Số 7 (2021)

					Xem Số 7 (2021)
Đã Xuất bản: 15-04-2021

Bài viết

  • TỔNG QUAN VỀ MÔ HÌNH LÀNG NÔNG THUẬN THIÊN (LNTT) PHỤC VỤ LỒNG GHÉP VỚI XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI THEO HƯỚNG THÍCH ỨNG VỚI BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU GIAI ĐOẠN 2021-2030

    Abstract : 7 PDF: 5
    Bùi Lê Vinh
    3-15

    Chương trình mục tiêu quốc gia về xây dựng nông thôn mới (NTM) đã bước qua giai đoạn 10 năm lần thứ nhất (2010–2020) và đã đạt được nhiều thành tựu trong việc chuẩn bị các cơ sở hạ tầng và điều kiện giúp phát triển kinh tế, xã hội, giáo dục và y tế các vùng nông thôn Việt Nam. Tuy vậy, Chương trình chưa thực sự thành công với việc xây dựng năng lực thích ứng và chống chịu với các rủi ro khí hậu cho người dân và chính quyền địa phương những vùng có tính tổn thương cao. Đã sử dụng kết quả nghiên cứu tại 3 mô hình Làng Nông Thuận Thiên (LNTT) trên địa bàn tỉnh Yên Bái và các bài học thành công trên thế giới để đánh giá hiệu quả và khả năng nhân rộng của mô hình trong thực hiện xây dựng NTM giai đoạn 2021–2030. Từ 13 tài liệu tham khảo tiêu biểu được thu thập và tổng hợp áp dụng phương pháp PRISMA, trong đó có 5 tài liệu từ 02 nghiên cứu thực nghiệm tại tỉnh Yên Bái giai đoạn 2015–2020, đã mô tả quy trình 6 bước cơ bản gồm 20 hoạt động trong xây dựng 01 LNTT phù hợp với bối cảnh của Việt Nam. Nghiên cứu đề xuất việc áp dụng quy trình này trong xây dựng NTM nhằm giúp các xã đã đạt chuẩn NTM tiếp tục đạt được các danh hiệu ‘NTM nâng cao’ và ‘NTM kiểu mẫu’ theo hướng thích ứng với BĐKH gắn với 6/19 tiêu chí NTM, bao gồm: quy hoạch, cơ sở hạ tầng (tiêu chí 2-9), thông tin và truyền thông, tổ chức sản xuất, văn hóa, và môi trường. Ngoài ra, nghiên cứu cũng đề xuất 01 cơ chế phối hợp và hành động liên cấp, trong đó sử dụng nhuần nhuyễn các cách tiếp cận từ trên xuống và từ dưới lên, nhằm đạt được hiệu quả cao nhất trong thực hiện và sử dụng nguồn vốn đầu tư của Nhà nước.

    DOI: https://doi.org/10.71254/erfwpk63
  • THIẾT KẾ VECTOR BIỂU HIỆN THỰC VẬT MANG GEN cry2Ab3 CÓ HOẠT TÍNH KHÁNG SÂU ĐỤC QUẢ ĐẬU TƯƠNG Etiella zinkenella

    Abstract : 9 PDF: 6
    Nguyễn Hữu Kiên, Nguyễn Thị Hòa, Lê Thị Mai Hương, Nguyễn Trung Anh, Đinh Thị Mai Thu, Tống Thị Hường, Đinh Thị Thu Ngần, Lê Thị Minh Thành, Nguyễn Văn Đồng
    16-24

    Sâu đục quả đậu tương Etiella zinkenella Treitschke là một trong những nguyên nhân gây thiệt hại nghiêm trọng đến năng suất, chất lương đậu tương. Mặc dù việc tạo giống cây trồng biến đổi gen kháng sâu mang các gen cry được phân lập từ các chủng vi khuẩn Bacillus thuringiensis (Bt) đã được nghiên cứu thành công trên nhiều đối tượng cây trồng khác nhau nhưng trên cây đậu tương còn hạn chế. Nghiên cứu này được thực hiện với mục tiêu là thiết kế các vector biểu hiện thực vật mang gen cry2Ab3 dạng dại và cải biến được phân lập từ chủng Bt BD8.2 bản địa của Việt Nam. Kết quả của nghiên cứu cung cấp các vật liệu di truyền phục vụ cho việc chuyển các gen này vào cây đậu tương nhằm tăng khả năng kháng sâu đục quả Etiella zinkenella.

    DOI: https://doi.org/10.71254/ktbt6z16
  • ẢNH HƯỞNG CỦA VI KHUẨN QUANG DƯỠNG KHÔNG LƯU HUỲNH MÀU TÍA CÓ KHẢ NĂNG CUNG CẤP δ-AMINOLEVULINIC AXÍT ĐỂ TĂNG SINH TRƯỞNG VÀ NĂNG SUẤT LÚA TRỒNG TRÊN ĐẤT MẶN HỒNG DÂN - BẠC LIÊU

    Abstract : 5 PDF: 7
    Nguyễn Quốc Khương, Nguyễn Thị Thùy Dung, Lý Ngọc Thanh Xuân, Trần Ngọc Hữu, Trần Chí Nhân, Nguyễn Hoàng Anh, Nguyễn Thị Thanh Xuân
    25-32

