NUÔI ỐC HƯƠNG (Babylonia areolata, Linh 1807) DÙNG THỨC ĂN CÔNG NGHIỆP TRONG BỂ TÁI SỬ DỤNG NƯỚC
DOI:
https://doi.org/10.71254/67yzmd79Abstract
This paper reports the daily growth rate (DGR), survival rate (SR), feed conversion rate (FCR), productivity and economic impact analysis of growing out Babylon snails using formulated feed in recycling water tanks (RAS). Juveniles at size of 0.05 g were stocked at 8150 ind./m2 in three tanks each had 54.3 m2. The juveniles were fed with a combination of trashfish and formulated feed in the first three weeeks. In the following periods, they were fed two meals with formulated feed at 1,2-0,8% body weight per meal. Water from culture tanks was treated by biological filters and daily reused up to 90%. The environmental parameters recorded were tempeature: 26.2-30.4oC; salinity: 32.2-37.2‰; pH: 7.6-8.2; DO: 5.2-5.6 mg/l; alkalinity: 102.2-132.1 mg/l; TAN ≤ 0.36 mg/l; NO2-N ≤ 0.08 mg/l; NO3-N < 4.84 mg/l. After 5 month trial, the snails reached to a body size of 5.6 ± 0.11 g; DGR: 0.039 ± 0.001 g/day; SR: 75.61 ± 2.01%; productivity: 11.41 ± 0.33 kg/m2; FCR: 0.83 ± 0.05. The SR was similar where as DGR was slower than those snails were grown using trashfish in a same RAS. For each crop, interest rate was 25.29 – 58.22%; and payback period was 1.71-0.80 years depending on price. The results indicate a potential to apply this model culture in commercial scale.
Keywords:
Babylonia, growth, formulated feed, recirculating, tank.Tóm tắt
Bài báo trình bày sự tăng trưởng (DGR), tỉ lệ sống (SR), FCR, năng suất và hiệu quả kinh tế của mô hình nuôi ốc hương dùng thức ăn công nghiệp trong bể tái sử dụng nước (RAS). Con giống ốc hương cỡ 0,05 g/con được nuôi ở mật độ 8150 con/m2 trong 3 bể xi măng, mỗi bể có diện tích đáy 54,3 m2. Trong 3 tuần đầu cho ốc ăn tôm tươi kết hợp thức ăn viên. Trong thời gian sau cho ốc ăn thức ăn viên theo chế độ 2 lần/ngày với lượng 1,2-0,8% khối lượng thân/lần. Hàng ngày nước trong bể nuôi được tái sử dụng trên 90% nhờ bể lọc sinh học có vật liệu lọc là xác cành san hô và đá cuội. Các chỉ số môi trường nước: nhiệt độ: 26,2-30,4oC; độ mặn: 32,2-37,2‰; pH: 7,6-8,2; DO: 5,2-5,6 mg/l; độ kiềm: 102,2-132,1 mg/l; TAN: ≤ 0,36 mg/l; NO2-N: ≤ 0,08 mg/l; NO3-N ≤ 4,84 mg/l. Sau 5 tháng nuôi, ốc đạt 5,6 ± 0,11 g/con; DGR: 0,039 ± 0,001 g/ngày; SR: 75,61 ± 2,01%; năng suất: 11,41 ± 0,33 kg/m2; FCR: 0,83 ± 0,05. Trong khi SR (%) của ốc tương đương thì DGR (g/ngày) chậm hơn so với mô hình nuôi dùng thức ăn tươi. Tính cho mỗi vụ nuôi, lãi suất đạt 25,29 - 58,22%; thời gian hoàn vốn là 1,71- 0,80 năm tùy thuộc giá bán sản phẩm. Kết quả đạt được cho thấy triển vọng nuôi ốc hương trong bể tái sử dụng nước (RAS) dùng thức ăn viên công nghiệp.








