Số 10 (2021)

					Xem Số 10 (2021)
Đã Xuất bản: 31-05-2021

Bài viết

  • KHẢO SÁT SỰ DI TRUYỀN TÍNH TRẠNG QUẢ Ở THẾ HỆ LAI F1-F2 CỦA TỔ HỢP LAI ỚT CAY CHỈ THIÊN VÀ CHỈ ĐỊA

    Abstract : 8 PDF: 9
    Trần Ngọc Chi, Trương Trọng Ngôn
    3-10

    Nhằm ứng dụng phương pháp lai vào công tác chọn tạo giống ớt mới, hai giống ớt nhập nội thuần chủng có dạng quả khác nhau gồm giống ớt cay (mẹ - quả nhỏ, chỉ thiên, trơn) và ớt Sừng (bố - quả to, chỉ địa, nhăn) được dùng lai tạo và khảo sát bước đầu sự thay đổi về mặt di truyền dựa vào sự thay đổi một số đặc tính nông học trên quả. Kết quả lai tạo và phân tích các thông số thống kê cho thấy ở thế hệ lai F1 cho ra 100% quả có kích thước trung bình so với bố và mẹ, có đặc điểm chỉ địa giống với giống Sừng và quả ít nhăn hơn so với giống Sừng. Khi cho F1 tự thụ để thu các cây F2, qua kết quả khảo sát cho thấy các tính trạng chất lượng như dạng quả tuân theo quy luật phân li trội không hoàn toàn 1:2:1 với 1 quả dài: 2 quả trung bình: 1 quả ngắn. Tính trạng hướng quả phân li theo tỉ lệ 3:1 với 3 chỉ địa giống Sừng và 1 chỉ thiên giống Hiểm, tính trạng độ cong của quả tuân theo tỉ lệ 3:1 với 3 quả dạng cong và 1 quả dạng thẳng. Như vậy ở các tính trạng chất lượng phần lớn các cá thể thế hệ F2 có sự thể hiện kiểu hình giống với cây bố ớt Sừng. Kết quả quan sát các tính trạng số lượng ở thế hệ F2 cho thấy 3 tính trạng chiều dài quả, khối lượng quả và số hạt trên quả có hệ số và tiến bộ di truyền ở mức cao. Vì vậy để chọn lọc các cá thể ở F2 dựa trên kiểu hình ở quả thì có thể dựa vào các tính trạng chiều dài quả, khối lượng quả và số hạt trên quả để chọn lọc ra các cá thể phù hợp để làm nguồn vật liệu cho các bước chọn lọc tiếp theo.

    DOI: https://doi.org/10.71254/y85gmd24
  • KHẢO SÁT KHẢ NĂNG KHÁNG VI KHUẨN RALSTONIA SOLANACEARUM GÂY BỆNH HÉO XANH Ở THỰC VẬT BẰNG NANO BẠC

    Abstract : 14 PDF: 15
    Nguyễn Phạm Anh Thi, Trần Thị Ngọc Châu, Trương Thị Tuyết Ngân, Nguyễn Tấn Tài
    11-15

    Vật liệu nano bạc đã được nghiên cứu và công bố là có tính kháng khuẩn cao và đã được ứng dụng để điều trị bệnh trong y học. Nghiên cứu được thực hiện với ba nghiệm thức nano bạc được khử trong dịch chiết từ ba loại thực vật là Ngũ Sắc, Kim Quýt, Hương Nhu nhằm mục đích khảo sát khả năng kháng vi khuẩn Ralstonia solanacearum – một loài vi khuẩn gây bệnh héo xanh ở thực vật. Với phương pháp khoanh giấy thấm và đo quang phổ tại 4 nồng độ nano bạc 20, 40, 60, 80 ppm cả ba nghiệm thức đều cho khả năng ức chế sự phát triển của 3 dòng vi khuẩn Ralstonia solanacearum RS5, RS7, RS9 với giá trị đường kính vòng vô khuẩn (ĐKVVK) cao nhất ở nồng độ 80 ppm lần lượt ở các nghiệm thức là Ngũ Sắc: ĐKVVK dao động từ 7 – 11,3 mm; Kim Quýt: ĐKVVK dao động từ 7 – 12,6 mm; Hương Nhu: ĐKVVK dao động từ 4,3 – 4,6 mm. 

    DOI: https://doi.org/10.71254/arak1b66
  • HIỆU QUẢ CỦA VI KHUẨN HÒA TAN LÂN RHODOBACTER SPHAEROIDES ĐẾN SINH TRƯỞNG VÀ NĂNG SUẤT LÚA TRÊN ĐẤT MẶN HỒNG DÂN-BẠC LIÊU TRONG ĐIỀU KIỆN NHÀ LƯỚI

    Abstract : 7 PDF: 7
    Nguyễn Quốc Khương, Trần Công Minh, Trần Ngọc Hữu, Lê Vĩnh Thúc, Nguyễn Hồng Huế, Trần Chí Nhân, Phạm Duy Tiễn, Lý Ngọc Thanh Xuân
    16-23

