Số 13 (2021)

					Xem Số 13 (2021)
Đã Xuất bản: 15-07-2021

Bài viết

  • XÁC ĐỊNH BỘ CHỈ TIÊU SỬ DỤNG ĐẤT TRONG QUY HOẠCH TỈNH CÓ TÍNH ĐẾN MỐI LIÊN KẾT VÙNG VÀ BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU VÙNG ĐỒNG BẰNG SÔNG HỒNG

    Abstract : 7 PDF: 6
    Vũ Lệ Hà, Nguyễn Cao Huần, Thái Thị Quỳnh Như
    3-13

    Hiện nay, các địa phương cấp tỉnh đang xây dựng quy hoạch tỉnh giai đoạn 2021 - 2030 và tầm nhìn đến năm 2045 trên nguyên tắc quy hoạch của tất cả các ngành, các địa phương thuộc tỉnh được tích hợp trên một bản quy hoạch, trong đó quy hoạch sử dụng đất (QHSDĐ) phải thể hiện được nhu cầu sử dụng đất (SDĐ) của mọi hoạt động trên địa bàn toàn tỉnh. Trong phương án QHSDĐ được xây dựng, mặc dù phân vùng chức năng SDĐ theo không gian và đánh giá tác động của biến đổi khí hậu (BĐKH) đến SDĐ đã được đề cập, tuy nhiên chưa rõ về cơ sở lý luận và phương pháp luận dẫn đến chưa đảm bảo tính liên kết trong SDĐ, chưa phát huy được thế mạnh cũng như đảm bảo sự phát triển hài hòa, bền vững giữa các vùng trong bối cảnh BĐKH. Kết quả nghiên cứu này tập trung vào việc hoàn thiện bộ chỉ tiêu QHSDĐ trong quy hoạch tỉnh đối với vùng đồng bằng sông Hồng (ĐBSH) dưới góc nhìn của liên kết vùng (LKV) và BĐKH. Đã sử dụng phương pháp Delphi là một kỹ thuật được sử dụng khi muốn dự đoán về một vấn đề cụ thể trong tương lai hay ra quyết định, tạo điều kiện để xây dựng sự đồng thuận trong nhóm và nâng cao tính sáng tạo của nhóm làm việc. Trong khuôn khổ bài báo, phương pháp Delphi sử dụng để lấy ý kiến của các chuyên gia về bộ chỉ tiêu SDĐ trong quy hoạch. Bộ chỉ tiêu được xây dựng dựa trên 3 tiêu chí: (i) tiêu chí tự nhiên, kinh tế - xã hội với 24 chỉ tiêu mục đích SDĐ; (ii) tiêu chí LKV gồm 8 chỉ tiêu phân khu chức năng; (iii) tiêu chí thích ứng với BĐKH gồm 6 chỉ tiêu khu vực thích ứng BĐKH.

    DOI: https://doi.org/10.71254/yhf2vt19
  • ẢNH HƯỞNG CỦA VI KHUẨN QUANG DƯỠNG KHÔNG LƯU HUỲNH MÀU TÍA CÓ KHẢ NĂNG CUNG CẤP δ-AMINOLEVULINIC ACID VÀ SỐ LẦN TƯỚI NƯỚC MẶN ĐẾN SINH TRƯỞNG VÀ NĂNG SUẤT LÚA TRỒNG TRÊN ĐẤT MẶN THẠNH PHÚ, BẾN TRE

    Abstract : 11 PDF: 11
    Nguyễn Quốc Khương, Đặng Phan Thiện Minh, Lê Vĩnh Thúc, Nguyễn Hồng Huế, Trần Ngọc Hữu, Trần Chí Nhân, Phạm Duy Tiễn, Lý Ngọc Thanh Xuân
    14-20

    Mục tiêu của nghiên cứu là đánh giá hiệu quả của chế phẩm vi sinh dạng lỏng chứa vi khuẩn quang dưỡng không lưu huỳnh màu tía có khả năng cung cấp δ-aminolevulinic acid đến hỗ trợ sinh trưởng và năng suất lúa trong điều kiện có số lần tưới mặn khác nhau. Thí nghiệm hai nhân tố được bố trí theo khối hoàn toàn ngẫu nhiên, trong đó nhân tố 1 là số lần tưới mặn (0, 1, 2, 3, 4 lần), nhân tố 2 là vi khuẩn quang dưỡng không lưu huỳnh màu tía có khả năng cung cấp δ-aminolevulinic (vi khuẩn R. sphaeroides W22, vi khuẩn R. sphaeroides W47 và hỗn hợp hai dòng vi khuẩn R. sphaeroides W22 và W47, với mật số 2,0394 x 105 CFU g-1), với bốn lần lặp lại. Kết quả nghiên cứu cho thấy tưới mặn từ 2 lần trở lên dẫn đến giảm chiều cao cây, chiều dài bông, số bông chậu-1, số hạt chắc bông-1 và tỉ lệ hạt chắc so với không tưới mặn. Bên cạnh đó, dòng đơn vi khuẩn R. sphaeroides W22 hoặc hỗn hợp hai dòng vi khuẩn R. sphaeroides W22 và W47 đạt năng suất hạt lúa tốt hơn so với dòng đơn vi khuẩn R. sphaeroides W47 trên nền đất mặn thu từ huyện Thạnh Phú, tỉnh Bến Tre.

