ĐÁNH GIÁ HIỆN TRẠNG KỸ THUẬT VÀ HIỆU QUẢ KINH TẾ CỦA MÔ HÌNH NUÔI NGHÊU (Meretrix lyrata) TRÊN BÃI TRIỀU TẠI TỈNH CÀ MAU VÀ VĨNH LONG

Các tác giả

  • Ngô Thị Thu Thảo, Nguyễn Dương Anh, Trần Nguyễn Duy Khoa, Phùng Hữu Tâm, Vũ Trọng Đại

DOI:

https://doi.org/10.71254/jfvw9262

Abstract

The result of the survey were conducted among white hard clam farmers in Ca Mau and Vinh Long provinces to to assess the technical status and economic efficiency of the clam farming model. In Vinh Long, the farming model is organized through cooperatives, whereas in Ca Mau, it is conducted through groups or individual households. The survey results revealed significant differences in technical aspects: the average farming area in Vinh Long is 106.55 ± 82.23 ha, with a stocking density of 167 ± 50.56 clams/m², a seed size of 1,218.18 ± 292.64 clams/kg and an average farming duration of 16.46 ± 4.93 months. In contrast, the households in Ca Mau have smaller farming areas of only 23.75 ± 14.49 ha, a stocking density of 402.08 ± 198.42 clams/m², a seed size of 2,641.67 ± 729.21 clams/kg and a farming duration of 13.7 ± 3.2 months. The clam farming model on tidal flats in Ca Mau achieved higher productivity at 34.65 ± 19.13 tons/ha/crop, generating a profit of 577.27 ± 388.51 million VND/ha/crop and a profit ratio of 4.06 ± 2.43 times, all of which were higher compared to Vinh Long (16.51 ± 4.73 tons/ha/crop, 289.39 ± 136.81 million VND/ha/crop and 2.53 ± 1.25 times, respectively). Additionally, the study also showed major difficulties arising from farming practices both in Ca Mau and Vinh Long provinces, including climate change, water quality, pathogens and a shortage of high-quality clam seeds and recommendations to develop white hard clam farming in the Mekong delta provinces in a sustainable direction.

Keywords:

Ca Mau, economic, technique, Meretrix lyrata, Vinh Long, white clam farming

Tóm tắt

Nghiên cứu tiến hành điều tra khảo sát các hộ nuôi nghêu trắng tại tỉnh Cà Mau và Vĩnh Long nhằm đánh giá hiện trạng kỹ thuật nuôi và hiệu quả kinh tế của nghề nuôi nghêu tại đây. Kết quả cho thấy, mô hình nuôi ở tỉnh Vĩnh Long là tổ hợp tác xã và ở tỉnh Cà Mau là theo nhóm hoặc nông hộ riêng lẻ. Hiện trạng kỹ thuật của mô hình nuôi có sự khác biệt giữa hai địa phương: Ở tỉnh Vĩnh Long, diện tích nuôi nghêu trung bình là 106,55 ± 82,23 ha, mật độ nuôi 167 ± 50,56 con/m2 với kích cỡ giống là 1.218,18 ± 292,64 con/kg, thời gian nuôi trung bình 16,46 ± 4,93 tháng; các hộ nuôi nghêu ở tỉnh Cà Mau có diện tích nuôi nhỏ hơn, chỉ 23,75 ± 14,49 ha, mật độ nuôi 402,08 ± 198,42 con/m2, cỡ giống thả 2.641,67 ± 729,21 con/kg, thời gian nuôi 13,7 ± 3,2 tháng. Mô hình nuôi nghêu trên bãi triều ở tỉnh Cà Mau đạt năng suất 34,65 ± 19,13 tấn/ha/vụ, lợi nhuận 577,27 ± 388,51 triệu đồng/ha/vụ và tỷ suất lợi nhuận là 4,06 ± 2,43 lần, cao hơn kết quả nuôi ở tỉnh Vĩnh Long, lần lượt là 16,51 ± 4,73 tấn/ha/vụ, 289,39 ± 136,81 triệu đồng/ha/vụ và tỷ suất lợi nhuận là 2,53 ± 1,25 lần. Bên cạnh đó, nghiên cứu cũng đã xác định được một số khó khăn, thách thức mà người nuôi nghêu ở tỉnh Cà Mau và Vĩnh Long đang gặp phải đó là biến đổi khí hậu, chất lượng nước, dịch bệnh và khan hiếm nguồn con giống chất lượng cao; qua đó các giải pháp liên quan được đề xuất nhằm phát triển nghề nuôi nghêu tại các tỉnh đồng bằng sông Cửu Long theo hướng bền vững.

Từ khóa:

Cà Mau, kinh tế, kỹ thuật, mô hình nuôi, nghêu trắng, Vĩnh Long

Ngày nhận bài:

25-11-2025

Ngày nhận bài sửa:

17-06-2026

Ngày duyệt đăng:

17-06-2026

Ngày xuất bản:

05-10-2025

Title:

ASSESSMENT OF TECHNICAL STATUS AND FINANCIAL EFFICIENCY OF FARMING WHITE CLAM (Meretrix lyrata) ON TIDAL FLATS IN CA MAU AND VINH LONG PROVINCES

Các trích dẫn

ĐÁNH GIÁ HIỆN TRẠNG KỸ THUẬT VÀ HIỆU QUẢ KINH TẾ CỦA MÔ HÌNH NUÔI NGHÊU (Meretrix lyrata) TRÊN BÃI TRIỀU TẠI TỈNH CÀ MAU VÀ VĨNH LONG. (2025). Tạp Chí Nông nghiệp Và Môi trường, Tháng 10, 149-156. https://doi.org/10.71254/jfvw9262
Lượt xem
343
Lượt tải
0

Các bài báo được đọc nhiều nhất của cùng tác giả