    Mục tiêu của nghiên cứu là xác định hiệu quả của dòng vi khuẩn quang dưỡng không lưu huỳnh màu tía có khả năng tiết ra δ-aminolevulinic axít trong điều kiện mặn giúp cải thiện sinh trưởng và năng suất lúa. Thí nghiệm thừa số hai nhân tố được bố trí theo kiểu khối hoàn toàn ngẫu nhiên, bốn lặp lại. Trong đó, nhân tố 1 (A) vi khuẩn quang dưỡng không lưu huỳnh màu tía (δ-aminolevulinic axít) bao gồm: (i) Dòng đơn vi khuẩn K1, dòng đơn vi khuẩn K2, dòng đơn vi khuẩn K3, hỗn hợp ba dòng vi khuẩn K1, K2 và K3 (mật số vi khuẩn là 1,812 x 105 CFU g-1 đất khô) và nhân tố 2 (B) bốn mức độ mặn (i) 0‰, (ii) 2‰, (iii) 3‰ và (iv) 4‰. Kết quả thí nghiệm cho thấy tưới nước mặn có nồng độ mặn từ 3‰ trở lên đã giảm chiều cao cây, số bông trên chậu, số hạt trên bông, tỷ lệ hạt chắc và năng suất lúa trên nền đất nhiễm mặn. Tuy nhiên, việc bổ sung hỗn hợp ba dòng vi khuẩn K1, K2 và K3 giúp cải thiện độ chua, hàm lượng lân dễ tiêu, năng suất lúa trong điều kiện mặn so với các dòng đơn vi khuẩn K1, K2 hoặc K3. Cả ba dòng vi khuẩn K1, K2, K3 có khả năng cải thiện sinh trưởng cây lúa trong điều kiện mặn.

    DOI: https://doi.org/10.71254/1a9eny13
  • KHẢO SÁT KHẢ NĂNG KẾT HỢP CỦA MỘT SỐ DÒNG DƯA LƯỚI (Cucumis melo L.) ƯU TÚ ĐỜI I8

    Abstract : 7 PDF: 8
    Đoàn Hữu Cường, Nguyễn Kim Thủy, Phan Diễm Quỳnh, Hà Thị Loan, Lê Nhựt Duy, Dương Hoa Xô
    33-39

    Nghiên cứu được thực hiện từ tháng 7 năm 2014 đến tháng 12 năm 2019, nhằm cung cấp giống dưa lưới mới cho TP. HCM và các vùng lân cận với nguồn nguyên liệu được thu thập từ các giống F1 nhập nội, các dòng được làm thuần bằng cách thụ phấn cưỡng bức qua các vụ. Các dòng ưu tú được lọc đến đời I8 (khác biệt về kiểu hình, khối lượng quả, độ brix và mật độ lưới) được dùng để lai tạo bằng phương pháp dialen. Đánh giá khả năng kết hợp của 28 tổ hợp lai từ 8 dòng (D1473, D1474, D1619, D1476, D1489, D1493, D1494, D1573) về năng suất và phẩm chất cho thấy: các tổ hợp lai DL01, DL04, DL08, DL09 cho năng suất và độ brix cao hơn giống đối chứng (TL3) ở mức tin cậy 99%. Năng suất của 28 tổ hợp lai biến động trong khoảng 25,83 - 46,46 tấn/ha; độ ngọt từ 8,16 – 15,27%. Kết quả đánh giá khả năng kết hợp (KNKH) về năng suất và độ ngọt của 8 dòng được đánh giá thông qua 28 tổ hợp lai luân giao cho thấy: dòng D1493 đạt giá trị KNKH chung cao nhất về chất lượng (Ĝi = 3,997), dòng D1474 đạt giá trị KNKH chung về tính trạng độ brix cao (Ĝi =0,671). Về khả năng kết hợp riêng, THL D1619/D1476 và D1489/D1493 có KNKH riêng tốt (Ŝij = 6,77 và 6,74) về tính trạng năng suất; về tổng số chất rắn hòa tan (TSS/độ brix) dòng D1476 có KNKH riêng tốt với dòng D1489 (Ŝij =4,78) và dòng D1473 có KNKH riêng tốt với dòng D1573 (Ŝij = 3,82).

    DOI: https://doi.org/10.71254/6ffvec61
  • NGHIÊN CỨU PHỤC TRÁNG VÀ XÂY DỰNG QUY TRÌNH KỸ THUẬT CANH TÁC NGUỒN GEN BÍ XANH PỈN XANH TÂN LẠC

    Abstract : 5 PDF: 5
    Phạm Hùng Cương, Hoàng Thị Hải, Đới Hồng Hạnh, Nguyễn Tiến Hưng
    40-48

    Bí xanh có tên khoa học là Benincasa pruriens subsp. hispida (Thunb.) de Wilde & Duyfjes. Giống bí xanh Pỉn xanh Tân Lạc được thu thập tại huyện Tân Lạc, tỉnh Hòa Bình trải qua quá trình nhân giống và đánh giá ban đầu cho thấy có triển vọng về năng suất và chất lượng có thể phục tráng để đưa trở lại sản xuất. Tiến hành chọn lọc từ thế hệ G0, G1, G2 theo phương pháp chọn lọc hỗn hợp âm tính đối với cây giao phấn đã chọn lọc được lô hạt giống siêu nguyên chủng. Giống bí xanh Pỉn xanh Tân Lạc mới được chọn lọc, phục tráng từ nguồn gen có số đăng ký T19665, có thời gian từ khi trồng đến khi cho quả 90-130 ngày, sinh trưởng phát triển khỏe, chịu rét khá, năng suất cao trung bình 40 tấn/ha, chất lượng quả tốt như: vỏ quả màu xanh, dạng quả hình trụ thon, dài 28-30 cm, chất lượng quả tốt, ít hạt, cùi  dày và chắc, thịt quả màu xanh, vị ngọt rất hấp dẫn người tiêu dùng. Sử dụng hạt giống đã phục tráng để thực hiện các thí nghiệm xây dựng quy trình thâm canh cho giống Pỉn xanh Tân Lạc, kết quả đã xác định mật độ trồng Pỉn xanh Tân Lạc thưa hơn so với các giống bí cải tiến, cụ thể như sau: vụ hè thu và vụ thu đông mật độ 45 x 200 cm cho năng suất quả cao nhất; lượng phân bón khuyến cáo trong vụ thu đông là 140 kg N + 100 kg P2O5 + 120 kg K2O (tương ứng với 300 kg Ure; 600 kg super lân; 200 kg KCl). Bón chế phẩm bón lá ABI PALI làm tăng độ đồng đều và mẫu mã quả nhưng không tăng năng suất.