    DOI: https://doi.org/10.71254/42wj8533
  • NGHIÊN CỨU BÓN PHÂN KHOÁNG THEO CHẨN ĐOÁN DINH DƯỠNG QUA LÁ Ở CÁC MẬT ĐỘ TRỒNG SẮN KHÁC NHAU TẠI NGHỆ AN

    Abstract : 6 PDF: 5
    Phạm Thị Thu Hà, Nguyễn Viết Hưng, Nguyễn Quang Tin
    21-25

    Nghiên cứu đánh giá tình trạng dinh dưỡng trong lá của giống sắn 13Sa05 và xây dựng 4 tổ hợp phân bón theo chẩn đoán dinh dưỡng qua lá, sau đó thử nghiệm 4 tổ hợp phân bón này trên 3 mật độ khác nhau cho giống sắn 13Sa05 tại Nghệ An. Kết quả nghiên cứu đã chỉ ra: Hàm lượng các chất trong lá sắn như: đạm (3,35±0,68%) ở mức rất thiếu, lân (0,31±007%) ở mức hơi thiếu, kali (1,13±0,23%) ở mức thiếu và có tương quan thuận từ tương đối chặt – rất chặt với năng suất sắn, hệ số tương quan r lần lượt là 0,77, 0,46 và 0,63. Thử nghiệm bón phân theo chẩn đoán dinh dưỡng lá cho thấy: Bón phân với tổ hợp 90 kg N-50 kg P2O5 -100 kg K2O + 1,5 tấn phân hữu cơ vi sinh + 500 kg vôi bột/ha với mật độ 10.000 cây/ha thu được năng suất củ sắn tươi cao nhất (53,26 tấn/ha), năng suất tinh bột đạt 15,81 tấn/ha.

    DOI: https://doi.org/10.71254/ncq5c743
  • ẢNH HƯỞNG CỦA SILIC ĐẾN CHẤT LƯỢNG HẠT (TỶ LỆ HẠT XANH NON) VÀ NĂNG SUẤT CỦA GIỐNG LÚA NẾP AG (CK92)

    Abstract : 6 PDF: 6
    Lê Thị Huyền Linh, Hồ Thanh Bình, Lê Thanh Toàn
    26-33

    Nguyên tố silic (Si) không được xem là một nguyên tố thiết yếu đối với cây trồng, đồng thời cũng đã có một số kết quả nghiên cứu cho thấy silic là dưỡng chất có lợi cho sự sinh trưởng, phát triển, sức khỏe và năng suất cây lúa. Mục tiêu của nghiên cứu này là đánh giá ảnh hưởng của các hợp chất silicat đối với việc hạn chế hạt xanh non và nâng cao năng suất của giống lúa nếp AG (CK92). Thí nghiệm được thiết kế theo khối hoàn toàn ngẫu nhiên với 5 nghiệm thức và 4 lần lặp lại. Các muối silicat được sử dụng trong thí nghiệm bao gồm CaSiO3, K2SiO3, Na2SiO3 và sản phẩm Silimax, mỗi loại muối silicat tương ứng với 1 nghiệm thức, đối chứng sử dụng nước. Kết quả khảo sát ảnh hưởng của silic đến chất lượng hạt (tỷ lệ hạt xanh non) và các yếu tố cấu thành năng suất qua 2 vụ thu đông 2019 và đông xuân 2019-2020 cho thấy K2SiO3 thể hiện hiệu quả vượt trội hơn CaSiO3 và Silimax trong việc hạn chế tỷ lệ hạt xanh non và tăng năng suất giống nếp AG (92); riêng Na2SiO3 không thể hiện hiệu quả.

    DOI: https://doi.org/10.71254/7dndx903
  • ẢNH HƯỞNG CỦA LIỀU LƯỢNG PHÂN NPK VÀ PHÂN HỮU CƠ ĐẾN NĂNG SUẤT VÀ CHẤT LƯỢNG QUẢ XOÀI TƯỢNG DA XANH (Mangifera indica L.) TẠI HUYỆN CHỢ MỚI, TỈNH AN GIANG

    Abstract : 9 PDF: 8
    Dương Quốc Nghi, Nguyễn Huỳnh Dương, Trần Văn Hâu
    34-43