    Nghiên cứu được thực hiện nhằm mục tiêu (i) xác định hiệu quả của chế phẩm vi sinh dạng lỏng chứa vi khuẩn quang dưỡng không lưu huỳnh màu tía (PNSB) có chức năng hòa tan lân đến sinh trưởng và năng suất lúa trong điều kiện mặn và (ii) xác định được chế phẩm vi sinh giảm lượng phân lân vô cơ trên đất nhiễm mặn nhưng vẫn đảm bảo năng suất hạt lúa. Thí nghiệm hai nhân tố được bố trí theo khối hoàn toàn ngẫu nhiên với nhân tố thứ nhất là bốn mức độ bón lân (0, 50, 75 và 100% lân so với khuyến cáo) và nhân tố thứ hai là vi khuẩn quang dưỡng không lưu huỳnh màu tía có khả năng hòa tan lân (không bổ sung vi khuẩn, chứa dòng đơn vi khuẩn R. sphaeroides W01, chứa dòng đơn vi khuẩn R. sphaeroides W14, chứa hai dòng đơn vi khuẩn R. sphaeroides W01 và W14) với bốn lần lặp lại. Kết quả thí nghiệm cho thấy nghiệm thức bổ sung dòng đơn vi khuẩn R. sphaeroides W01, R. sphaeroides W14 hoặc kết hợp cả hai dòng vi khuẩn R. sphaeroides W01 và W14 đạt chiều cao cây, chiều dài bông, số bông trên chậu và số hạt chắc trên bông cao hơn nghiệm thức không bổ sung vi khuẩn. Ngoài ra, bón chế phẩm vi sinh dạng lỏng chứa vi khuẩn dòng đơn hoặc hỗn hợp góp phần giảm đến 50% phân lân, nhưng vẫn đảm bảo năng suất lúa tương đương bón 100% phân lân theo khuyến cáo. 

    DOI: https://doi.org/10.71254/ep2nbm32
  • NGHIÊN CỨU THỜI VỤ THÍCH HỢP CHO GIỐNG ĐẬU TƯƠNG ĐT32 TRONG VỤ ĐÔNG TRÊN ĐẤT ƯỚT TẠI HÀ NỘI

    Abstract : 7 PDF: 7
    Phạm Thị Xuân, Nguyễn Thanh Tuấn
    24-29

    Nghiên cứu xác định thời vụ gieo trồng thích hợp cho giống đậu tương mới ĐT32 được thực hiện trong vụ đông năm 2018 và vụ đông năm 2019 tại huyện Mỹ Đức và huyện Phúc Thọ, thành phố Hà Nội. Thí nghiệm được tiến hành với 5 công thức thời vụ (TV), bao gồm TV1: gieo ngày 15/9; TV2: gieo ngày 22/9; TV3: gieo ngày 29/9; TV4: gieo ngày 6/10 và TV5: gieo ngày 13/10. Các thí nghiệm được bố trí theo khối ngẫu nhiên đầy đủ (CRBD) với 3 lần nhắc lại. Kết quả nghiên cứu cho thấy, thời vụ gieo trồng thích hợp nhất cho giống đậu tương ĐT32 là từ 15 - 29/9 (TV1, TV2 và TV3). Ở khung thời vụ này, năng suất thực thu của giống đậu tương ĐT32 đạt từ 2,44 - 2,53 tấn/ha ở Mỹ Đức và từ 2,48 - 2,63 tấn/ha ở Phúc Thọ. 

    DOI: https://doi.org/10.71254/67n9pd55
  • KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU PHỤC TRÁNG GIỐNG CỦ CẢI HẠT ƯƠM QUẢNG YÊN, QUẢNG NINH

    Abstract : 8 PDF: 8
    Phạm Hùng Cương, Hoàng Thị Hải, Đới Hồng Hạnh
    30-34

    Giống Cải củ hạt ươm Quảng Yên đã phục tráng có một số ưu điểm nổi trội là có thời gian từ khi gieo đến khi thu hạt là 110-115 ngày, số lá khoảng 12-13 lá, bộ lá khỏe, củ có dạng thuôn nhọn, số mắt củ ít, thịt củ trắng mịn ngon, rễ con nhỏ, vai củ trắng, đường kính củ khoảng 3,5 cm, khối lượng củ trung bình 178-182 g, hoa màu tím nhạt, hạt màu nâu đỏ, có thể trồng gần như quanh năm. Cải củ hạt ươm Quảng Yên ít bị sâu bệnh và sinh trưởng được ở điều kiện bất thuận như thiếu nước, ít phân, có thể trồng ở vụ muộn vẫn cho thu hoạch tốt và ra hoa muộn. Áp dụng phương pháp chọn lọc quần thể với 4 vụ chọn lọc tại Quảng Yên, Quảng Ninh và Mộc Châu, Sơn La từ 2017 – 2019 đã phục tráng giống cải củ hạt ươm Quảng Yên ổn định về mặt di truyền, sinh trưởng tốt, chống chịu sâu bệnh khá. Kết quả đã khôi phục được giống gốc với nhiều đặc điểm vượt trội góp phần phát triển sản xuất tại Quảng Yên, Quảng Ninh.

    DOI: https://doi.org/10.71254/qbzd7d59
  • ẢNH HƯỞNG CỦA LIỀU LƯỢNG PHÂN ĐẠM ĐẾN SINH TRƯỞNG VÀ NĂNG SUẤT TINH DẦU SẢ JAVA (Cymbopogon winterianus Jawitt) TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

    Abstract : 14 PDF: 14
    Nguyễn Thị Hồng HonDa, Phạm Thị Minh Tâm, Nguyễn Phạm Hồng Lan, Trần Thanh Di, Nguyễn Thiện Dương
    35-40

    Cây sả Java được trồng phổ biến ở Việt Nam để sử dụng cho công nghiệp và dược liệu. Với sự gia tăng của nhu cầu sả nguyên liệu, việc sử dụng phân bón, đặc biệt phân đạm là một trong những biện pháp kỹ thuật để tăng sản lượng sả. Một thí nghiệm đơn yếu tố đã được bố trí theo kiểu hoàn toàn ngẫu nhiên, 3 lần lặp lại để tìm hiểu ảnh hưởng của liều lượng phân đạm bón đến sinh trưởng của cây, năng suất lá và năng suất tinh dầu sả Java. Sáu nghiệm thức bón đạm (kg N/ha) bao gồm: 90 (đối chứng), 120, 150, 180, 210 và 240. Nền phân chung trong thí nghiệm (tính cho 1 ha) là 20 tấn phân chuồng, 60 kg P2O5 và 60 kg K2O. Kết quả cho thấy khi bón 120 kg N/ha cho cây sả sinh trưởng tốt, năng suất lá đạt cao nhất (15,66 tấn/ha/3 đợt), năng suất tinh dầu đạt cao nhất (173,46 kg/ha/3 đợt). 

