ĐA DẠNG KHU HỆ THÚ LINH TRƯỞNG TẠI NÚI CHỨA CHAN, HUYỆN XUÂN LỘC, TỈNH ĐỒNG NAI

Các tác giả

  • Nguyễn Hải Hà, Lê Việt Dũng, Nguyễn Văn Dũng, Tôn Hà Quốc Dũng, Nguyễn Ngọc Phượng, Đặng Hữu Giang, Vũ Mạnh Đàm, Ông Vĩnh An, Trần Đình Anh

DOI:

https://doi.org/10.71254/0s927011

Abstract

Chua Chan mountain contains about 1,792.25 ha of natural forest. From 2018 to 2020, we conducted a study to identify the primate fauna in the area. Our results showed that two families with five primate species occur in Chua Chan mountain, including Cercopithecidae (3 species) and Loridae (1 species). Especially, we also determined that Yellow Southern - Cheeked Gibbon (Nomascus gabriellae) is locally extinct in the area. For the richness indexes (A%), Black - Shanked douc langur (Pygathrix nigripes) and Crab - Eating macaque (Macaca fascicularis) are assessed as the highest (+++) and Southern Pig-Tailed macaque (Macaca leonina) is listed as medium (++).  Meanwhile, Pygmy loris (Nycticebus pygmaeus) shows the lowest value (+). The highest search performance index of Black - Shanked douc langur is the highest, while, the lowest is Slow loris. The density of  Black - Shanked douc langur density has been estimated to be 1.3130 individuals/ha - the highest among occurred primate species, whereas and the lowest density is Slow loris at 0.0585 individuals/ha. The primate fauna of Chua Chan mountain is assessed with high diversity in the number of families, families, and species. Our study also confirmed four main habitats of primate species in the area, including (Shrubs, vines (SC1); Mixed wood - bamboo Forest (SC2); Forests are evergreen broad - leaved forests  (SC3); Natural wood forest habitat of rocky mountains Broad leaves evergreen medium (SC4)). Additionally, the study has proposed 4 urgent solution groups for conserving primates in Chua Chan mountain.

Keywords:

Black - Shanked douc langur, Crab - eating macaque, Chua Chan, Slow loris, Southern pig - tailed macaque, Primates.

Tóm tắt

Núi Chứa Chan có tổng diện tích rừng tự nhiên khoảng 1.792,25 ha. Kết quả nghiên cứu từ năm 2018 - 2020 đã xác định được tại khu vực nghiên cứu có 4 loài Linh trưởng thuộc 1 Bộ, 2 Họ gồm: Họ Khỉ có 3 loài; họ Cu li có 1 loài; đặc biệt loài Vượn má hung đã xác định tuyệt chủng cục bộ; chỉ số phong phú (A%) của loài Chà vá chân đen, Khỉ đuôi dài xếp (+++), Khỉ đuôi lợn xếp (++), Cu li nhỏ hiếm gặp xếp (+); hiệu suất tìm kiếm cao nhất loài Chà vá chân đen (0,05791), Khỉ đuôi dài (0,03143) và thấp dần ở Khỉ đuôi lợn (0,00827), nhỏ nhất Cu li nhỏ (0,00165); mật độ con/ha diện tích toàn khu vực xếp thứ nhất Chà vá chân đen (0,0585), Khỉ đuôi dài (0,0320), Khỉ đuôi lợn (0,0083) và thấp nhất là Cu li nhỏ (0,0016); mật độ con/ha diện tích điều tra xếp thứ nhất Chà vá chân đen  (1,3130), Khỉ đuôi dài (0,7153), Khỉ đuôi lợn (0,1875) và thấp nhất là Cu li nhỏ (0,0373). Khu hệ thú Linh trưởng ở núi Chứa Chan khá đa dạng về số bộ, họ và loài. Xác định được 4 dạng sinh cảnh chính nơi có phân bố của các loài Linh trưởng gồm; 1- Sinh cảnh cây bụi, dây leo (SC1); 2- Sinh cảnh rừng tự nhiên hỗn giao gỗ - tre nứa (SC2); 3 - Sinh cảnh rừng gỗ tự nhiên núi đất lá rộng thường xanh đang phục hồi (SC3); 4 - Sinh cảnh rừng gỗ tự nhiên núi đá lá rộng thường xanh trung bình (SC4). Trong đó 3 sinh cảnh (2, 3, 4) là quan trọng nhất đối với các loài thú Linh trưởng. Đề xuất được 4 nhóm giải pháp cấp thiết cần cho bảo tồn các loài Linh trưởng tại núi Chứa Chan.

Từ khóa:

Chà vá chân đen, núi Chứa Chan, Cu li nhỏ, Khỉ đuôi dài, Khỉ đuôi lợn, Linh trưởng.

Tải xuống

Ngày nhận bài:

25-08-2026

Ngày nhận bài sửa:

30-10-2026

Ngày duyệt đăng:

30-10-2026

Ngày xuất bản:

15-07-2021

Title:

BIODIVERSITY OF PRIMATES IN CHUA CHAN MOUNTAINT XUAN LOC DISTRICT, DONG NAI PROVINCE
Cách trích dẫn
ĐA DẠNG KHU HỆ THÚ LINH TRƯỞNG TẠI NÚI CHỨA CHAN, HUYỆN XUÂN LỘC, TỈNH ĐỒNG NAI. (2021). Tạp Chí Nông nghiệp Và Môi trường, 13, 100-108. https://doi.org/10.71254/0s927011
Bài viết

Các trích dẫn

ĐA DẠNG KHU HỆ THÚ LINH TRƯỞNG TẠI NÚI CHỨA CHAN, HUYỆN XUÂN LỘC, TỈNH ĐỒNG NAI. (2021). Tạp Chí Nông nghiệp Và Môi trường, 13, 100-108. https://doi.org/10.71254/0s927011
Lượt xem
6
Lượt tải
6