    Nghiên cứu được thực hiện nhằm xác định liều lượng phân NPK và phân hữu cơ (HC) có hiệu quả đến năng suất và chất lượng quả xoài Tượng da xanh (TDX). Có 2 thí nghiệm được thực hiện trên cây xoài TDX 7 năm tuổi tại Cù Lao Giêng, huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang từ tháng 8/2019 đến tháng 8/2020. Thí nghiệm được bố trí theo thể thức khối hoàn toàn ngẫu nhiên gồm 7 nghiệm thức, 5 lần lặp lại, mỗi đơn vị thí nghiệm là một cây. Các nghiệm thức bao gồm: (1) Đối chứng (bón theo nông dân): 1,10 N, 0,82 P2O5, 0,91 K2O,  (2) NPK1: 0,57 N, 0,57 P2O5, 0,49 K2O, (3) NPK1 – HC (hữu cơ) 0,49 N, 0,51 P2O5, 0,46  K2O, 5 kg HC, (4) NPK2: 0,85 N, 0,85 P2O5, 0,75 K2O, (5) NPK2-HC: 0,75 N, 0,77 P2O5, 0,69 K2O, 7,5 kg HC, (6) NPK3: 1,13 N, 1,13  P2O5, 0,99 K2O, (7) NPK3-HC 0,99 N, 1,03  P2O5, 0,924 K2O, 10 kg HC. Phân được bón vào 5 giai đoạn: Sau thu hoạch (NPK 28 – 21 – 14); một tháng sau khi xử lý (SKXL) Uniconazole/Paclobutrazol (UCZ/PBZ) (NPK 7 – 21 – 14); phát hoa 5 cm (NPK 14 – 14 – 14); 30 ngày sau khi đậu quả (SKĐQ) (NPK 14 – 14 – 14); 60 ngày SKĐQ (NPK 14 – 14 – 21). Kết quả cho thấy, liều lượng phân NPK và HC có ảnh hưởng đến hàm lượng chất hữu cơ, khả năng trao đổi cation trong đất, tỷ lệ ra hoa, tỷ lệ đậu quả, số quả trên cây, năng suất quả trên cây. Bón phân với nghiệm thức NPK2 – HC đạt 35,0 quả/cây, năng suất 29,9 kg/cây tại Tấn Mỹ và 36,4 quả/cây, 30,3 kg/cây tại Mỹ Hiệp. Tuy nhiên, liều lượng phân NPK và phân HC không có ảnh hưởng đến hàm lượng đạm hữu dụng, lân dễ tiêu, kali trao đổi, pH đất, chiều dài phát hoa, đặc tính nông học quả, phẩm chất quả. Có thể bón phân NPK và HC cho xoài TDX tại Cù Lao Giêng, huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang với liều lượng theo nghiệm thức NPK2 – HC (0,75 N, 0,77 P2O5, 0,69 K2O, 7,5 kg phân hữu cơ/cây) để góp phần nâng cao năng suất và phẩm chất quả xoài TDX.

    DOI: https://doi.org/10.71254/6kp0cc83
  • TÍNH KHÁNG CỦA CỎ LỒNG VỰC ĐỐI VỚI HOẠT CHẤT PRETILACHLOR Ở THỪA THIÊN - HUẾ TRONG ĐIỀU KIỆN NHÀ LƯỚI

    Abstract : 6 PDF: 6
    Nguyễn Thị Thu Thủy, Nguyễn Tiến Long, Trương Thị Diệu Hạnh, Trần Thị Ánh Tuyết, Nguyễn Vĩnh Trường
    44-50

    Cỏ lồng vực (Echinochloa crus-galli) là đối tượng dịch hại phân bố rộng trên thế giới và gây hại nghiêm trọng trong sản xuất lúa gạo. Thuốc trừ cỏ được sử dụng rộng rãi để trừ cỏ dại cho lúa trong nhiều năm qua ở nước ta. Tuy nhiên, trong những năm gần đây hiện tượng cỏ dại, đặc biệt là cỏ lồng vực phát sinh trở lại sau khi sử dụng thuốc trừ cỏ được ghi nhận khá phổ biến ở nhiều địa phương. Kết quả đánh giá bằng biện pháp sinh học trong điều kiện nhà lưới các quần thể cỏ dại ở Thừa Thiên - Huế với hợp chất pretilachlor ở nồng độ khuyến cáo cho thấy tỉ lệ sống sót cỏ lồng vực ở 15 ngày sau xử lý là 0,3%. Điều này cho thấy quần thể cỏ lồng vực ở Thừa Thiên - Huế đang hình thành tính kháng với pretilachlor. Kết quả nghiên cứu này là cơ sở khoa học để xây dựng các chiến lược quản lý cỏ dại cho cây lúa trong tương lai. Cần đánh giá khả năng kháng thuốc của cỏ lồng vực các vùng khác và ở trên đồng ruộng để có kết luận khách quan đối với tính kháng của cỏ lồng vực ở Việt Nam.

    DOI: https://doi.org/10.71254/40tdxq59
  • PHÁT TRIỂN SỮA CHUA UỐNG BỔ SUNG XOÀI SỬ DỤNG CHỦNG VI KHUẨN Lactobacillus pentosus DH7.8 LÊN MEN

    Abstract : 6 PDF: 5
    Nguyễn Thị Lâm Đoàn, Đặng Thảo Yến Linh, Trịnh Thị Thu Thủy, Nguyễn Đức Doan
    51-57

    Nghiên cứu được thực hiện nhằm đánh giá ảnh hưởng của chủng vi khuẩn Lactobacillus pentosus DH7.8 đến một số tính chất hóa lý, vi sinh vật và cảm quan của sữa chua uống bổ sung xoài. Sữa chua uống được sản xuất từ sữa bò tươi và lên men bởi 0,03, 2 và 4% Lactobacillus pentosus DH7.8 có bổ sung 20% dịch quả xoài. Sản phẩm được định lượng vi khuẩn, phân tích độ axít, pH, độ nhớt và cảm quan tại 1 và 15 ngày bảo quản ở điều kiện nhiệt độ 4 - 6oC. Kết quả chỉ ra sữa chua uống có bổ sung xoài được lên men với 2% L. pentosus DH7.8 có các tính chất về độ axít, pH, độ nhớt và cảm quan tốt và sau 15 ngày bảo quản đảm bảo chất lượng vệ sinh an toàn thực phẩm theo quy định của Bộ Y tế và có lượng vi khuẩn probiotic L. pentosus DH7.8 đạt trên 9 log CFU/mL.