    DOI: https://doi.org/10.71254/wttwxg42
  • ĐÁNH GIÁ HIỆU LỰC CỦA PHÂN HỮU CƠ ĐỐI VỚI CÂY NGÔ TRỒNG TRÊN ĐẤT CÁT BIỂN TỈNH NGHỆ AN

    Abstract : 7 PDF: 8
    Nguyễn Thị Bích Thủy, Đào Châu Thu, Cao Việt Hưng
    41-49

    Mục tiêu nghiên cứu là đánh giá hiệu lực của phân hữu cơ phối hợp với phân vô cơ đến năng suất và hiệu quả kinh tế sản xuất ngô, cũng như đến tính chất hóa học đất cát biển trồng ngô ở huyện Nghi Lộc, tỉnh Nghệ An. Thí nghiệm được bố trí theo khối ngẫu nhiên hoàn chỉnh với 3 lần nhắc lại. Thí nghiệm gồm 7 công thức: CT1 (100% phân vô cơ N, P, K- Đối chứng); CT2 (thay thế 10% N vô cơ bằng N trong phân hữu cơ + lượng N, P, K vô cơ còn lại); CT3 (thay thế 20% N vô cơ bằng N trong phân hữu cơ + lượng N, P, K vô cơ còn lại); CT4 (thay thế 30% N vô cơ bằng N trong phân hữu cơ + lượng N, P, K vô cơ còn lại); CT5 (100% N, P, K vô cơ + 10% N từ phân hữu cơ); CT6 (100% N, P, K vô cơ + 20% N từ phân hữu cơ); CT7 (100% N, P, K vô cơ+ 30% N từ phân hữu cơ). Kết quả thí nghiệm cho thấy bón phối hợp phân hữu cơ và vô cơ trong canh tác ngô đã ảnh hưởng đến các chỉ tiêu nông học và tính chất hóa học đất cát biển ở hai xã: Nghi Thạch và Nghi Thái- huyện Nghi Lộc. Bón bổ sung 30% N từ phân hữu cơ cùng với 100% phân vô cơ N, P, K (CT7) đã tăng năng suất ngô và các chỉ tiêu hóa học đất cao hơn so với các mức bón phân khác có ý nghĩa thống kê (p<0,05). Hiệu quả kinh tế ở mức bón trên đạt lợi nhuận cao nhất và cao hơn khoảng 1 triệu đồng/ha so với mức bón bổ sung 20% N từ phân hữu cơ + 100% phân vô cơ N, P, K (CT6).

    DOI: https://doi.org/10.71254/9hknrj59
  • NHÂN GIỐNG TRÀ HOA VÀNG (Camellia chrysantha) BA CHẼ, QUẢNG NINH BẰNG PHƯƠNG PHÁP GIÂM HOM

    Abstract : 12 PDF: 18
    Đặng Quang Bích, Vương Thị Thúy Hằng
    50-57

    Trà hoa vàng Ba Chẽ (Camellia chrysantha) là cây dược liệu quý, chứa nhiều hợp chất có hoạt tính dược lý có khả năng chống viêm, phòng và điều trị ung thư. Kết quả nghiên cứu đã xây dựng thành công quy trình giâm hom cây trà hoa vàng Ba Chẽ, Quảng Ninh. Kết quả nghiên cứu cho thấy, hóa chất khử trùng tốt nhất cho giá thể và hom giâm là Viben C, tiếp tục sử dụng dung dịch α - NAA ở nồng độ 2.000 ppm để xử lý hom giâm nhằm kích thích tạo rễ. Vụ thu là thời vụ tốt nhất để thực hiện quy trình giâm hom, với tỷ lệ hom giâm ra rễ đạt 60%, tỷ lệ bật chồi của hom giâm là 56,6% sau 90 ngày giâm hom. Sử dụng phân bón tổng hợp NPK (20 : 20 : 20) Grow More để bón cho cây bầu trong vườn ươm với liều lượng 2 lít/1 m2 (0,5%) với tần suất tưới là 5 - 10 ngày một lần là phù hợp cho cây con sinh trưởng, giảm chi phí sản xuất. Quy trình nhân giống bằng phương pháp giâm hom cây trà hoa vàng Camellia chrysantha có thể được áp dụng vào thực tế nhân giống và bảo tồn giống trà hoa vàng tại Ba Chẽ - Quảng Ninh.

    DOI: https://doi.org/10.71254/9mvb6c20
  • ẢNH HƯỞNG CỦA NHIỆT ĐỘ MÔI TRƯỜNG ĐẾN CHẤT LƯỢNG CÁ NGỪ ĐẠI DƯƠNG PHI LÊ CẤP ĐÔNG BẰNG CHẤT TẢI LẠNH LỎNG

    Abstract : 7 PDF: 8
    Nguyễn Thị Minh Nguyệt, Phạm Anh Tuấn, Phạm Thị Thu
    58-63

