙ HỢP CHO SẢN XUẤT CHẾ PHẨM VI SINH CHỨA VI KHUẨN QUANG DƯỠNG KHÔNG LƯU HUỲNH MÀU TÍA HÒA TAN LÂN
Abstract : 501 PDF: 0Nghiên cứu được thực hiện nhằm mục tiêu xác định tỷ lệ phụ phẩm phù hợp để sản xuất chế phẩm vi sinh chứa vi khuẩn quang dưỡng không lưu huỳnh màu tía hòa tan lân. Thí nghiệm được bố trí hoàn toàn ngẫu nhiên, với các dòng vi khuẩn hòa tan lân (đối chứng, W25, W42, W48 và hỗn hợp 3 dòng W25, W42, W48) được thực hiện trên 4 tỷ lệ vật liệu (rơm: lá khóm: tro trấu theo tỷ lệ 2: 2: 1; 1: 3: 1; 0: 4: 1 và 4: 0: 1), với 3 lần lặp lại. Kết quả cho thấy tỷ lệ C/N ở nghiệm thức bổ sung dòng đơn vi khuẩn W25 và hỗn hợp 3 dòng vi khuẩn W25, W42 và W48 có vật liệu chứa lá khóm, tro trấu và rơm ở tỷ lệ tương ứng 1: 3: 1 và 0: 4: 1 cao hơn nghiệm thức bổ sung dòng đơn vi khuẩn W42 vào 4 tuần sau ủ. Ngược lại, ở tỷ lệ vật liệu 2: 2: 1 nghiệm thức bổ sung dòng đơn vi khuẩn W42 cao hơn nghiệm thức bổ sung dòng đơn vi khuẩn W25 và nghiệm thức bổ sung hỗn hợp 3 dòng vi khuẩn W25, W42 và W48. Bên cạnh đó, nghiệm thức bổ sung hỗn hợp 3 dòng vi khuẩn W25, W42, W48 đã giúp tăng hàm lượng N tổng số ở tỷ lệ chất 1: 3: 1 và 0: 4: 1 lần lượt là 15,4 và 33,6%. Hơn nữa, ở tỷ lệ vật liệu 4: 0: 1, nghiệm thức đối chứng có hàm lượng C tổng số cao hơn các nghiệm thức còn lại, dao động 21,0 - 25,4%. Ba tỷ lệ vật liệu phù hợp là 2: 2: 1; 1: 3: 1; 0: 4: 1, tương ứng dòng vi khuẩn hiệu quả W25, W42 và W48.
-
ẢNH HƯỞNG CỦA LƯỢNG PHÂN BÓN HỮU CƠ VI SINH CON CÒ VÀNG ĐẾN NĂNG SUẤT VÀ CHẤT LƯỢNG GIỐNG DIÊM MẠCH ATLAS TRỒNG TRÊN ĐẤT NÂU ĐỎ BAZAN VÀ ĐẤT XÁM TẠI TÂY NGUYÊN
Abstract : 479 PDF: 0Mục đích nghiên cứu này nhằm xác định được lượng phân hữu cơ vi sinh Con Cò Vàng phù hợp nhất bón cho giống diêm mạch Atlas trồng trên đất nâu đỏ bazan và đất xám đạt năng suất tốt, hàm lượng protein tổng số cao, phù hợp với điều kiện sinh thái, đất đai của khu vực Tây Nguyên. Nghiên cứu được thực hiện với 6 công thức bón phân hữu cơ vi sinh và 1 công thức đối chứng cho giống diêm mạch Atlas trồng trong mùa khô năm 2024 với mật độ trồng 100.000 cây/ha (hàng cách hàng 50 cm, cây cách cây 20 cm). Kết quả nghiên cứu đã xác định được công thức bón phân hữu cơ vi sinh Con Cò Vàng (CT1- 2 tấn/ha/vụ) là tốt nhất trong các công thức thí nghiệm. Công thức bón phân này cho kết quả năng suất lý thuyết tốt nhất (đất đỏ bazan đạt 28,56 tạ/ha/vụ và đất xám đạt 22,19 tạ/ha/vụ) và năng suất thực thu cao nhất (đất đỏ bazan đạt 22,95 tạ/ha/vụ và đất xám đạt 17,50 tạ/ha/vụ). Hơn nữa, bón phân theo CT1 (2 tấn/ha/vụ) cho hàm lượng protein tổng số trong hạt cao nhất (21,68% trên đất đỏ bazan và 22,86% trên đất xám) và hàm lượng tinh bột khá cao (65,43% trên đất đỏ bazan và 63,07% trên đất xám).