    DOI: https://doi.org/10.71254/msv7fb74
  • NGHIÊN CỨU SẢN XUẤT TRÀ TÚI LỌC TỪ LÁ CHÈ XANH SUỐI GIÀNG, HUYỆN VĂN CHẤN, TỈNH YÊN BÁI

    Abstract : 6 PDF: 8
    Nguyễn Thị Thanh Mai, Nguyễn Thị Hồng Hạnh
    58-62

    Trong thành phần của lá chè có chứa một lượng lớn polyphenol. Polyphenol là các chất chống oxi hóa, có tác dụng làm giảm tổn thương tế bào trong cơ thể do các gốc tự do gây ra, ngăn chặn tổn hại do quá trình oxi hóa, ổn định huyết áp, duy trì lượng đường trong cơ thể, kháng khuẩn, kháng nấm, phòng và hỗ trợ điều trị bệnh tim mạch. Trong lá chè, polyphenol chiếm khoảng 20-30% hàm lượng chất khô, trong đó, epigallocatechin gallate (EGCG) là chất có vai trò quyết định đến khả năng chống oxi hóa, quét gốc tự do. Mỗi giai đoạn phát triển của lá, hàm lượng EGCG sẽ tích lũy khác nhau, việc xác định thời điểm thu hái chè phù hợp sẽ cung cấp được sản phẩm có chất lượng tốt nhất cho người tiêu dùng. Nghiên cứu trên các cây chè cổ thụ tại Suối Giàng, Văn Chấn, Yên Bái cho thấy, hàm lượng EGCG trong sản phẩm bột trà túi lọc chế biến từ lá chè bánh tẻ được xác định cao nhất vào tháng 9, với hàm lượng EGCG đạt 26,474 mg/g.  

    DOI: https://doi.org/10.71254/1nd2y522
  • NGHIÊN CỨU TRÍCH LY SIÊU ÂM SAPONIN TRITERPENOIT TỔNG VÀ POLYSACCHARIDE TỪ CÂY GIẢO CỔ LAM (Gynostemma pentaphyllum)

    Abstract : 13 PDF: 13
    Nguyễn Tân Thành
    63-68

    Nghiên cứu này có mục đích tối ưu các điều kiện trích ly saponin triterpenoit tổng và polysaccharide từ cây Giảo cổ lam (Gynostemma pentaphyllum) với sự hỗ trợ của sóng siêu âm bằng phương pháp đáp ứng bề mặt (RSM). Bố trí thí nghiệm theo thiết kế Box – Benhken, đã xây dựng được mô hình tối ưu quy trình tách chiết saponin triterpenoit tổng (Y1) và polysaccharide (Y2) với ba yếu tố là công suất siêu âm (X1), thời gian trích ly (X2) và tỷ lệ nước/nguyên liệu (X3). Theo mô hình, điều kiện tối ưu hóa quá trình trích ly để thu được hàm lượng saponin triterpenoit tổng và polysaccharide cao nhất là công suất siêu âm 350W, thời gian trích ly 27 phút và tỷ lệ nước/nguyên liệu 27 mL/g. Với các thông số này, dịch chiết thu được có hàm lượng saponin triterpenoit tổng là 2,22 ± 0,01mg/g và hàm lượng polysaccharide là 5,71 ± 0,02%.

    DOI: https://doi.org/10.71254/g2k6fw46
  • HÀM LƯỢNG THỦY NGÂN TRONG CÁ DÌA TRO TẠI VÙNG VEN BIỂN QUẢNG BÌNH VÀ BƯỚC ĐẦU ƯỚC TÍNH NGUY CƠ ĐỐI VỚI SỨC KHỎE NGƯỜI TIÊU DÙNG

    Abstract : 7 PDF: 7
    Võ Văn Thiệp, Nguyễn Thị Quỳnh Phương
    69-74

    50 cá thể cá Dìa tro đã được thu thập từ tháng 7 đến tháng 10 năm 2019 ở vùng ven biển Quảng Bình, để xác định sự thay đổi nồng độ thủy ngân cũng như đánh giá mức độ rủi ro đối với người tiêu thụ. Gan, mang và cơ của cá Dìa tro đã được lấy để phân tích nồng độ thủy ngân bằng phương pháp quang phổ hấp thụ nguyên tử hóa hơi tại Viện Sinh học, Trường Đại học Sư phạm Krakow, Ba Lan. Nồng độ thủy ngân ở trong tất các mẫu thử đều nhỏ hơn ngưỡng giới hạn của Bộ Y tế. Ước tính lượng tiêu thụ hàng ngày (EDI) và chỉ số nguy hại (THQ) đã được sử dụng để đánh giá nguy cơ rủi ro sức khỏe của người tiêu thụ cá. Tất cả các giá trị EDI đều thấp hơn lượng ăn vào hàng ngày có thể chấp nhận được tạm thời (PTDI) do Bộ Y tế quy định, đồng thời giá trị THQ của người tiêu thụ nam và nữ không vượt quá 1. Điều đó cho thấy không có nguy cơ rủi ro đến sức khỏe khi tiêu thụ cá Dìa tro tại ven biển tỉnh Quảng Bình.