    Mục đích của nghiên cứu là đánh giá ảnh hưởng của nhiệt độ cấp đông tới cấu trúc mô tế bào và tính chất hóa lý của cá ngừ đại dương (Thunnus obesus) phi lê. Các thí nghiệm tiến hành cấp đông đến khi tâm sản phẩm đạt -18º0C bằng chất tải lạnh lỏng (điều chế từ ethanol). Nhiệt độ cấp đông được khảo sát là -250C, -300C và -35ºº0C; chỉ tiêu đánh giá: thời gian cấp đông, chất lượng của sản phẩm cá ngừ ngay sau cấp đông (hình ảnh cấu trúc mô tế bào sản phẩm, màu sắc, cảm quan và tỷ lệ nước tách ra khi rã đông) và trong quá trình bảo quản 6 tháng (NH3, histamin, pH). Kết quả cho thấy nhiệt độ cấp đông có ảnh hưởng đáng kể đến thời gian cấp đông, mức độ hình thành tinh thể đá trong cấu trúc mô tế bào và chất lượng hoá lý của sản phẩm. Tại nhiệt độ -35º0C cho thời gian cấp đông đạt 17,5 phút, tỷ lệ nước tách ra sau rã đông là 4,05%, mức biến đổi màu sắc ∆E là 17,994; điểm cảm quan (QIM) đạt 1,0 với mức chất lượng cảm quan tốt nhất: cơ thịt đỏ đặc trưng, có độ sáng, mùi tanh đặc trưng của cá tươi (mùi rong biển), thịt rắn chắc, đàn hồi, dẻo; các mầm tinh thể đá nhỏ và đồng nhất, duy trì được cấu trúc tế bào không bị phá vỡ; chỉ tiêu chất lượng của cá ngừ sau 6 tháng bảo quản ở -20 ± 2˚C là: NH3 là 5,14 mg/100 g; histamin không phát hiện, pH thay đổi không có ý nghĩa ở mức  α ≤ 0,05.

    DOI: https://doi.org/10.71254/pyv15d79
  • ẢNH HƯỞNG CỦA NHIỆT ĐỘ VÀ THỜI GIAN SẤY LÊN HÀM LƯỢNG PHENOLIC VÀ β-CAROTEN CỦA SẢN PHẨM BỘT LÊKIMA

    Abstract : 12 PDF: 13
    Nguyễn Hoàng Anh, Huỳnh Thái Nguyên, Nguyễn Thị Thu Hà
    64-70

    Lêkima là một loại trái cây được biết đến với hàm lượng dinh dưỡng cao, đặc biệt là các hợp chất có hoạt tính sinh học như phenol, β-carotene, vitamin C. Thí nghiệm được thực hiện nhằm mục đích tạo ra sản phẩm bột lêkima được dùng như là một loại thực phẩm chức năng, dùng trong ngành thực phẩm: mì, bánh hoặc sản phẩm đồ uống nhằm mục đích tăng giá trị dinh dưỡng và mùi vị. Trong nghiên cứu này, đã tập trung đánh giá ảnh hưởng của nhiệt độ (60°C, 70°C, 80°C, 90°C) và thời gian sấy (4 giờ, 5 giờ, 6 giờ, 7 giờ) khác nhau đến chất lượng sản phẩm thông qua các chỉ số hàm lượng phenol, β-caroten, vitamin C. Kết quả của nghiên cứu cho thấy, lêkima được chọn cho quy trình nghiên cứu có độ chín sau 3 ngày thu hoạch có hàm lượng tannin 1,820 mg/g phù hợp cho sản xuất bột lêkima. Nhiệt độ sấy thích hợp là 77°C, trong 4 giờ, thu được sản phẩm có độ ẩm tối ưu < 13%, 2,39 mgGAE/g hàm lượng phenol, 0,439 mg/g β-caroten; 0,341 mg/g vitamin C và 187,46 mg/ml DPPH cho ra sản phẩm bột lêkima đạt yêu cầu. 

    DOI: https://doi.org/10.71254/kpyehf13
  • ẢNH HƯỞNG CỦA CÁC YẾU TỐ DINH DƯỠNG VÀ MÔI TRƯỜNG ĐẾN QUÁ TRÌNH LÊN MEN SẢN XUẤT VANG TỪ QUẢ SIM (Rhodomyrtus tomentosa) 

    Abstract : 14 PDF: 12
    Hoàng Thị Lệ Thương
    71-76

    Từ dịch chiết quả sim và chủng nấm men Saccharomyces cerevisiae S5 (S. cerevisiae S5) được tuyển chọn từ dịch ép sim lên men tự nhiên có chọn lọc, các ảnh hưởng của môi trường và dinh dưỡng đến quá trình lên men vang sim đã được nghiên cứu. Kết quả thu được môi trường lên men thích hợp là dịch ép sim có bổ sung đường saccharomyces để có hàm lượng đường tổng 200 g/l, pH 4,0, men giống: 4,9 x 104 tế bào/1 ml, nhiệt độ lên men ở 28oC. Sau 14 ngày lên men thu được rượu vang sim có hàm lượng đường sót 3,80 g/l, acid tổng số 5,30 g/l, hàm lượng ethanol 12,50% v/v, hàm lượng tanin 0,30%, không phát hiện metanol, hàm lượng rượu bậc cao 328,32 mg/l, hàm lượng aldehyde 34,10 mg/l, hàm lượng ester 281,92 mg/l, điểm cảm quan đạt 17,5/20, đạt tiêu chuẩn vang Việt Nam (QCVN 6-3:2010/BYT).