    DOI: https://doi.org/10.71254/p2xtzv20
  • ẢNH HƯỞNG CỦA GIÁ THỂ ĐẾN SỰ RA RỄ VÀ CỦA PHÂN BÓN NPK ĐẾN SINH TRƯỞNG CÂY HOA BƯỚM VIOLA (Viola tricolor L.) TRỒNG CHẬU TẠI PHÚ THỌ

    Abstract : 12 PDF: 11
    Nguyễn Thị Thanh Hương, Chu Thị Bích Ngọc, Nguyễn Phương Quý, Nguyễn Trọng An
    49-53

    Hoa bướm Viola (Viola tricholor L.) thuộc chi Viola. Loài cây này là cây thân thảo, có hoa đẹp, đồng thời có giá trị dược liệu. Vì vậy, viola là cây hoa trồng chậu được ưa chuộng, gần đây được phát triển ở Việt Nam. Trong nghiên cứu này, ảnh hưởng của giá thể đối với giâm cành viola đã được nghiên cứu. Đồng thời, ảnh hưởng của các loại phân bón đối với sinh trưởng, phát triển của cây viola cũng được xác định. Kết quả nghiên cứu cho thấy, sự ra rễ ở cây viola giâm hom chịu ảnh hưởng khác nhau của các loại giá thể. Cả bốn loại giá thể cát, đất, đất: trấu hun (1: 1) và cát: trấu hun (1:1) đều cho tỷ lệ ra rễ từ 75% đến 100%. Trong đó, cát: trấu hun (1:1) và cát có tỷ lệ ra rễ, tỷ lệ hom sống cũng như số lượng rễ và chiều dài rễ cây viola giâm hom lớn nhất. Cả ba loại phân bón Lâm Thao NPK 10: 5: 5, Đầu Trâu NPK 20: 20: 15 + TE và Bình Điền NPK 20: 20: 15 + TE đều làm tăng sinh trưởng chiều cao cây, đường kính tán, hệ số phân cành cây viola so với đối chứng. Hơn nữa, các loại phân bón này làm tăng kích thước hoa cũng như thời gian bền hoa viola trồng chậu. Trong đó, phân bón Lâm Thao NPK 10: 5: 5 có hiệu quả cao hơn so với hai loại phân bón còn lại đối với sinh trưởng cây viola. 

    DOI: https://doi.org/10.71254/8pc8y587
  • ẢNH HƯỞNG CỦA VẬT LIỆU NUÔI ĐẾN SỰ SINH TRƯỞNG VÀ CHẤT LƯỢNG PHÂN TRÙN QUẾ (Perionyx excavatus)

    Abstract : 15 PDF: 12
    Trần Bá Linh, Nguyễn Quốc Hậu, Đặng Duy Minh, Nguyễn Quốc Khương
    54-62

    Bón phân trùn quế (Perionyx excavatus) cung cấp nhiều dưỡng chất và có ảnh hưởng tích cực đến sinh trưởng và phát triển của cây trồng. Tuy nhiên, thức ăn cho trùn quế khác nhau có thể ảnh hưởng đến chất lượng của phân trùn quế. Nghiên cứu này đánh giá ảnh hưởng của các nguồn vật liệu nuôi trùn quế khác nhau đến sinh trưởng và chất lượng phân trùn quế. Thí nghiệm được bố trí theo khối hoàn toàn ngẫu nhiên một nhân tố gồm 3 nghiệm thức: (i) phân bò tươi (PB); (ii) phân bò tươi trộn với rác hữu cơ theo tỉ lệ 1:1 (PB + R) và (iii) phân heo trộn với rác hữu cơ theo tỉ lệ 1:1 (PH + R) và 4 lần lặp lại. Kết quả cho thấy đạm tổng số, các bon hữu cơ và tỷ lệ C/N của các vật liệu nuôi trùn ban đầu dao động theo thứ tự tương ứng 2,01 – 2,04%, 28,51 – 44,84% và 14,18 – 22,09. Nghiệm thức PH + R có nhiệt độ, ẩm độ và pH phù hợp cho sự phát triển của trùn quế. Protêin thô của trùn quế cao nhất cũng được tìm thấy ở nghiệm thức này (49%). Phân trùn quế thu từ nghiệm thức này có hàm lượng đạm hữu dụng (NH4+-N và NO3--N)(177,9 mg/kg) và lân dễ tiêu (3.428,8 mg/kg) đạt cao nhất so với hai nghiệm thức còn lại. Sau hai tháng nuôi trùn bằng phân bò tươi làm gia tăng mật số và khối lượng khô của trùn quế có ý nghĩa so với hai nghiệm thức còn lại.