    DOI: https://doi.org/10.71254/tk6tax21
  • NUÔI ỐC HƯƠNG (Babylonia areolata, Linh 1807) DÙNG THỨC ĂN CÔNG NGHIỆP TRONG BỂ TÁI SỬ DỤNG NƯỚC

    Abstract : 16 PDF: 13
    Mai Duy Minh, Vũ Thị Bích Duyên, Mai Duy Hảo
    75-82

    Bài báo trình bày sự tăng trưởng (DGR), tỉ lệ sống (SR), FCR, năng suất và hiệu quả kinh tế của mô hình nuôi ốc hương dùng thức ăn công nghiệp trong bể tái sử dụng nước (RAS). Con giống ốc hương cỡ 0,05 g/con được nuôi ở mật độ 8150 con/m2 trong 3 bể xi măng, mỗi bể có diện tích đáy 54,3 m2. Trong 3 tuần đầu cho ốc ăn tôm tươi kết hợp thức ăn viên. Trong thời gian sau cho ốc ăn thức ăn viên theo chế độ 2 lần/ngày với lượng 1,2-0,8% khối lượng thân/lần. Hàng ngày nước trong bể nuôi được tái sử dụng trên 90% nhờ bể lọc sinh học có vật liệu lọc là xác cành san hô và đá cuội. Các chỉ số môi trường nước: nhiệt độ: 26,2-30,4oC; độ mặn: 32,2-37,2‰; pH: 7,6-8,2; DO: 5,2-5,6 mg/l; độ kiềm: 102,2-132,1 mg/l; TAN: ≤ 0,36 mg/l; NO2-N: ≤ 0,08 mg/l; NO3-N ≤ 4,84 mg/l. Sau 5 tháng nuôi, ốc đạt 5,6 ± 0,11 g/con; DGR: 0,039 ± 0,001 g/ngày; SR: 75,61 ± 2,01%; năng suất: 11,41 ± 0,33 kg/m2; FCR: 0,83 ± 0,05. Trong khi SR (%) của ốc tương đương thì DGR (g/ngày) chậm hơn so với mô hình nuôi dùng thức ăn tươi. Tính cho mỗi vụ nuôi, lãi suất đạt 25,29 - 58,22%; thời gian hoàn vốn là 1,71- 0,80 năm tùy thuộc giá bán sản phẩm. Kết quả đạt được cho thấy triển vọng  nuôi ốc hương trong bể tái sử dụng nước (RAS) dùng thức ăn viên công nghiệp.

    DOI: https://doi.org/10.71254/67yzmd79
  • NGUỒN LỢI HẢI SẢN TẦNG ĐÁY Ở VÙNG VEN BỜ VÀ VÙNG LỘNG CỦA TỈNH BÀ RỊA - VŨNG TÀU, TRONG MÙA GIÓ ĐÔNG BẮC NĂM 2020

    Abstract : 7 PDF: 7
    Nguyễn Phước Triệu, Phạm Quốc Huy, Trần Bảo Chương
    83-90

    Dựa trên nguồn số liệu điều tra nguồn lợi hải sản tầng đáy thu được ở vùng biển ven bờ và vùng lộng tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu trong gió mùa Đông Bắc năm 2020, đã bắt gặp 213 loài hải sản, thuộc 142 giống và 75 họ. Năng suất khai thác trung bình toàn vùng biển là 12,7 kg/giờ (dao động từ 1,4-70,3 kg/giờ). Mật độ phân bố trung bình nguồn lợi hải sản tầng đáy ở vùng biển ven bờ và vùng lộng là 270 kg/km2. Trữ lượng tức thời nguồn lợi hải sản tầng đáy ở vùng biển ven bờ và vùng lộng tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu ước tính khoảng 4.516 tấn, trong đó trữ lượng tức thời của vùng biển ven bờ là 1.628 tấn và vùng lộng là 2.888 tấn. Nhóm cua, ghẹ có trữ lượng cao nhất khoảng 1.561 tấn (chiếm 34,6% tổng trữ lượng), tiếp theo là nhóm tôm đạt 1.086 tấn, nhóm mực, bạch tuộc là 598 tấn, nhóm cá là 473 tấn và các nhóm khác là 797 tấn.

    DOI: https://doi.org/10.71254/z1bav916
  • NGHIÊN CỨU ỨNG DỤNG SẢN PHẨM BAKTURE (BACK TO NATURE) XỬ LÝ NƯỚC MẶT BỊ Ô NHIỄM

    Abstract : 13 PDF: 11
    Nguyễn Minh Kỳ, Nguyễn Công Mạnh, Nguyễn Tri Quang Hưng, Bùi Quốc Lập
    91-99

    Bài báo trình bày kết quả áp dụng thí điểm sản phẩm thân thiện môi trường Bakture (Back to Nature) để xử lý nước bị ô nhiễm ở TP. Hồ Chí Minh. Đối tượng được sử dụng cho quá trình nghiên cứu là nguồn nước mặt các kênh rạch và ao/hồ đang bị ô nhiễm hữu cơ nặng. Nghiên cứu đã lựa chọn bốn nguồn ô nhiễm bởi các loại nước thải khác nhau xả vào nước mặt. Các thí nghiệm được bố trí với bốn bể thủy tinh có dung tích 100 lít, kích thước LxWxH tương ứng 0,6 m x 0,4 m x 0,5 m. Nhằm xem xét hiệu quả xử lý, nghiên cứu thực hiện quá trình lấy mẫu, phân tích các thông số chất lượng nước như pH, TSS, COD, BOD5, N-NH4+, N-NO3-, N-NO2-, P-PO43- và vi sinh vật. Các mẫu nước được tiến hành lấy mẫu và phân tích trong các khoảng thời gian lần lượt 1, 2 và 4 tuần của quá trình thí nghiệm. Việc áp dụng sản phẩm Bakture trong thời gian bốn tuần đã cho thấy kết quả giảm thiểu mức độ ô nhiễm nước sau thí nghiệm với các hiệu suất cao nhất lần lượt 78,1±7%, 95,0±11%, 91,2±3%, 54,6±6% đối với BOD5, COD, TN và TP. Ngoài ra, mật độ vi sinh vật có lợi tăng đáng kể, góp phần phân giải chất hữu cơ, duy trì môi trường sống cho hệ thủy sinh trong nước mặt. Kết quả nghiên cứu có ý nghĩa trong việc bảo vệ môi trường theo hướng bền vững sinh thái và thân thiện môi trường.

