Số Tháng 11 (2025): SỐ ĐẶC BIỆT: GIỐNG CÂY TRỒNG, VẬT NUÔI
Bài viết
-
ĐÁNH GIÁ CÁC CHỈ TIÊU SINH LÝ, SINH HÓACỦA CÁC DÒNG LÚA CHỊU MẶN CHỌN TẠO MỚI TRONG ĐIỀU KIỆN MẶN NHÂN TẠO
Abstract : 200 PDF: 0Nghiên cứu đánh giá 4 dòng lúa mới thông qua việc xác định các chỉ tiêu sinh lý và sinh hóa, bao gồm: Hàm lượng chlorophyll, tỷ lệ nước trong lá, hoạt độ enzyme catalase và hàm lượng proline. Kết quả cho thấy, trong điều kiện xử lý mặn, hàm lượng chlorophyll a trong lá ở các dòng lúa chọn tạo mới giảm từ 6,30 - 6,97 μg/cm² (hoặc 0,87 - 1,06 μg/mg), tương đương với giống đối chứng Pokkali và Trắng Cụt, trong khi IR29 và Bắc Thơm số 7 giảm mạnh hơn, dao động 10,65 - 11,20 μg/cm² (hoặc 0,24 - 0,28 μg/mg). Hàm lượng chlorophyll b giảm nhẹ hơn, trong khoảng 1,10 - 2,33 μg/cm² (hoặc 0,13 - 0,28 μg/mg), với sự khác biệt giữa các dòng/giống không đáng kể. Tỷ lệ nước trong lá ở các dòng lúa mới dao động từ 76,60 - 79,03%, tương đương giống Pokkali và Trắng Cụt, trong khi IR29 thấp nhất (39,93%) và Bắc Thơm số 7 là 64,83%. Hoạt độ enzyme catalase giảm từ 5,17 - 6,84 U/g ở các dòng lúa mới, tương đương giống đối chứng Pokkali và Trắng Cụt, trong khi IR29 và Bắc Thơm số 7 giảm mạnh hơn, 10,73 - 11,13 U/g. Hàm lượng proline trong lá tăng từ 1,02 - 1,13 μM/g ở các dòng chịu mặn mới, thấp nhất ở Pokkali và Trắng Cụt (0,75 - 0,82 μM/g) và cao nhất ở IR29 và Bắc Thơm số 7 (1,50 - 1,65 μM/g). Các chỉ tiêu sinh lý và sinh hóa này cung cấp thông tin định lượng quan trọng về phản ứng của các dòng lúa dưới stress mặn và là cơ sở khoa học cho các nghiên cứu tiếp theo về sàng lọc, chọn tạo và lựa chọn giống lúa có khả năng chịu mặn.
-
ĐÁNH GIÁ TÍNH ĐA HÌNH VÀ MỐI QUAN HỆ DI TRUYỀN CỦA MỘT SỐ LOÀI DÂY THÌA CANH (Gymnema sylvestre (Retz.) R.Br. ex Sm., Gymnema yunnanense Tsiang, Gymnema latifolium Wall. ex Wight) ĐƯỢC BẢO TỒN TẠI VIỆT NAM BẰNG CHỈ THỊ SSR (SIMPLE SEQUENCE REPEATS)
Abstract : 120 PDF: 0Nghiên cứu này được thực hiện nhằm đánh giá đa dạng di truyền và xác định mối quan hệ giữa 15 mẫu Dây thìa canh, thuộc 3 loài: Gymnema sylvestre (Retz.) R.Br. ex Sm., Gymnema yunnanense Tsiang, Gymnema latifolium Wall. ex Wight được bảo tồn tại Việt Nam bằng 24 chỉ thị SSR. ADN tổng số được tách chiết từ lá non và khuếch đại PCR với các cặp mồi SSR. Sản phẩm PCR đa hình được phân tích bằng điện di trên gel polyacrylamide. Kết quả phân tích ma trận tương đồng di truyền (hệ số Jaccard) cho thấy mức độ tương đồng dao động từ 0,08 (giữa M3 và M12) đến 0,56 (giữa M4 và M6), với giá trị trung bình là 0,28, phản ánh sự đa dạng di truyền đáng kể trong tập đoàn mẫu. Cây phân loại di truyền xây dựng bằng phương pháp UPGMA đã chia 15 mẫu thành hai nhóm chính ở mức tương đồng khoảng 0,25 - 0,28. Nhóm I bao gồm 11 mẫu (M1, M2, M3, M4, M5, M6, M8, M10, M11, M13, M15) và nhóm II gồm 4 mẫu (M7, M9, M12, M14), với các phân nhóm nhỏ hơn thể hiện sự phân hóa di truyền rõ rệt. Các cặp mẫu có độ tương đồng cao M4 - M6: 0,56; M1 - M5: 0,53 và thấp M3 - M12: 0,08 đã được xác định. Kết quả nghiên cứu cung cấp những dẫn liệu khoa học quan trọng về nguồn gen Dây thìa canh tại Việt Nam, làm cơ sở cho công tác bảo tồn, quản lý, khai thác hiệu quả và định hướng cho các chương trình chọn tạo giống trong tương lai.