-
CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN VIỆC SỬ DỤNG PHÂN BÓN HỮU CƠ CỦA NÔNG DÂN HƯỚNG TỚI NỀN NÔNG NGHIỆP TUẦN HOÀN
Abstract : 584 PDF: 0Nghiên cứu này phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến ý định sử dụng phân bón hữu cơ của người nông dân nhằm thúc đẩy nền nông nghiệp tuần hoàn tại Việt Nam dựa trên số liệu khảo sát 389 đối tượng tại tỉnh Phú Thọ và áp dụng các phương pháp nghiên cứu định tính, định lượng. Kết quả nghiên cứu cho thấy, các nhân tố về cảm nhận giá cả, chất lượng và chất lượng dịch vụ cũng như hoạt động khuyến nông đều có tác động đến ý định sử dụng phân bón hữu cơ của nông dân. Ngoài ra, các yếu tố diện tích đất trồng hay mục đích canh tác cũng có những ảnh hưởng nhất định. Một số kết quả và khuyến nghị được rút ra từ nghiên cứu có thể cung cấp góc nhìn đa chiều về thực trạng sử dụng phân bón hữu cơ và đưa ra định hướng tốt hơn trong quá trình tiếp cận nhu cầu của khách hàng cho các doanh nghiệp.
-
NGHIÊN CỨU XÂY DỰNG QUY TRÌNH CHẾ BIẾN ĐỒ UỐNG CHANH LEO ĐÓNG CHAI
Abstract : 602 PDF: 0Đồ uống chanh leo là một loại thực phẩm giải khát được chế biến từ quả chanh leo sau khi ép, chà tách hạt đem phối chế, gia nhiệt, rót chai và thanh trùng. Đây là loại nước giải khát có hương vị thơm ngon, giàu hàm lượng vitamin, chất khoáng và các chất chống oxy hóa nên được nhiều người ưa thích. Thí nghiệm được thực hiện theo 5 công thức (CT): CT-1 (dịch chanh leo 15 ml, nước lọc 85 ml, đường trắng 12 g, xanthan gum 0,3 g), CT-2 (dịch chanh leo 20 ml, nước lọc 80 ml, đường trắng 12 g, xanthan gum 0,28 g, pectin 0,02 g), CT-3 (dịch chanh leo 25 ml, nước lọc 75 ml, đường trắng 12 g, xanthan gum 0,24 g, pectin 0,06 g), CT-4 (dịch chanh leo 30 ml, nước lọc 70 ml, đường trắng 12 g, xanthan gum 0,2 g, pectin 0,1 g), CT-5 (dịch chanh leo 35 ml, nước lọc 65 ml, đường trắng 12 g, xanthan gum 0,16 g, pectin 0,14 g). Trong 5 CT này, đã phân tích các chỉ tiêu dinh dưỡng, vi sinh, cảm quan của sản phẩm đồ uống chanh leo đóng chai và đã chọn được CT-4 để xây dựng quy trình chế biến sản phẩm. Bên cạnh đó, đã xác định được các thông số kỹ thuật của quy trình chế biến đồ uống chanh leo đóng chai là nhiệt độ thanh trùng 90oC, thời gian thanh trùng là 6 phút.
-
ĐÁNH GIÁ THÀNH PHẦN LOÀI VÀ MẬT ĐỘ NHÓM THỰC VẬT PHÙ DU TRONG AO NUÔI TÔM SÚ (Penaeus monodon) TẠI TỈNH TRÀ VINH
Abstract : 510 PDF: 0Mục tiêu của nghiên cứu nhằm xác định thành phần loài và mật độ nhóm thực vật phù du trong ao nuôi tôm sú (Penaeus monodon) quảng canh cải tiến, từ đó đề xuất biện pháp quản lý chúng trong ao nuôi tôm tốt hơn. Thực vật phù du được thu với tần suất thu mẫu 2 tuần/lần, thu mẫu 8 đợt từ 5 ao nuôi tôm sú ở khu vực huyện Duyên Hải, tỉnh Trà Vinh. Kết quả nghiên cứu đã xác định được 5 ngành tảo: Bacillariophyta (tảo khuê), Chlorophyta (tảo lục), Cyanobacteria (tảo lam), Euglenophyta (tảo mắt), Dinophyta (tảo giáp) với tổng số 64 loài tảo hiện diện trong ao nuôi tôm. Trong đó, tảo khuê có thành phần loài chiếm ưu thế nhiều nhất với 30 loài (chiếm 47%), kế đến là tảo lục với 15 loài (chiếm 23%), tảo lam với 13 loài (chiếm 20%), tảo mắt với 5 loài (chiếm 8%) và tảo giáp với 1 loài (chiếm 2%). Kết quả phân tích định lượng cũng cho thấy, tảo khuê vẫn là ngành tảo có mật độ trung bình cao nhất (264 ± 265 tb/mL) qua các đợt thu mẫu, kế đến là tảo lục cao thứ hai (115 ± 114 tb/mL), thấp hơn là tảo lam (107 ± 92 tb/mL), tảo mắt (36 ± 33 tb/mL) và thấp nhất là tảo giáp (18 ± 0 tb/mL). Tổng mật số các ngành tảo dao động trong khoảng 262 ± 50 - 1.067 ± 236 tb/mL qua các đợt thu mẫu. Mật số này đạt cao nhất ở đợt 4 (giữa vụ nuôi) với 1.067 ± 236 tb/mL, khác biệt không có ý nghĩa thống kê (p > 0,05) so với đợt 3 (709 ± 208 tb/mL), nhưng khác biệt có ý nghĩa thống kê (p < 0,05) so với các đợt thu mẫu còn lại.