    DOI: https://doi.org/10.71254/h8b4j990
  • ẢNH HƯỞNG CỦA MỘT SỐ THÔNG SỐ LÊN MEN ĐẾN CHẤT LƯỢNG CỦA HỖN HỢP DỊCH QUẢ THANH LONG VÀ DỨA

    Abstract : 12 PDF: 10
    Lâm Văn Mân, Nguyễn Lệ Hà, Lý Gia Phúc, Trịnh Nguyên Hằng, Lê Thị Ngọc Mai, Slen Liên Vân
    63-68

    Nhằm mục đích xác định các tính chất lý hoá của quả thanh long và dứa phù hợp cho chế biến nước quả lên men, đồng thời khảo sát ảnh hưởng của một số thông số lên men đến chất lượng của hỗn hợp dịch quả đề tài nghiên cứu “Ảnh hưởng của một số thông số lên men đến chất lượng của hỗn hợp nước quả thanh long và dứa” được thực hiện. Kết quả nghiên cứu cho thấy thành phần dinh dưỡng của quả thanh long và quả dứa phù hợp để chế biến nước uống lên men có giá trị dinh dưỡng cao. Kết quả cũng đã xác định được tỷ lệ phối trộn dịch quả thanh long : dứa cho chất lượng sản phẩm tốt nhất là 70 : 30 và tỷ lệ nấm men phù hợp là 0,4%. Sản phẩm nước uống lên men từ hỗn hợp thanh long và dứa cũng được đánh giá cao chất lượng về chỉ tiêu sinh hóa cũng như cảm quan, cụ thể sản phẩm có màu đỏ hồng của thanh long, mùi thơm nhẹ của dứa và có mùi nước quả lên men đặc trưng, vị ngọt thanh và chua dịu.

    DOI: https://doi.org/10.71254/dazma089
  • ĐÁNH GIÁ TÁC ĐỘNG CỦA QUÁ TRÌNH HẠ THỦY PHẦN MẬT ONG BẰNG CÔNG NGHỆ JEVA LÊN MỘT SỐ CHỈ TIÊU HÓA LÝ CỦA MẬT ONG HOA CÀ PHÊ

    Abstract : 9 PDF: 5
    Đặng Thị Tuyết Ngân, Phạm Như Quỳnh, Phạm Đức Chinh, Vũ Ngọc Hà, Cung Thị Tố Quỳnh, Nguyễn Minh Tân
    69-76

    Hạ thủy phần mật ong là một bước cần thiết trong quá trình sản xuất và lưu trữ mật ong ở các nước nhiệt đới nhằm hạn chế sự suy giảm chất lượng nhanh chóng do quá trình lên men. Công nghệ JEVA được ứng dụng hạ thủy phần mật ong hoa cà phê (tỉnh Đắk Lắk, Việt Nam) ở nhiệt độ thường và áp suất khí quyển. Nghiên cứu này phân tích các thay đổi về đặc trưng hóa lý của mật ong sau khi hạ thủy phần bởi công nghệ JEVA. Kết quả cho thấy mật ong hoa cà phê sau khi hạ thuỷ phần bằng công nghệ JEVA có hàm lượng nước dưới 17%klg, đồng thời hàm lượng HMF tăng nhẹ từ 23,47 ± 0,21 lên 25,63 ± 0,25 mg/kg. Bên cạnh đó, quá trình hạ thủy phần mật ong cho phép giữ lại 93,6% và 83,7% hàm lượng polyphenol và hoạt tính chống oxi hóa. Sau 12 tháng bảo quản trong lọ thủy tinh tối màu, ở nhiệt độ từ 17-32°C và độ ẩm không khí 72-82%, mật ong đã hạ thủy phần có tỷ lệ HMF tăng 13,78% và hàm lượng polyphenol tổng số (TPC) giảm 47,83%; trong khi đó mật ong thô có tỷ lệ HMF và TPC tương ứng lên tới 21,59% và 72,01%. Quá trình hạ thuỷ phần mật ong bằng công nghệ JEVA ít tác động lên chất lượng mật ong so với các công nghệ hạ thuỷ phần khác. 

    DOI: https://doi.org/10.71254/v7stj006
  • XÁC ĐỊNH HÀM LƯỢNG CHẾ PHẨM SINH HỌC PHÙ HỢP ĐỂ BẢO QUẢN QUẢ MẬN MỘC CHÂU

    Abstract : 6 PDF: 6
    Nguyễn Văn Lợi
    77-85

    Quả mận Mộc Châu có hương vị thơm ngon đặc trưng, giàu giá trị dinh dưỡng, đặc biệt là đường, vitamin C, vitamin A và các chất khoáng. Mục đích của nghiên cứu này là xác định hàm lượng chế phẩm sinh học chitosan kết hợp với saponin, axit axetic và nước phù hợp để xây dựng quy trình bảo quản. Trong 6 công thức thí nghiệm bảo quản, đã xác định được hàm lượng chế phẩm sinh học 1,0% phù hợp để bảo quản quả mận Mộc Châu. Khi bảo quản ở hàm lượng chế phẩm sinh học này đã hạn chế được sự biến đổi các chỉ tiêu hóa lý, hóa sinh, vi sinh và cảm quan. Đặc biệt đến tuần bảo quản thứ 4, quả mận vẫn giữ được các giá trị đặc trưng, tỷ lệ hao hụt khối lượng tự nhiên chỉ chiếm 6,12%, tỷ lệ thối hỏng 8,79%, thấp hơn so với khi bảo quản ở các hàm lượng chế phẩm sinh học khác. So với quả mận tươi trước khi đưa vào bảo quản thì sự biến đổi các chỉ tiêu này của các quả mận bảo quản với hàm lượng chế phẩm sinh học nêu trên là không lớn. Vì vậy, chọn hàm lượng chế phẩm sinh học 1,0% để xây dựng quy trình bảo quản quả mận Mộc Châu.

