NGHIÊN CỨU ĐÁNH GIÁ CHẤT LƯỢNGMÔI TRƯỜNG NƯỚC VÙNG NUÔI TÔMVEN BIỂN GIAI ĐOẠN 2017 - 2024

Các tác giả

  • Ngô Thế Ân , Nguyễn Hữu Nghĩa, Phan Trọng Bình, Nguyễn Thị Hương Giang

DOI:

https://doi.org/10.71254/j1yc4w75

Abstract

This study assessed water quality in coastal shrimp farming areas across five provinces, rainging from Ninh Binh province to Hue city, during 2017 - 2024 and analyzed its relationship with aquaculture production. A total of 2,164 samples were analyzed for 15 physico - chemical and biological parameters. Compared with TCVN 13656:2023, the highest exceedance rates were observed for salinity (43.9%), temperature (33.9%), alkalinity (30.3%), and dissolved oxygen (26.0%). Extreme outliers were recorded for Coliforms (12.3 times), NO₂⁻ (11.2 times) and H₂S (9.4 times). Temporal variation was pronounced: in January - February, 100% of samples were below the optimal temperature range for shrimp culture (26 - 32°C), whereas exceedance rates were lower in mid-year months. Spatially, Hue exhibited the highest proportion of samples exceeding standards. Shrimp production increased steadily across most provinces, except Quang Tri province, which showed unstable trends. Aquaculture area declined markedly in Ha Tinh and Quang Tri, while other provinces showed slight expansion. Kendall and Spearman correlations indicated significant relationships (p < 0.05) between shrimp production/area and pH, DO, alkalinity, NH₃, PO₄, TSS, Vibrio and harmful algae, demonstrating that production growth is associated with increased nutrient, organic, and microbial pressures. The results highlight the necessity of managing shrimp aquaculture within environmental carrying capacity, accounting for seasonal variability and spatial heterogeneity

Keywords:

Water quality, shrimp farming, aquaculture environment management

Tóm tắt

Nghiên cứu này đánh giá chất lượng nước vùng nuôi tôm ven biển ở năm tỉnh, từ Ninh Bình đến thành phố Huế, giai đoạn 2017 - 2024 và phân tích mối liên hệ với sản xuất. Tổng số 2.164 mẫu được phân tích cho 15 chỉ tiêu lý - hóa và sinh học. So sánh với TCVN 13656:2023, tỷ lệ mẫu vượt chuẩn nhiều nhất là độ mặn (43,9%), nhiệt độ (33,9%), kiềm (30,3%) và DO (26,0%). Ghi nhận một số ngoại lệ cao đối với coliforms (12,3 lần), NO2- (11,2 lần) và H2S (9,4 lần). Biến động thời gian khá rõ rệt: 100% mẫu tháng 1 - 2 dưới ngưỡng nhiệt tối ưu (26 - 32°C), vào giữa năm tỷ lệ vượt ngưỡng ít hơn. Theo không gian, thành phố Huế có tỷ lệ vượt chuẩn cao nhất. Sản lượng tôm tăng dần qua các năm với ngoại trừ tỉnh Quảng Trị có xu thế không ổn định. Diện thích nuôi thủy sản giảm rõ rệt ở tỉnh Hà Tĩnh và tỉnh Quảng Trị trong khi các tỉnh khác tăng nhẹ. Tương quan Kendall và Spearman cho thấy sản lượng và diện tích liên quan có ý nghĩa (p < 0,05) với pH, DO, kiềm, NH3, PO4, TSS, Vibrio và tảo độc, chứng minh tăng trưởng gắn với áp lực dinh dưỡng, hữu cơ và vi sinh. Kết quả nhấn mạnh, quản lý nuôi tôm trong giới hạn chịu tải môi trường có xét đến biến động mùa vụ và khác biệt không gian là cần thiết.

Từ khóa:

Chất lượng nước, nuôi tôm, quản lý môi trường

Ngày nhận bài:

25-11-2025

Ngày nhận bài sửa:

17-06-2026

Ngày duyệt đăng:

17-06-2026

Ngày xuất bản:

05-10-2025

Title:

ASSESSMENT OF WATER QUALITY IN COASTAL SHRIMP FARMING AREAS DURING 2017 - 2024

Các trích dẫn

NGHIÊN CỨU ĐÁNH GIÁ CHẤT LƯỢNGMÔI TRƯỜNG NƯỚC VÙNG NUÔI TÔMVEN BIỂN GIAI ĐOẠN 2017 - 2024. (2025). Tạp Chí Nông nghiệp Và Môi trường, Tháng 10, 138-148. https://doi.org/10.71254/j1yc4w75
Lượt xem
256
Lượt tải
0