    DOI: https://doi.org/10.71254/wvkyt531
  • ĐA DẠNG KHU HỆ THÚ LINH TRƯỞNG TẠI NÚI CHỨA CHAN, HUYỆN XUÂN LỘC, TỈNH ĐỒNG NAI

    Abstract : 6 PDF: 6
    Nguyễn Hải Hà, Lê Việt Dũng, Nguyễn Văn Dũng, Tôn Hà Quốc Dũng, Nguyễn Ngọc Phượng, Đặng Hữu Giang, Vũ Mạnh Đàm, Ông Vĩnh An, Trần Đình Anh
    100-108

    Núi Chứa Chan có tổng diện tích rừng tự nhiên khoảng 1.792,25 ha. Kết quả nghiên cứu từ năm 2018 - 2020 đã xác định được tại khu vực nghiên cứu có 4 loài Linh trưởng thuộc 1 Bộ, 2 Họ gồm: Họ Khỉ có 3 loài; họ Cu li có 1 loài; đặc biệt loài Vượn má hung đã xác định tuyệt chủng cục bộ; chỉ số phong phú (A%) của loài Chà vá chân đen, Khỉ đuôi dài xếp (+++), Khỉ đuôi lợn xếp (++), Cu li nhỏ hiếm gặp xếp (+); hiệu suất tìm kiếm cao nhất loài Chà vá chân đen (0,05791), Khỉ đuôi dài (0,03143) và thấp dần ở Khỉ đuôi lợn (0,00827), nhỏ nhất Cu li nhỏ (0,00165); mật độ con/ha diện tích toàn khu vực xếp thứ nhất Chà vá chân đen (0,0585), Khỉ đuôi dài (0,0320), Khỉ đuôi lợn (0,0083) và thấp nhất là Cu li nhỏ (0,0016); mật độ con/ha diện tích điều tra xếp thứ nhất Chà vá chân đen  (1,3130), Khỉ đuôi dài (0,7153), Khỉ đuôi lợn (0,1875) và thấp nhất là Cu li nhỏ (0,0373). Khu hệ thú Linh trưởng ở núi Chứa Chan khá đa dạng về số bộ, họ và loài. Xác định được 4 dạng sinh cảnh chính nơi có phân bố của các loài Linh trưởng gồm; 1- Sinh cảnh cây bụi, dây leo (SC1); 2- Sinh cảnh rừng tự nhiên hỗn giao gỗ - tre nứa (SC2); 3 - Sinh cảnh rừng gỗ tự nhiên núi đất lá rộng thường xanh đang phục hồi (SC3); 4 - Sinh cảnh rừng gỗ tự nhiên núi đá lá rộng thường xanh trung bình (SC4). Trong đó 3 sinh cảnh (2, 3, 4) là quan trọng nhất đối với các loài thú Linh trưởng. Đề xuất được 4 nhóm giải pháp cấp thiết cần cho bảo tồn các loài Linh trưởng tại núi Chứa Chan.

    DOI: https://doi.org/10.71254/0s927011
  • ĐỘNG THÁI QUẦN THỂ LOÀI CHAI (Shorea guiso (Blanco) Blume) TRONG RỪNG KÍN THƯỜNG XANH ẨM NHIỆT ĐỚI TẠI KHU BẢO TỒN THIÊN NHIÊN VĂN HÓA ĐỒNG NAI

    Abstract : 9 PDF: 14
    Nguyễn Văn Quý, Phạm Thanh Hà, Nguyễn Thanh Tuấn, Nguyễn Văn Hợp, Lê Hồng Việt
    109-118

    Để xác định chiều hướng phát triển và nguyên nhân gây suy giảm quần thể Chai trong rừng kín thường xanh ẩm nhiệt đới tại Khu Bảo tồn Thiên nhiên - Văn hóa Đồng Nai, đã sử dụng hệ thống 18 ô tiêu chuẩn để tiến hành nghiên cứu về cấu trúc của quần thể và các nhân tố sinh thái ảnh hưởng đến mật độ phân bố loài Chai. Qua phân tích động thái của quần thể cho thấy, cấu trúc của các quần thể có dạng hình chữ “J” ngược; số lượng cây con so với số lượng cây nhỡ và cây trưởng thành chiếm tỷ lệ cao, số lượng cây con chiếm từ 23,13-50,62% tổng số cây của quần thể. Ba quần thể đều có điểm chung là từ đường kính ngang ngực (DBH) 25-30 cm cây bắt đầu sinh sản. Số lượng cây tái sinh mới của 3 quần thể có sự chênh lệch đáng kể, cao nhất là 58 cây/ha/năm ở quần thể 3 và thấp nhất là 32 cây/ha/năm ở quần thể 1. Qua phân tích chiều hướng phát triển của các quần thể Chai cho thấy, có 2 quần thể có chiều hướng phát triển (quần thể 1 và 3) và 1 quần thể có chiều hướng suy giảm (quần thể 2). Phân tích ảnh hưởng của các nhân tố sinh thái đến mật độ phân bố loài, kết quả có 2 nhân tố ảnh hưởng là độ tàn che và độ dày lớp thảm mục. Mật độ phân bố quần thể Chai cao nhất ở độ tàn che 0,6-0,7 và độ dày lớp thảm mục 1-3 cm; thấp nhất ở độ tàn che 0,3-0,4 và độ dày lớp thảm mục 2-4 cm. Để duy trì cấu trúc ổn định của các quần thể Chai trong khu vực cần tránh các tác động gây bất lợi cho quá trình tái sinh của loài.