    DOI: https://doi.org/10.71254/0e95r419
  • KHẢO SÁT SỰ BIẾN ĐỔI MỘT SỐ CHỈ TIÊU CHẤT LƯỢNG CỦA QUẢ NHÃN LỒNG HƯNG YÊN Ở GIAI ĐOẠN CẬN THU HÁI

    Abstract : 6 PDF: 6
    Nguyễn Thị Hạnh, Trần Thị Mai, Nguyễn Văn Hưng
    86-93

    Mục đích của nghiên cứu này nhằm khảo sát sự biến đổi một số chỉ tiêu chất lượng đặc trưng của quả nhãn lồng Hưng Yên (Dimocarpus longan) ở giai đoạn cận thu hái để từ đó đưa ra thời điểm thu hái thích hợp nhất đối với loại quả này. Các chỉ tiêu chất lượng được xác định bao gồm: chất lượng cảm quan, kích thước, khối lượng, màu sắc, hàm lượng chất khô hòa tan tổng số (CKHTTS), hàm lượng đường, hàm lượng axit tổng số...của quả nhãn. Đồng thời nghiên cứu cũng đánh giá hoạt lực của enzyme polyphenoloxydase (PPO) và enzyme peroxidase (POD) cùng khả năng quét gốc tự do DPPH (2,2-diphenyl-1-picrylhydrazyl) của quả nhãn tươi. Kết quả cho thấy, thời điểm thích hợp nhất để thu hái quả nhãn là 165-170 ngày kể từ khi ra hoa, lúc đó quả chín hoàn toàn, màu quả nâu sáng, vỏ quả mọng và nhẵn, quả cứng giòn, mùi thơm đặc trưng. Hoạt lực enzyme POD và PPO có giá trị lần lượt là 148,01±5,67 U; 0,56±0,2 U (trong cùi nhãn) và 379,4 U; 20,04 ±1,3 U (trong vỏ nhãn) góp phần chống hóa nâu quả sau thu hái. Khả năng quét gốc tự do DDPH ở tất cả các mẫu thí nghiệm đều đạt khoảng 50%. Điều này cho thấy trong quả nhãn ngoài giá trị dinh dưỡng vốn có còn chứa những chất có hoạt tính sinh học khác có lợi cho sức khỏe của người tiêu dùng.

    DOI: https://doi.org/10.71254/nbnejw87
  • NGHIÊN CỨU SỰ PHÁT TRIỂN CỦA MẬT SỐ VI SINH VẬT CHỈ THỊ VỆ SINH VÀ HÀM LƯỢNG TỔNG NITƠ BAZƠ BAY HƠI TRÊN PHI LÊ CÁ RÔ PHI TRONG QUÁ TRÌNH BẢO QUẢN Ở NHIỆT ĐỘ THẤP

    Abstract : 16 PDF: 11
    Nguyễn Thị Kiều Diễm, Mai Thị Tuyết Nga, Lý Nguyễn Bình
    94-100

    Nghiên cứu theo dõi mật số vi sinh vật chỉ thị vệ sinh và hàm lượng tổng nitơ bazơ bay hơi (TVB-N) trên phi lê cá rô phi trong quá trình bảo quản ở 8 chế độ nhiệt độ: 1, 4, 9, 15, 19, 25, 29 ± 1°C và nhiệt độ môi trường xung quanh. Mật số coliform ban đầu trên phi lê cá rô phi là 1,74 x 103 CFU/g. Hàm lượng TVB-N ban đầu trên phi lê là 12,82 mgN/100 g. Mật số vi sinh vật và hàm lượng TVB-N tăng nhanh khi nhiệt độ và thời gian bảo quản tăng. Theo quy định của Bộ Y tế về mật số E. coli đối với sản phẩm thuỷ sản đông lạnh, phi lê cá rô phi sẽ hết hạn sử dụng sau 24 giờ bảo quản tại nhiệt độ 9 ± 1°C và 15 ± 1°C, sau 20 giờ tại nhiệt độ 19 ± 1°C, 14 giờ ở 25 ± 1°C, 5 giờ ở 29 ± 1°C và 2 giờ ở nhiệt độ môi trường. Không phát hiện E. coli trên phi lê khi bảo quản ở nhiệt độ 1 ± 1°C và 4 ± 1°C. Hàm lượng TVB-N trong cá rô phi ở cuối thời gian bảo quản là: 28,86 mgN/100 g ở 1 ± 1°C, 48,90 mgN/100 g ở 4 ± 1°C, 30,50 mgN/100 g ở 9 ± 1°C, 57,35 mgN/100 g ở 15 ± 1°C, 111,24 mgN/100 g ở 19 ± 1°C, 169,61 mgN/100 g ở 25 ± 1°C, 37,66 mgN/100 g ở 29 ± 1°C và 23,28 mgN/100 g ở nhiệt độ môi trường xung quanh. 

    DOI: https://doi.org/10.71254/xrtgtz40
  • KHÁI QUÁT VỀ NGHIÊN CỨU CÁ DI CƯ BẰNG PHƯƠNG PHÁP PHÂN TÍCH THÀNH PHẦN HÓA HỌC TRONG ĐÁ TAI VÀ KHẢ NĂNG ÁP DỤNG Ở VIỆT NAM

    Abstract : 14 PDF: 11
    Vũ Vi An, Nguyễn Nguyễn Du, Nguyễn Văn Phụng
    101-108

    Nghiên cứu các chất hóa học vi lượng trong đá tai ngày càng trở nên phổ biến trên thế giới vì có lợi thế hơn so với các phương pháp khác về kinh phí cũng như thời gian. Mặc dù đá tai đã được sử dụng để xác định tuổi, đặc điểm sinh học và hình thái đá tai ở Việt Nam, nhưng nghiên cứu cá di cư dựa vào đá tai còn khá hạn chế vì nhiều nguyên nhân khác nhau. Thực tế nghiên cứu các chất hóa học vi lượng trong đá tai là một công cụ hữu hiệu và đầy tiềm năng trong nghiên cứu cá di cư. Công cụ này có thể được sử dụng để xác định: (1) bãi đẻ của cá; (2) đường di cư; (3) ô nhiễm môi trường; (4) nguồn gốc của cá do thả bổ sung hay tự nhiên; và (5) phát tán của cá bột và cá con. Đây là lĩnh vực tương đối mới ở Việt Nam nhưng hoàn toàn có thể áp dụng ở Việt Nam. Mục tiêu của bài báo nhằm giới thiệu một số thông tin cơ bản về công cụ nghiên cứu này và khả năng ứng dụng ở Việt Nam; tạo ra những ý tưởng nghiên cứu độc đáo, góp phần vào việc bảo vệ nguồn lợi thủy sản bền vững ở Việt Nam cũng như trong khu vực.