-
NGHIÊN CỨU ĐÁNH GIÁ SINH TRƯỞNG VÀ TỶ LỆ SỐNG CỦA CÁ RÔ PHI VẰN CHỌN GIỐNG SINH TRƯỞNG NHANH THẾ HỆ G4
Abstract : 501 PDF: 0Nghiên cứu này đánh giá sinh trưởng và tỷ lệ sống của đàn cá rô phi vằn chọn giống sinh trưởng nhanh thế hệ thứ 4 (G4) và hai dòng cá rô phi vằn thương mại đang nuôi phổ biến ở Việt Nam (dòng cá Trung Quốc và dòng cá Thái Lan). Ba dòng cá được nuôi đánh giá trong ao, thí nghiệm lặp lại 3 lần. Sau 161 ngày nuôi đánh giá, xác định các chỉ tiêu sinh trưởng và tỷ lệ sống của 3 dòng cá rô phi. Kết quả cho thấy, tăng trưởng về khối lượng và chiều dài cao nhất ở dòng cá Trung Quốc, tiếp theo là dòng cá chọn giống G4 và cuối cùng là dòng cá Thái Lan (P < 0,05). Trong đó, tăng trưởng về chiều dài sau thu hoạch của dòng cá chọn giống G4 và dòng cá Thái Lan sai khác không có ý nghĩa thống kê (P > 0,05). Mức độ phân đàn cho thấy dòng cá chọn giống G4 đồng đều cao hơn 26% so với dòng cá Trung Quốc và dòng Thái Lan (P < 0,05). Tỷ lệ sống của dòng cá chọn giống G4 và dòng cá Thái Lan cao nhất và cao hơn dòng cá Trung Quốc (P < 0,05). Về năng suất phi lê, tỷ lệ phi lê thịt cá của dòng cá chọn giống G4 cao hơn hai dòng cá còn lại trong khi tỷ lệ đầu - xương thì ngược lại (P < 0,05).
-
PHÂN TÍCH MỘT SỐ YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN TIẾN ĐỘ CÁC DỰ ÁN TRONG QUY HOẠCH SỬ DỤNG ĐẤT THỜI KỲ 2021 - 2030 TẠI THÀNH PHỐ BẮC NINH, TỈNH BẮC NINH
Abstract : 647 PDF: 0Nghiên cứu thực hiện nhằm phân tích một số yếu tố ảnh hưởng đến tiến độ thực hiện các dự án trong phương án quy hoạch sử dụng đất (QHSDĐ) thời kỳ 2021 - 2030 tại thành phố Bắc Ninh, tỉnh Bắc Ninh. Thành phố Bắc Ninh có tổng diện tích đất tự nhiên là 8.264,05 ha, trong đó: Diện tích đất nông nghiệp là 811,20 ha, diện tích đất phi nông nghiệp là 7.452,85 ha. Kết quả đánh giá phân tích hồi quy và xác định ảnh hưởng của một số yếu tố đến tiến độ các dự án trong QHSDĐ thời kỳ 2021 - 2030 cho thấy, nhóm yếu tố X2 - Đơn vị quản lý dự án (đóng góp 32,26%); nhóm yếu tố X3 - Tài chính (đóng góp 27,49%); nhóm yếu tố X4 - Các bước cụ thể thực hiện dự án (đóng góp 23,88%) và sau cùng là nhóm yếu tố X1 - Cơ chế, chính sách (đóng góp 16,37%). Trên cơ sở đó nghiên cứu đề xuất một số giải pháp nhằm thực hiện đẩy nhanh các dự án chậm tiến độ, quy hoạch treo góp phần sử dụng đất hiệu quả, phù hợp với chiến lược phát triển kinh tế xã hội gồm giải pháp về nguồn vốn thực hiện các dự án; giao đất, cho thuê đất; cơ chế chính sách; công tác tổ chức thực hiện; thanh tra, kiểm tra.