    DOI: https://doi.org/10.71254/c148t747
  • BƯỚC ĐẦU ĐÁNH GIÁ KHẢ NĂNG XỬ LÝ NƯỚC THẢI LÀNG NGHỀ SẢN XUẤT BÚN VÀ BÁNH ĐA BỞI Bacillus licheniformis và Bacillus subtilis

    Abstract : 7 PDF: 8
    Nguyễn Thị Lâm Đoàn, Lê Thị Quỳnh Chi, Vũ Thị Huyền
    77-85

    Các làng nghề sản xuất bún, bánh đa phát triển trên khắp cả nước, đóng góp một phần không nhỏ vào nền kinh tế của đất nước. Tuy vậy, các làng nghề này cũng đang gây ra áp lực lớn đến môi trường. Kết quả nghiên cứu này đã chỉ ra chất lượng nước thải ở làng nghề chế biến bún Phú Đô, bánh đa Làng Me ngoại trừ chỉ tiêu Coliform là thấp hơn, tất cả các chỉ tiêu khác đều khá cao vượt nhiều lần so với quy chuẩn QCVN 40: 2011/BTNMT tại cột B. Cụ thể các chỉ tiêu TSS; COD; BOD5; Nts; Pts  lần lượt vượt số lần là 3,8 - 4,0; 10,9 - 16,2; 23,7 - 35,5; 2,0 - 2,2; 2,1. pH của các mẫu nước thải từ các làng nghề này đều thấp hơn nhiều so với tiêu chuẩn do quá trình ngâm gạo để lên men trong sản xuất. Chính vì vậy, với mục tiêu nâng cao hiệu quả xử lý nước thải của các làng nghề chế biến bún Phú Đô, bánh đa làng Me nghiên cứu đã sử dụng hai chủng Bacillus licheniformis NTB2.11 và Bacillus subtilis NTB5.7 có một số đặc tính sinh học tốt được phân lập từ nước thải bún Phú Đô để xử lý nước thải hai làng nghề này. Kết quả nghiên cứu cho thấy việc bổ sung hỗn hợp các chủng Bacillus licheniformis NTB2.11 và Bacillus subtilis NTB5.7 theo tỷ lệ 1:1 ở nồng độ 107CFU/mL cho kết quả xử lý tốt có 5/7 chỉ tiêu (pH, TSS, Nts, Pts, Coliform) sau 7 ngày xử lý đạt quy chuẩn loại B của QCVN40:2011/BTNMT. Tuy nhiên, do nồng độ các chất hữu cơ nhiễm trong nước thải đầu vào rất cao nên chỉ tiêu COD và BOD5 ở nước thải đầu ra tuy giảm nhiều nhưng vẫn còn cao vượt quy chuẩn từ 1,5 - 2,9 lần đối với COD và từ 3,4 - 7,0 lần đối với BOD5. Hiệu quả xử lý TSS, COD, BOD5, Nts, Pts, và Coliform cao hơn so với đối chứng không xử lý là 67,2 - 68,9%, 71,4 - 71,8%, 75,9 - 80%, 65,87- 68,7%, 66,2 - 68%, 57,4%. 

    DOI: https://doi.org/10.71254/4a6yjp14
  • NGHIÊN CỨU ẢNH HƯỞNG NỒNG ĐỘ VÀ ĐỘ DEACETYL ĐẾN KHẢ NĂNG TẠO MÀNG CỦA CHITOSAN TỪ VỎ TÔM

    Abstract : 7 PDF: 9
    Nguyễn Huỳnh Đình Thuấn, Lý Nguyễn Bình, Nguyễn Ngọc Tuấn
    86-92

    Nghiên cứu nhằm mục đích khảo sát các yếu tố ảnh hưởng đến khả năng tạo màng và tính chất của màng chitosan chiết rút từ vỏ tôm. Các yếu tố khảo sát bao gồm độ deacetyl của chitosan (70%, 80%, 90%), pH của dung dịch acid acetic hòa tan chitosan (3,6; 3,8; 4,0; 4,2; 4,4), nồng độ chitosan (0,5%; 0,75%; 1%; 1,25%; 1,5%). Hàm mục tiêu của quá trình khảo sát là khả năng hòa tan của chitosan, khả năng chịu lực kéo, độ dãn dài, mođun đàn hồi, tính thấm hơi nước qua màng và độ dày của màng chitosan để chọn thông số khảo sát tối ưu. Kết quả thu được dựa vào hàm mục tiêu trong quá trình khảo sát, chitosan độ deacetyl 70% tan tốt trong dung dịch acid acetic có pH = 3,6, chitosan độ deacetyl 80%, 90% tan tốt trong dung dịch acid acetic pH = 3,8. Nồng độ chitosan thích hợp nhất là 1% với cả ba độ deacetyl để tạo màng có khả năng chịu lực kéo, độ dãn dài, mô đun đàn hồi, tính thấm hơi nước qua màng tốt nhất và độ dày của màng trong khoảng 0,1 - 0,35 mm phù hợp làm màng bao thực phẩm. Từ kết quả nghiên cứu cho thấy có thể sử dụng chitosan là nguồn vật liệu để sản xuất màng bao thực phẩm, màng bao bảo quản rau quả.

    DOI: https://doi.org/10.71254/h5n0eb61
  • ĐÁNH GIÁ ĐA DẠNG DI TRUYỀN VÀ CẤU TRÚC QUẦN THỂ MỘT SỐ ĐÀN CÁ CHÉP Ở VIỆT NAM

    Abstract : 13 PDF: 14
    Vũ Thị Trang, Lưu Thị Hà Giang, Phạm Hồng Nhật, Lê Văn Khôi, Bùi Thị Ánh Nguyệt, Nguyễn Hữu Đức, Đặng Thị Lụa
    93-100