    DOI: https://doi.org/10.71254/0a9rvj78
  • HIỆN TRẠNG KỸ THUẬT VÀ GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN NGHỀ NUÔI CÁ LỒNG Ở HỒ THÁC BÀ, TỈNH YÊN BÁI

    Abstract : 6 PDF: 4
    Thái Thanh Bình, Lê Phi Hùng
    109-115

    Hồ Thác Bà, tỉnh Yên Bái với diện tích mặt nước trên 19.000 ha, có tiềm năng lớn phát triển nuôi trồng thủy sản. Nghề nuôi cá lồng ở hồ Thác Bà phát triển nhanh chóng từ năm 2017 đến nay, tuy nhiên sự phát triển mang tính tự phát sẽ gây hậu quả lớn đến môi trường và kinh tế của tỉnh. Bài viết trình bày kết quả điều tra 100 hộ nuôi cá lồng, được thực hiện từ tháng 6/2018-2/2020 về hiện trạng kỹ thuật nuôi cá lồng ở hồ chứa Thác Bà. Kết quả nghiên cứu cho thấy nuôi cá lồng ở hồ Thác Bà rất đa dạng gồm: doanh nghiệp, hợp tác xã và các hộ cá thể, đến năm 2019 đã có 1.345 lồng nuôi cá. Lồng nuôi cá chủ yếu được làm bằng khung mạ kẽm dạng tuýp nước có thể tích trung bình 108 m3/lồng (6 x 6 x 3 m). Đối tượng nuôi chính là cá rô phi (37%), cá nheo Mỹ (34%) và cá trắm cỏ (18,4%), ngoài ra các hộ còn nuôi thêm cá chép và các loài cá khác. Thức ăn cho cá chủ yếu là thức ăn công nghiệp dạng viên nổi (67%). Kỹ thuật chăm sóc cá vẫn áp dụng theo phương pháp nuôi cá lồng truyền thống. Người nuôi chủ yếu dựa vào kinh nghiệm, chưa chú trọng về an toàn thực phẩm. Năng suất cá dao động từ 0,99-8,1 tấn/lồng (108 m3) tùy theo từng loài. Hiệu quả cao nhất là mô hình nuôi cá trắm cỏ đạt trung bình là 68,13 triệu đồng/lồng. Tuy nhiên cá rô phi vằn cho thu hồi vốn nhanh hơn. Những khó khăn chính trong quá trình nuôi cá lồng là: nguồn giống không chủ động, danh tiếng sản phẩm chưa có trên thị trường và tổ chức sản xuất rời rạc. Nghiên cứu đã đề xuất một số giải pháp phát triển nghề nuôi cá lồng ở hồ Thác Bà theo hướng bền vững.

    DOI: https://doi.org/10.71254/ec9jd556
  • ĐÔNG LẠNH TINH TRÙNG LỢN BẰNG PHƯƠNG PHÁP THỦY TINH HÓA

    Abstract : 15 PDF: 12
    Lê Hồng My, Mai Bá Thiên Phước, Dương Nguyễn Duy Tuyền, Trần Thị Thanh Khương
    116-121

    Nghiên cứu thực hiện nhằm đông lạnh thủy tinh hóa tinh trùng lợn và sự ảnh hưởng nồng độ chất bảo quản glycerol trong môi trường pha loãng để tinh trùng sau khi đông lạnh ít bị ảnh hưởng đến tỷ lệ sức sống, hoạt lực và có thể phối giống nhân tạo. Tinh trùng của giống lợn Landrace, Duroc và lợn lai Duroc x Landrace (n = 9; r = 3) đã xử lý sẽ pha loãng với môi trường có bổ sung glycerol ở các nồng độ 4, 6 và 8%. Mẫu được đưa vào các ống trữ lạnh (cryotube) 1,5 mL để tiến hành đông lạnh thủy tinh hóa ở -196°C. Sau 72 giờ lưu trữ, tiến hành giải đông ở nhiệt độ phòng trong 15 phút. Chỉ tiêu về tỷ lệ sức sống và hoạt lực sẽ được đánh giá ở các mẫu trước và sau đông lạnh. Kết quả nghiên cứu ghi nhận: sau lưu trữ lạnh, các mẫu khi pha loãng với môi trường ở glycerol 8% có tỷ lệ sức sống (37,55; 39,44; 37,99%) và hoạt lực (34,56; 36,79; 34,83%) cao hơn các mẫu ở nồng độ 4% và 6%. Kết quả nghiên cứu: xây dựng thành công quy trình đông lạnh tinh trùng lợn bằng phương pháp thủy tinh hóa với nồng độ glycerol 8% trong môi trường đông lạnh cho kết quả đông lạnh tinh trùng lợn tốt, có tỷ lệ tinh trùng di động tiến thẳng cao. 