    DOI: https://doi.org/10.71254/aqs0a231
  • ẢNH HƯỞNG CỦA HÀM LƯỢNG MÙN TRONG ĐẤT VÀ ĐỘ DÀY TẦNG ĐẤT ĐẾN TỶ LỆ SỐNG VÀ SINH TRƯỞNG CỦA KEO TAI TƯỢNG (Acacia mangium) TẠI HUYỆN LẠC THỦY, TỈNH HÒA BÌNH

    Abstract : 6 PDF: 5
    Nguyễn Minh Thanh, Trần Thanh Sơn, Nguyễn Cảnh Phương, Vũ Trung Kiên, Dương Thanh Hải
    119-126

    Nghiên cứu đã đánh giá ảnh hưởng của hàm lượng mùn trong đất và độ dày tầng đất đến tỷ lệ sống và sinh trưởng của Keo tai tượng tại huyện Lạc Thủy, tỉnh Hòa Bình. Đã điều tra 54 ô tiêu chuẩn trên 3 xã Thống Nhất, Đồng Tâm và Hưng Thi của huyện Lạc Thủy, tỉnh Hòa Bình, với diện tích 500 m2/ô tiêu chuẩn. Tiến hành phân tích hàm lượng mùn và đo độ dày tầng đất, đo chiều cao và đường kính D1,3 của Keo tai tượng 2, 4 và 6 năm tuổi trên các ô tiêu chuẩn để đánh giá sự ảnh hưởng của độ dày tầng đất và hàm lượng mùn đến sinh trưởng của cây Keo tai tượng. Xử lý bằng phần mềm SPSS để tính phương sai (F) và sai tiêu chuẩn (t). Kết quả cho thấy Keo tai tượng trồng ở lập địa có đất giàu mùn có sinh trưởng tốt hơn so với Keo tai tượng trồng ở lập địa có hàm lượng mùn thấp. Tương tự, thì Keo tai tượng trồng ở lập địa có độ dày tầng đất dày có sinh trưởng tốt hơn Keo tai tượng trồng ở lập địa có độ dày tầng đất mỏng, đặc biệt Keo tai tượng trồng từ 4 năm tuổi trở đi có sự khác biệt rõ ràng. Như vậy, hàm lượng mùn trong đất và độ dày tầng đất khác nhau có ảnh hưởng rõ rệt đến sinh trưởng phát triển của Keo tai tượng trên địa bàn nghiên cứu.

    DOI: https://doi.org/10.71254/2v1zvk58
  • NGHIÊN CỨU ĐẶC ĐIỂM SỬ DỤNG CÁC NHÓM ĐẤT CỦA HUYỆN EA KAR, TỈNH ĐẮK LẮK

    Abstract : 11 PDF: 13
    Phạm Thế Trịnh
    127-135

    Huyện Ea Kar nằm ở phía Đông Nam của tỉnh ĐắkLắk, diện tích tự nhiên 103.700 ha, chiếm 7,58% diện tích toàn tỉnh, trong đó nhóm đất đỏ vàng và đất xám chiếm 81,3% diện tích tự nhiên. Bằng các phương pháp tổng hợp thống kê, chồng xếp các loại bản đồ đơn tính và phương pháp đánh giá có sự tham gia của người dân, kết quả đã xác định toàn huyện có 6 nhóm đất, với 16 đơn vị phân loại đất. Các loại đất ở Ea kar đều chua đến rất chua (pHKCl 3,4 - 5,2). Hàm lượng chất hữu cơ tổng số, các chất dinh dưỡng (N, P2O5, K2O) tổng số và dễ tiêu, tổng số cation kiềm trao đổi, dung tích hấp thu cation (CEC)... biến động khá lớn không chỉ giữa các loại đất khác nhau mà ngay cùng một loại đất nhưng khác về địa hình, thảm phủ hoặc phương thức sử dụng cũng biến động không giống nhau. Trong các nhóm đất phân bố ở huyện Ea Kar, có địa hình đồi thoải, độ phì mức trung bình, đây là loại đất tốt thích hợp với nhiều loại cây công nghiệp lâu năm có giá trị kinh tế cao.

    DOI: https://doi.org/10.71254/gyv8vx47
  • ĐÁNH GIÁ TÍNH BỀN VỮNG CỦA MỘT SỐ ĐIỂM DU LỊCH DỰA VÀO CỘNG ĐỒNG TẠI TỈNH HÒA BÌNH

    Abstract : 14 PDF: 12
    Đặng Văn Hà, Nguyễn Thị Yến, Nguyễn Thu Trang
    136-147