    Nghiên cứu này đánh giá đa dạng di truyền, cấu trúc quần thể, phát sinh loài của 7 đàn cá chép bao gồm: cá chép trắng Việt Nam (VN), cá chép chọn giống V1 (V1), cá chép vảy Hungary (HV), cá chép vàng Indonesia (IN), cá chép vảy Hungary đàn Tata (TAT), cá chép vảy Hungary đàn Szarvas (SZA) và cá chép Cộng hòa Séc (SE) dựa trên phân tích trình tự gen COI và D-loop. Kết quả chỉ ra rằng, đàn VN và V1 là đàn có đa dạng di truyền cao nhất trong khi các đàn HV, TAT, SZA, SE và IN có đa dạng di truyền thấp khi xét trên cả 2 gen COI và D-loop. Nghiên cứu đã xác định được 53 haplotype, trình tự các haplotype đã được công bố trên GenBank - NCBI, với mã số MW450991 - MW451003 (gen COI) và MW463062 - MW463101 (gen D-loop). Về sai khác di truyền, đáng chú ý nhất là sự sai khác di truyền xét trên gen COI giữa đàn SE với tất cả các đàn cá chép còn lại, đặc biệt là giữa SE và HV, giữa SE và SZA (đều có FST = 1), cho thấy không có sự chia sẻ về mặt di truyền giữa các đàn này. Kết quả phân tích AMOVA dựa trên gen COI cho thấy các đàn có cấu trúc quần thể rõ ràng do sự đóng góp đáng kể về khác biệt di truyền giữa các đàn. Cây phát sinh loài phân tử cho thấy mối quan hệ di truyền xa giữa SE và các đàn còn lại (xét trên gen COI) và mối quan hệ di truyền gần gũi của 7 đàn (xét trên gen D-loop). Nghiên cứu đã góp phần tạo cơ sở dữ liệu nguồn gen tham chiếu và phụ trợ cho các nghiên cứu cần thông tin về nguồn gen của một số đàn cá chép ở Việt Nam hiện nay, đồng thời phục vụ công tác chọn giống và bảo tồn nguồn gen.

    DOI: https://doi.org/10.71254/eq0ggn39
  • ĐÁNH GIÁ KHẢ NĂNG CUNG CẤP SINH KHỐI VÀ DINH DƯỠNG CỦA VI TẢO PHÙ DU VÀ BÁM ĐÁY TRONG RUỘNG LÚA BA VỤ Ở HUYỆN CHỢ MỚI, TỈNH AN GIANG

    Abstract : 6 PDF: 7
    Bùi Thị Mai Phụng, Nguyễn Tuấn Anh, Nguyễn Hữu Chiếm
    101-111

    Mục tiêu của nghiên cứu là tính tổng sinh khối vi tảo phù du và bám đáy trong ruộng lúa và lượng dinh dưỡng từ tảo cung cấp cho đất trồng lúa hàng năm. Nghiên cứu đã được thực hiện ở huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang từ năm 2016 đến 2017 và đã áp dụng các phương pháp như khảo sát đồng ruộng, phỏng vấn nông hộ, thu mẫu nước và tảo trong ruộng lúa. Phần mềm thống kê SPSS 20.0 được ứng dụng để xác định sự khác biệt về sinh khối tảo giữa các thời kỳ phát triển của cây lúa. Kết quả nghiên cứu cho thấy tảo cung cấp 194 kg sinh khối khô/ha/năm tương đương với 1,08 tấn sinh khối tươi/ha/năm, trong đó tảo đáy cung cấp 123 kg sinh khối khô/ha/năm và tảo phù du cung cấp 70,7 kg sinh khối khô/ha/năm. Lượng N, P và K tổng số trong tảo lần lượt là 1.766 mgN/kg, 1.054 mgP/kg và 6.749 mgK/kg. Lượng dinh dưỡng từ tảo cung cấp cho đất cao nhất vào vụ hè thu, sau là đông xuân và thu đông, tương ứng với 0,175 kgN – 0,086 kgP – 0,531 kgK, 0,191 kgN – 0,072 kgP – 0,471 kgK và 0,099 kgN – 0,039 kgP – 0,256 kgK/ha.

    DOI: https://doi.org/10.71254/emaw1n32
  • ỨNG DỤNG ẢNH VIỄN THÁM SPOT5 ĐỂ ƯỚC TÍNH SINH KHỐI, TRỮ LƯỢNG CÁC BON RỪNG NGẬP MẶN TẠI TỈNH CÀ MAU

    Abstract : 7 PDF: 8
    Nguyễn Thị Hà, Nguyễn Thị Hoa, Đặng Việt Hùng, Võ Minh Hoàn, Nguyễn Văn Hợp
    112-120

    Việc nghiên cứu sinh khối, các bon vẫn là một thử thách, đặc biệt là đối với những khu rừng đặc thù, khó tiếp cận trong đó có các khu rừng ngập mặn. Nghiên cứu này đã cung cấp được cơ sở dữ liệu và mô hình ước tính sinh khối, tích luỹ các bon của rừng ngập mặn dựa trên ảnh viễn thám SPOT 5 phục vụ công tác quản lý, phục hồi, duy trì và phát triển hệ sinh thái rừng ngập mặn. Với hai mục tiêu cụ thể là xây dựng được mô hình ước tính sinh khối rừng ngập mặn dựa trên dữ liệu thực địa và dữ liệu viễn thám (ảnh SPOT 5); thành lập được bản đồ sinh khối, bản đồ tích luỹ các bon của rừng ngập mặn tại khu vực nghiên cứu. Nghiên cứu đã sử dụng các phương pháp điều tra thực địa; giải đoán, phân tích lớp phủ dựa trên chỉ số NDVI; phân tích thống kê và kiểm định độ chính xác mô hình. Từ đó, đã xây dựng được mô hình ước tính sinh khối rừng có dạng có dạng: ln(TAGB) = exp(2,00613 – 0,0794042/NDVI3 với hệ số xác định (R2 = 0,85), SSR = 0,03, SEE = 0,03 và MAE = 0,02. Và thành lập được bản đồ sinh khối rừng ngập mặn tại khu vực tỉnh Cà Mau được phân cấp thành 4 cấp sinh khối rất thấp (10 – 50 tấn/ha), sinh khối thấp (51 – 100 tấn/ha), sinh khối trung bình (101 – 250 tấn/ha) và sinh khối cao (251 – 600 tấn/ha). 