    DOI: https://doi.org/10.71254/wy8waj40
  • THÀNH PHẦN LOÀI VÀ PHÂN BỐ CỦA MỐI (ISOPTERA) Ở KHU DỰ TRỮ SINH QUYỂN THẾ GIỚI CÙ LAO CHÀM - HỘI AN, TỈNH QUẢNG NAM

    Abstract : 6 PDF: 7
    Nguyễn Thị My, Nguyễn Quốc Huy, Nguyễn Văn Quảng
    122-126

    Khu Dự trữ Sinh quyển Thế giới Cù Lao Chàm - Hội An không chỉ nổi bật với hệ sinh thái biển đa dạng và phong phú, cảnh quan hoang sơ độc đáo mà còn được biết đến như một địa chỉ văn hóa lịch sử nổi tiếng với các di tích, công trình kiến trúc cổ và cần được bảo vệ. Mối là một trong những sinh vậy gây hại nghiêm trọng đối với các công trình kiến trúc nói chung và có tính phân bố đặc trưng theo từng loài. Kết quả nghiên cứu về thành phần loài mối tại khu vực này đã ghi nhận được 13 loài, 6 giống, 3 họ. Trong đó, lần đầu tiên ghi nhận 8 loài mối có mặt tại đảo Cù Lao Chàm, bổ sung 7 loài mới cho khu vực nghiên cứu và 01 loài mới cho khu hệ mối Việt Nam là loài Microcerotermes fletcheri. Kết quả nghiên cứu cũng cho thấy thành phần loài mối thu được ở khu phố cổ Hội An và vùng ven ít hơn đảo Cù Lao Chàm. Chỉ thu được những loài thuộc nhóm mối ăn gỗ và làm tổ trong gỗ ở khu phố cổ Hội An.

    DOI: https://doi.org/10.71254/nvb4fm27
  • NHÂN TỐ SINH THÁI ẢNH HƯỞNG ĐẾN MẬT ĐỘ TÁI SINH LOÀI XOAY (Dialium cochinchinensis Pierre) TẠI GIA LAI

    Abstract : 6 PDF: 5
    Phạm Tiến Bằng, Nguyễn Hồng Hải, Lê Việt Dũng, Ngô Văn Cầm
    127-132

    Nghiên cứu ảnh hưởng của các nhân tố sinh thái đến mật độ cây tái sinh của loài Xoay được tiến hành trên cơ sở thu thập số liệu sinh thái tại các lâm phần có Xoay phân bố thuộc 3 tiểu vùng khí hậu khác nhau của tỉnh Gia Lai, bao gồm: tiểu vùng Kon Hà Nừng (huyện Kbang và huyện Mang Yang); tiểu vùng thung lũng Kon Tum, Sa Thầy (huyện Ia Grai), tiểu vùng núi cao An Khê và Đông Bắc Ayunpa (huyện Krông Pa). 12 nhân tố sinh thái được thu thập gồm: Tổ thành loài ưu thế; đặc điểm phân bố trên mặt đất; tổng tiết diện ngang; độ tàn che; vị trí địa hình; độ dốc; độ cao so với mặt nước biển; lượng mưa; nhiệt độ trung bình năm; hướng phơi; loại đất; tỷ lệ đá lộ đầu. Dựa trên việc khảo sát theo dãy biến thiên của từng nhân tố và xem xét sự tác động qua lại giữa các yếu tố sinh thái để xác định nhân tố sinh thái có ảnh hưởng đến mật độ tái sinh và thiết lập mô hình tương quan giữa mật độ cây tái sinh với các nhân tố sinh thái. Phương pháp tiếp cận mô hình hồi quy đa biến có trọng số (weight variable) là công cụ chủ đạo để phát hiện nhân tố sinh thái, tổ hợp nhân tố sinh thái có ảnh hưởng đến mật độ tái sinh loài ở các điều kiện hoàn cảnh khác nhau. Kết quả nghiên cứu đã phát hiện nhân tố độ tàn che có ảnh hưởng rõ rệt đến mật độ tái sinh của loài Xoay và đã thiết lập được mô hình quan hệ yi = f(xj) theo dạng mô hình Power để mô phỏng tốt nhất mối quan hệ này, với các chỉ số thống kê R2adj = 79,4%; MAE = 72,8 cây; ME = - 0,005; MAPE = 95,98%. Đây là cơ sở khoa học cho việc đề xuất các biện pháp kỹ thuật lâm sinh phù hợp nhằm bảo tồn và phát triển được nguồn gen cây Xoay.

    DOI: https://doi.org/10.71254/tgymyn59
  • ĐA DẠNG THỰC VẬT RỪNG TRÊN NÚI ĐÁ VÔI TẠI VƯỜN QUỐC GIA CÁT BÀ, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

    Abstract : 8 PDF: 6
    Lê Hồng Liên, Hoàng Thanh Sơn, Trịnh Bon, Nguyễn Văn Tuấn, Ninh Việt Khương, Triệu Thái Hưng, Bùi Thế Đồi, Trần Thị Yến
    133-141