    Du lịch dựa vào cộng đồng là hình thức kinh doanh du lịch dựa vào tài nguyên thiên nhiên và đặc điểm văn hóa địa phương, đang có xu hướng phát triển mạnh ở những cộng đồng dân cư miền núi những năm gần đây. Bên cạnh những mặt tích cực đạt được về kinh tế, bảo tồn các giá trị văn hóa và bản sắc dân tộc, hoạt động khai thác phát triển du lịch dựa vào cộng đồng khó tránh khỏi những tác động tiêu cực, dẫn đến phát triển thiếu bền vững. Kết quả nghiên cứu hoạt động du lịch cộng đồng tại xã Chiềng Châu, huyện Mai Châu và xã Phong Phú, huyện Tân Lạc, tỉnh Hòa Bình cho thấy, hàng năm tổng lượt khách du lịch đến 2 xã khoảng 15.000 lượt khách (trong đó 80% là khách du lịch quốc tế) và thu nhập bình quân ở 2 xã đạt 40 triệu đồng/người/năm. Nhóm nghiên cứu đã xây dựng được bộ tiêu chí đánh giá tính bền vững của các điểm du lịch dựa vào cộng đồng với 4 tiêu chí lớn (kinh tế, văn hóa – xã hội, môi trường, cộng đồng và phát triển du lịch) tương ứng với điểm bền vững 75,20 - 74,03; 75,38 - 76,28; 56,23 - 61,25; 55,48 - 56,57 và 12 tiêu chí thành phần. Trong đó điểm đánh giá các thang đo một số tiêu chí thành phần đang ở mức không tốt như ảnh hưởng của hiện tượng bê tông hóa (15,16), khả năng sử dụng tiếng Anh (32,74), giao lưu văn hóa với khách du lịch (37,59), hỗ trợ của Nhà nước (30,51). Điểm thang đo một số tiêu chí thành phần được đánh giá rất tốt như bảo tồn tiếng dân tộc, nói và viết chữ Quốc ngữ, duy trì lễ hội truyền thống, bảo vệ rừng và cải tạo nhà cửa… Kết quả nghiên cứu này, có thể mở rộng áp dụng để đánh giá các mô hình du lịch dựa vào cộng đồng tại các địa bàn khác.

    DOI: https://doi.org/10.71254/jmjger11
  • PHÂN TÍCH ẢNH HƯỞNG CÁC YẾU TỐ ĐẦU VÀO ĐẾN NĂNG SUẤT CÀ PHÊ ARABICA TẠI TỈNH LÂM ĐỒNG

    Abstract : 6 PDF: 7
    Nguyễn Thị Tươi, Nguyễn Phú Son
    148-153

    Nghiên cứu được thực hiện nhằm phân tích ảnh hưởng của các yếu tố đầu vào đến năng suất cà phê Arabica của các nông hộ tại Lâm Đồng. Số liệu được thu thập thông qua khảo sát 200 nông hộ tại bốn khu vực Đà Lạt, Lạc Dương, Lâm Hà và Đơn Dương của tỉnh Lâm Đồng kết hợp với tham vấn chuyên gia (KIP). Nghiên cứu sử dụng phương pháp thống kê mô tả và ước lượng hàm Cobb-Douglas. Kết quả nghiên cứu cho thấy nông hộ sản xuất cà phê Arabica với quy mô nhỏ, trung bình chỉ có 1,2 ha. Hầu hết các nông hộ vẫn canh tác theo phương thức truyền thống chưa quản lý tốt việc sử dụng phân bón và thuốc BVTV. Các khoản chi phí chính trong sản suất cà phê Arabica của nông hộ là chi phí lao động, sau đó đến chi phí về phân bón và thuốc BVTV. Năng suất cà phê Arabica của các nông hộ tại Lâm Đồng chịu ảnh hưởng của các yếu tố đầu vào là: phân bón, công lao động, diện tích canh tác cà phê, tuổi của cây cà phê và tham gia tập huấn. Trong đó yếu tố phân bón, công lao động và tuổi của cây cà phê có tỷ lệ thuận với năng suất cà phê, còn yếu tố diện tích canh tác cà phê và tham gia tập huấn thì ngược lại. Riêng yếu tố về thuốc BVTV và mật độ trồng cà phê thì ảnh hưởng không có ý nghĩa thống kê.

    DOI: https://doi.org/10.71254/64rs8q60
  • PHÁT TRIỂN KINH TẾ HỘ NÔNG DÂN TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN LẠC SƠN, TỈNH HOÀ BÌNH

    Abstract : 10 PDF: 13
    Xa Thị Thông, Đoàn Thị Hân
    154-162

    Kinh tế hộ nông dân là hình thức tổ chức sản xuất cơ sở trong nông nghiệp. Phát triển kinh tế hộ nông dân tại huyện Lạc Sơn có ý nghĩa quan trọng về mặt kinh tế, xã hội và môi trường. Từ mục tiêu của nghiên cứu là phân tích thực trạng phát triển kinh tế hộ nông dân trên địa bàn huyện Lạc Sơn, tỉnh Hoà Bình, theo kết quả khảo sát có sự chênh lệch lớn về khoản vốn đầu tư, về cơ cấu nguồn thu từ hoạt động sản xuất nông nghiệp, về các khoản thu khác ngoài nông lâm nghiệp giữa các nhóm hộ giàu, khá và nghèo, cận nghèo. Ngoài ra, do các khoản chi phí cho sinh hoạt lớn nên phần tích luỹ bình quân các nhóm hộ nhỏ hơn 10% thu nhập. Trong thời gian qua, bên cạnh những thay đổi tích cực, phát triển kinh tế hộ cũng còn hạn chế như chưa phát huy được hết tiềm năng phát triển của địa phương, tiềm năng của chính các hộ nông dân,…Để phát triển kinh tế hộ nông dân trên địa bàn huyện Lạc Sơn cần thực hiện đồng bộ nhiều giải pháp được xây dựng từ những thực trạng phát triển tại địa phương.

    DOI: https://doi.org/10.71254/8arehd39