    DOI: https://doi.org/10.71254/e73xmz06
  • TÌNH HÌNH GÂY HẠI VÀ MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM SINH HỌC CỦA LOÀI SÂU RÓM (Streblote helpsi Holloway, 1987) HẠI BẦN CHUA (Sonneratia caseolaris (L.) Engl.) TẠI HÀ TĨNH

    Abstract : 13 PDF: 16
    Lê Văn Bình, Nguyễn Văn Thành, Trần Viết Thắng, Nguyễn Quốc Thống, Nguyễn Hoài Thu
    121-126

    Bần chua là một trong những loài cây được lựa chọn để trồng rừng ngập mặn vùng ven biển ở nhiều tỉnh/thành tại Việt Nam, trong đó có tỉnh Hà Tĩnh. Tuy nhiên, hiện nay rừng trồng Bần chua trên 2 năm tuổi tại xã Thạch Hạ và Thạch Môn, thành phố Hà Tĩnh, tỉnh Hà Tĩnh đang bị loài Sâu róm ăn trụi lá. Loài Sâu róm xác định tên khoa học là (Streblote helpsi Holloway, 1987) thuộc giống Streblote, phân họ Lasiocampinae, họ Ngài lá héo Lasiocampidae, bộ Cánh vảy Lepidoptera. Trưởng thành đực dài trung bình 39,6 mm (± 0,1), toàn thân màu nâu xám phớt trắng; trưởng thành cái có kích thước lớn hơn trưởng thành đực với dài trung bình 46,5 mm (± 0,2), toàn thân màu nâu trắng. Nhộng hình oval, dài trung bình 1,5 mm (± 0,3), màu nâu. Sâu non có 6 tuổi, có 2 hàng chấm màu đỏ chạy dọc thân, ở mỗi chấm đỏ có 5 lông cứng màu đen; tuổi 1: dài trung bình 14,2 mm (± 0,2), màu xám; tuổi 2: dài trung bình 25,1 mm (± 0,3), màu xám nhạt; tuổi 3: dài trung bình 39,6 mm (± 0,2), màu xám trắng; tuổi 4: dài trung bình 58,3 mm (± 0,4), màu xám trắng phớt nâu; tuổi 5: dài trung bình 88,6 mm (± 0,5), màu nâu xám và tuổi 6: dài trung bình 116,6 mm (± 0,3), màu nâu xám. Nhộng bao bọc bởi lớp kén màu trắng xám, dài trung bình 61,5 mm (± 0,2). Sau khi bóc kén nhộng màu nâu đen dài trung bình 34,8 mm (± 0,3).

    DOI: https://doi.org/10.71254/4c5jx490
  • XÁC ĐỊNH CẤU TRÚC ĐÀN VƯỢN MÁ VÀNG TRUNG BỘ (Nomascus annamensis) TẠI KHU BẢO TỒN THIÊN NHIÊN ĐAKRÔNG, TỈNH QUẢNG TRỊ BẰNG PHƯƠNG PHÁP ÂM SINH HỌC

    Abstract : 12 PDF: 13
    Vũ Tiến Thịnh, Nguyễn Thị Hòa, Nguyễn Thị Thanh Hải, Phan Viết Đại, Giang Trọng Toàn, Tạ Tuyết Nga, Trần Văn Dũng, Trần Mạnh Long, Nguyễn Hữu Văn
    127-131

    Phương pháp âm sinh học là một phương pháp mới, có khả năng ứng dụng vào công tác bảo tồn các loài động vật hoang dã nói chung và các loài Vượn nói riêng. Trong nghiên cứu này, phương pháp âm sinh học được sử dụng để xác định cấu trúc đàn Vượn má vàng Trung bộ (Nomascus annamensis) tại Khu Bảo tồn Thiên nhiên (BTTN) Đakrông, tỉnh Quảng Trị. Tiếng hót của các đàn Vượn được thu thập từ tháng 3 đến tháng 7 năm 2019. Phổ âm thanh của 15 đàn Vượn được phân tích bằng phần mềm RAVEN nhằm xác định cấu trúc đàn. Kết quả cho thấy các đàn Vượn được nghiên cứu chủ yếu rơi vào một trong 6 trường hợp: (1) đàn chỉ có Vượn đực; (2) đàn có 1 Vượn đực trưởng thành và 1 Vượn cái trưởng thành; (3) đàn có 2 Vượn đực và 1 Vượn cái trưởng thành; (4) đàn có 1 Vượn đực trưởng thành, 1 Vượn cái trưởng thành và 1 Vượn bán trưởng thành; (5) đàn gồm 2 Vượn đực trưởng thành, 1 Vượn cái trưởng thành và 1 Vượn bán trưởng thành; (6) đàn gồm 1 Vượn đực trưởng thành, 2 Vượn cái trưởng thành và 1 Vượn bán trưởng thành. Âm thanh của Vượn đực có tần số giao động từ khoảng 850 kHz đến 1.500 kHz; trong khi đó, âm thanh của Vượn cái có tần số giao động rất lớn, từ tần số thấp khoảng 400 kHz đến tần số cao khoảng 2.200 kHz. 