    Bài báo trình bày kết quả nghiên cứu về đa dạng thực vật rừng trên núi đá vôi tại Vườn Quốc gia Cát Bà, thành phố Hải Phòng. Nghiên cứu đã sử dụng các phương pháp điều tra thực địa và thu mẫu phổ biến hiện nay trong điều tra chuyên ngành. Kết quả cho thấy, có tổng số 1.643 loài thực vật thuộc 592 chi, 195 họ và 5 ngành thực vật bậc cao đã được ghi nhận, trong đó 10 họ đa dạng nhất có 535 loài, với 14 loại dạng sống khác nhau. Kết quả nghiên cứu đã góp phần bổ sung thêm 32 loài, thuộc 30 chi, 19 họ vào danh lục thực vật của Vườn Quốc gia Cát Bà. Năm nhóm thực vật chiếm ưu thế trong hệ thực vật là nhóm cỏ đứng (COD), nhóm cây gỗ nhỏ (GON), cây bụi (BUI), cây gỗ trung bình (GOT) và các loài cỏ leo (COL), chiếm trên 15%. Nghiên cứu cũng tiến hành phân nhóm theo giá trị sử dụng, trong đó 4 nhóm chiếm ưu thế với trên 200 loài cho mỗi nhóm, bao gồm nhóm thực vật làm thuốc; lấy gỗ, củi; làm cảnh và làm thực phẩm. Hệ thực vật nơi đây có giá trị bảo tồn cao với 122 loài quý hiếm, trong đó có 68 loài được ghi nhận trong Sách Đỏ Việt Nam (2007), 29 loài được ghi nhận trong Danh lục Đỏ IUCN Red List (2020), 48 loài được ghi nhận theo Nghị định số 06/2019/NĐ – CP và 42 loài được ghi nhận vào các phụ lục của công ước CITES. Đã xác định 6 kiểu rừng với các đặc điểm cấu trúc khác nhau; đây là cơ sở khoa học quan trọng cho các giải pháp quản lý bền vững rừng trên núi đá vôi tại VQG Cát Bà.

    DOI: https://doi.org/10.71254/vvp3fw19
  • THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP TĂNG CƯỜNG CÔNG TÁC QUẢN LÝ SỬ DỤNG ĐẤT TẠI CÁC CÔNG TY NÔNG, LÂM NGHIỆP TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH THÁI NGUYÊN

    Abstract : 7 PDF: 6
    Phan Thanh Hà, Lê Văn Thơ
    142-150

    Kết quả nghiên cứu đã đánh giá được thực trạng công tác quản lý sử dụng đất tại các công ty nông, lâm nghiệp trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên. Tính đến hết năm 2019, diện tích đất công ty nông, lâm nghiệp trên địa bàn tỉnh (theo Quyết định giao đất) là 84.492,64 ha, trong đó diện tích đã rà soát và đang sử dụng là 72.471,19 ha, diện tích đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là 48.000,25 ha chiếm 56,81% diện tích được giao. Diện tích đất không sử dụng các đơn vị bàn giao lại cho địa phương là 19.979,71 ha, trong đó 10.731,05 ha đã được UBND tỉnh ra quyết định thu hồi và giao cho UBND các huyện đưa vào quản lý sử dụng, diện tích còn lại chưa lập hồ sơ thu hồi là 9.248,66 ha. Trong quá trình quản lý sử dụng đất vẫn còn hiện tượng tranh chấp đất đai giữa công ty nông, lâm trường với người dân, vẫn còn đất chưa đưa vào sử dụng, hầu hết các công ty nông, lâm nghiệp chưa lập quy hoạch sử dụng đất. Trong quá trình thực hiện còn một số tồn tại khó khăn cần quan tâm giải quyết. Để tăng cường công tác quản lý sử dụng đất trong thời gian tới, nghiên cứu đã đề xuất một số giải pháp gồm: Hoàn thiện chính sách pháp luật liên quan đến công tác quản lý sử dụng đất tại các công ty nông, lâm nghiệp; gắn việc sắp xếp, đổi mới các công ty nông, lâm nghiệp với việc rà soát lại quỹ đất do công ty nông, lâm nghiệp quản lý, kiên quyết thu hồi những diện tích đất không sử dụng hoặc sử dụng không hiệu quả, bị lấn, bị chiếm để giao về địa phương quản lý; đẩy nhanh công tác lập, điều chỉnh phương án sử dụng đất và đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin trong việc quản lý đất tại các công ty nông, lâm nghiệp.

    DOI: https://doi.org/10.71254/5gmh3v28
  • ĐÁNH GIÁ TIỀM NĂNG TÀI NGUYÊN ĐẤT NÔNG NGHIỆP PHỤC VỤ CHO SẢN XUẤT CÂY LƯƠNG THỰC VÀ CÂY CÔNG NGHIỆP HÀNG HÓA VÙNG TÂY NGUYÊN

    Abstract : 6 PDF: 6
    Bùi Thị Ngọc Dung, Nguyễn Tuấn Anh
    151-160

    Tây Nguyên là vùng có tài nguyên đất đai đa dạng, giàu tiềm năng nên sản xuất nông nghiệp đã đạt được một số tiến bộ và thành tựu đáng kể trong những năm gần đây. Nông nghiệp là ngành kinh tế quan trọng, hiện thu hút 68,7% lao động xã hội, đóng góp 38,2% tổng GDP toàn vùng. Tốc độ tăng bình quân hàng năm về tổng giá trị sản phẩm nông nghiệp cao hơn nhiều so với trung bình toàn quốc. Trên cơ sở kết quả đánh giá tiềm năng tài nguyên đất nông nghiệp đã đề xuất được diện tích tối đa có thể sản xuất cây lương thực và cây công nghiệp hàng hóa vùng Tây Nguyên đến năm 2030 như sau: đất lúa 192 nghìn ha, tăng 11,9 nghìn ha; ngô 179 nghìn ha, tăng 5,8 nghìn ha; sắn 160 nghìn ha, giảm 3 nghìn ha; cà phê 600 nghìn ha, giảm 30,3 nghìn ha; cao su 230 nghìn ha, giảm 0,6 nghìn ha; hồ tiêu 58 nghìn ha, giảm 29,5 nghìn ha; điều 85 nghìn ha, tăng 2,4 nghìn ha; chè 13 nghìn ha, tăng 0,9 nghìn ha và đất khai thác khoảng 132,9 nghìn ha đất chưa sử dụng cho nông nghiệp và các mục đích khác.

    DOI: https://doi.org/10.71254/fhj4nb97