NGHIÊN CỨU ĐÁNH GIÁ HIỆN TRẠNG ƯƠNG NUÔI CÁ CHIÊN (Bagarius rutilus Ng & Kottelat, 2000) GIAI ĐOẠN CÁ HƯƠNG LÊN CÁ GIỐNG VÀ ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP NÂNG CAO TỶ LỆ SỐNG TRONG ƯƠNG NUÔI CÁ CHIÊN
DOI:
https://doi.org/10.71254/0bxtra61Abstract
This study aimed to evaluate the current status of Goonch catfish (Bagarius rutilus Ng & Kottelat, 2000) nursing from fry (3 - 4 cm) to fingerling (8 - 10 cm) at eight hatchery and nursery facilities in Northern Vietnam. The results showed that the production capacity of these facilities ranged from 30,000 to 100,000 fingerlings per year, with seed sizes varying from 3 to 14 cm. Brood - stock originated from wild-caught (40%) or artificial propagation (60%). Notably, 25% of the brood - stock exhibited signs of hemorrhagic disease. During the nursery phase, a variety of feed types were used depending on the developmental stage and body size of the fish, including tubifex worms, trash fish, and commercial pelleted feed. Among the surveyed facilities, 60% relied exclusively on tubifex worms, while 12.5% used solely commercial feed for rearing larger fingerlings (7 - 10 cm). In addition, vitamin supplements, digestive enzymes, and anti - parasitic agents were commonly added to support health and growth. The water sources used for Goonch catfish nursing included underground well water (75%) and treated river water (25%). Survival rates during the nursery phase fluctuated significantly, particularly dropping during the 6 - 8 cm size range (0 - 50%), a period during which parasitic infections were frequently observed. Disease prevention and treatment methods were primarily based on personal experience (100%), with only 12.5% of facilities applying antibiotics, and treatment effectiveness generally remained below 50%. Preliminary findings identified three main factors effect on survival of B. rutilus, including disease (100%), feed (56%), and environmental management (48%).
Keywords:
Bagarius rutilus, fry, fingerling, parasitic diseasesTóm tắt
Nghiên cứu đánh giá hiện trạng ương nuôi cá Chiên (Bagarius rutilus Ng & Kottelat, 2000) giai đoạn cá hương (3 - 4 cm) lên cá giống (8 - 10 cm) ở 8 cơ sở đã và đang sản xuất giống/ương nuôi cá Chiên ở miền Bắc. Kết quả cho thấy, năng suất sản xuất giống/ương nuôi tại các cơ sở khoảng 3 - 10 vạn giống/năm, cỡ giống từ 3 - 14 cm. Nguồn cá bố mẹ tham gia sinh sản từ thu gom tự nhiên (40%) hoặc từ sinh sản nhân tạo (60%), trong đó 25% có dấu hiệu bệnh xuất huyết. Về thức ăn, trong quá trình ương nuôi cá Chiên sử dụng nhiều loại thức ăn khác nhau (giun trùn chỉ, cá tạp và thức ăn công nghiệp), tùy theo giai đoạn phát triển và khối lượng cá. Trong đó, 60% các cơ sở sử dụng hoàn toàn giun trùn chỉ; 12,5% sử dụng hoàn toàn thức ăn công nghiệp ương nuôi cá Chiên giống lớn (7 - 10 cm). Ngoài ra, trong quá trình ương nuôi có bổ sung vitamin, men tiêu hóa, thuốc diệt ký sinh trùng. Tỷ lệ sống trong ương nuôi cá Chiên dao động đặc biệt thấp ở giai đoạn 6 - 8 cm (0 - 50%). Trong giai đoạn này có ghi nhận bệnh ký sinh trùng. Các biện pháp phòng trị bệnh chủ yếu dựa vào kinh nghiệm cá nhân (100%) hoặc dùng kháng sinh (12,5%), với hiệu quả điều trị < 50%. Nghiên cứu bước đầu chỉ ra 3 nguyên nhân chính ảnh hưởng đến tỷ lệ sống trong ương nuôi cá Chiên giai đoạn cá hương lên cá giống gồm: Bệnh (100%), thức ăn (56%) và quản lý môi trường (48%).