    DOI: https://doi.org/10.71254/y7nr9m63
  • ẢNH HƯỞNG CỦA BIỆN PHÁP KỸ THUẬT LÂM SINH ĐẾN CÂY TÁI SINH Ở RỪNG SAU CHÁY TẠI KHU RỪNG PHÒNG HỘ NAM NGƯM, CỘNG HÒA DÂN CHỦ NHÂN DÂN LÀO

    Abstract : 7 PDF: 7
    Sing Soupanya, Lê Xuân Trường, Bùi Xuân Dũng, Nguyễn Văn Tứ, Nguyễn Thị Thu Hà
    132-139

    Ảnh hưởng của biện pháp kỹ thuật lâm sinh đến cây tái sinh ở rừng sau cháy năm 2016, tại khu rừng phòng hộ Nam Ngưm, tỉnh Xiêng Khoảng, nước Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào (CHDCND) được đánh giá. Biện pháp kỹ thuật lâm sinh gồm: (1) Khai thác tận dụng trên cấp độ cháy trung bình; (2) Gieo sạ hạt cây bản địa trên cấp độ cháy cao đã được đánh giá, so sánh mức độ ảnh hưởng với các cấp độ cháy không tác động biện pháp kỹ thuật về mật độ, chiều cao, phẩm chất, nguồn gốc và số lượng loài cây tái sinh sau cháy. Hệ thống 18 ô tiêu chuẩn (OTC) (3 OTC/biện pháp/ cấp độ cháy) nghiên cứu điển hình, bán cố định với diện tích 2.000 m2, bố trí đều trên các đối tượng nghiên cứu, gồm: (1) Khai thác tận dụng; (2) Gieo sạ hạt; (3) Không cháy; (4) Cháy thấp; (5) Cháy trung bình; (6) Cháy cao để thu thập và so sánh số liệu nghiên cứu trong 4 năm sau cháy. Kết quả, sau 4 năm nghiên cứu mật độ cây tái sinh bình quân/ha trên các đối tượng nghiên cứu đạt: (1) Khai thác tận dụng: 1.982 cây/ha; (2) Gieo sạ: 2.196 cây/ha; (3) Không cháy: 1.553 cây/ha; (4) Cháy thấp: 833 cây/ha; (5) Cháy trung bình: 954 cây/ha; (6) Cháy cao: 1.175 cây/ha. Chiều cao bình quân tương ứng đạt 0,41, 0,50, 1,70, 1,65, 1,48 và 0,86 m. Cây tái sinh bằng hạt chiếm trên 85%. Tỷ lệ cây tái sinh đạt phẩm chất trên từng cấp độ tương ứng đạt từ 85 đến 95%. Đa dạng thành phần loài cây tái sinh giảm trên 2 biện pháp tác động và trên cấp độ cháy, 4 năm sau cháy mức độ phong phú loài chưa ngang bằng khu đối chứng. Biện pháp kỹ thuật lâm sinh có ảnh hưởng, tác động rất tốt đến tái sinh rừng sau cháy, không những làm gia tăng mật độ, phẩm chất cây tái sinh, mà còn làm hạn chế loài cây xâm lấn và độ che phủ cây bụi, thảm tươi, nhưng đã làm hạn chế số lượng và mức độ phong phú loài cây tái sinh.

    DOI: https://doi.org/10.71254/0e3z0m67
  • ĐÁNH GIÁ HIỆN TRẠNG CANH TÁC VÀ ĐỀ XUẤT MỘT SỐ GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN CÂY QUÝT HÔI TẠI HUYỆN BÁ THƯỚC, TỈNH THANH HÓA

    Abstract : 8 PDF: 8
    Nguyễn Văn Đạo, Nguyễn Thị Bích Ngọc
    140-146

    Là cây ăn quả đặc sản, đem lại hiệu quả kinh tế cao nhưng do nhiều nguyên nhân về sự thoái hóa đất, chất lượng cây giống không đảm bảo, dịch bệnh hại, kỹ thuật chăm sóc chưa phù hợp... nên năng suất và chất lượng và hiệu quả kinh tế giống quýt hôi ở huyện Bá Thước, tỉnh Thanh Hóa đang suy giảm mạnh trong những năm gần đây, ảnh hưởng không nhỏ đến thu nhập của các nhà vườn. Nghiên cứu được thực hiện trên 3 xã trọng điểm trồng quýt hôi của huyện Bá Thước là Ban Công, Thành Lâm và Thành Sơn. Kết quả điều tra, khảo sát cho thấy: cây quýt hôi chủ yếu được ươm bằng hạt, sau 1 năm đưa ra vườn trồng, sau 8-10 năm mới bắt đầu cho quả. Trong thời kỳ kinh doanh cây quýt hôi cho thu nhập khá cao (265-389 triệu đồng/ha) nhưng do cây gieo hạt, thời kỳ chưa cho quả quá dài (từ 8 - 10 năm) nên bình quân thu nhập chỉ dao động từ 40 - 50 triệu đồng/ha/năm. Đất trồng quýt ở huyện Bá Thước có hàm lượng các bon hữu cơ tổng số từ nghèo đến trung bình (0,95-1,56% OC), đạm tổng số ở mức trung bình (0,12-0,18% N), lân tổng số từ trung bình đến giàu (0,08-0,15% P2O5), nhưng lân dễ tiêu (<5 mg P2O5/100 g đất), kali tổng số và dễ tiêu đều nghèo; canxi trao đổi ở mức cao nhưng magiê trao đổi ở mức thấp đến trung bình; dung tích hấp thu ở mức trung bình (10,04-14,78 meq/100 g đất). Để phát triển bền vững cây quýt hôi, cần áp dụng đồng bộ các giải pháp kỹ thuật khác nhau, trong đó các khâu nhân giống sạch bệnh bằng vi ghép đỉnh sinh trưởng, bón phân cân đối, kiểm soát dịch bệnh đóng vai trò quan trọng.

    DOI: https://doi.org/10.71254/7af22e18