-
NGHIÊN CỨU ĐẶC ĐIỂM NÔNG SINH HỌC NGUỒN GEN MƯỚP ĐẮNG RỪNG MẮC KHÁY KHAU, TỈNH THÁI NGUYÊN
Abstract : 147 PDF: 0Mướp đắng rừng tên địa phương Mắc Kháy Khau (Momordica charantia L. var. abbreviata Ser.) là nguồn gen bản địa phân bố tự nhiên tại tỉnh Thái Nguyên (Bắc Kạn cũ), được sử dụng vừa làm rau vừa làm dược liệu. Nghiên cứu về một số đặc diểm nông sinh học cho thấy, giống cây này sinh trưởng khỏe với chu kỳ từ tháng 2 đến tháng 11 hằng năm, cây ít bị sâu, bệnh hại, đặc biệt là bệnh phấn trắng và sương mai. Quả nhỏ (chiều dài: 50,1 ± 6,54 mm; đường kính: 35,02 ± 4,74 mm; khối lượng: 11,41 ± 0,82 g), hình bầu dục đến thoi, bề mặt có u vấu và gai. Hạt đa giác, màu nâu sẫm, khối lượng 100 hạt đạt 11,0 g, tỷ lệ nảy mầm 81,14%. Năng suất quả tươi 266,43 ± 25,74 g/cây, tương đương 4,56 tấn/ha. Đánh giá cảm quan cho thấy, quả có hương thơm dịu (4,64/5 điểm) và vị đắng nhẹ kèm hậu ngọt (4,84/5 điểm). Phân tích hóa sinh cho thấy, hàm lượng saponin (62,40 mg/g) và hợp chất phenolic (11,4%) cao, cùng nhiều vitamin (A, B6, C) và khoáng chất thiết yếu (Ca, Mg, Fe, K); không phát hiện kim loại nặng hay độc tố vượt ngưỡng an toàn. Nguồn gen cây mướp bản địa này có tiềm năng và lợi thế sản xuất sản phẩm rau giá trị cao, thực phẩm chức năng và dược liệu, đồng thời góp phần bảo tồn đa dạng sinh học địa phương.
-
ĐẶC ĐIỂM SINH HỌC CỦA CÂY MẮC MẬT (Clausenna indica (Dalzell) Oliv.) TẠI MỘT SỐ TỈNH MIỀN NÚI PHÍA BẮC, VIỆT NAM
Abstract : 199 PDF: 0Nghiên cứu đánh giá đặc điểm sinh học của cây Mắc mật (Clausena indica (Dalzell) Oliv.) 15 năm tuổi tại 3 tỉnh miền núi phía Bắc (gồm: Thái Nguyên, Cao Bằng, Lạng Sơn) trên 2 loại đất (gồm: Đất feralit đồi và đất núi đá vôi). Về hình thái, cây gỗ nhỏ thường xanh, lá kép lông chim, lá chét hình bầu dục có nhiều đốm tuyến tinh dầu; hoa nhỏ, lưỡng tính, gồm 5 lá đài - 5 cánh, 10 nhị, bầu trên 3 ô, nhụy dài 3,2 - 3,3 mm; quả mọng hình cầu đường kính 10,8 - 11,8 mm, vỏ mỏng nhiều tuyến tinh dầu; hạt bầu dục. Kích thước hoa và quả biến động nhẹ theo lập địa, trong khi các đặc điểm cấu trúc của hoa và quả ổn định giữa các vùng. Về đặc điểm sinh trưởng, cây có 3 đợt ra lộc chính (Xuân, hè, thu), sinh trưởng nhanh hơn trên đất núi đá vôi. Các chỉ tiêu chất lượng (Ca, K, protein, đường tổng số, polyphenol, flavonoid, tinh dầu, vitamin C và β -caroten) cao hơn rõ rệt trên đất núi đá vôi, phản ánh khả năng hấp thu khoáng và tổng hợp hợp chất thứ cấp tốt hơn ở các dạng lập địa khác. Kết quả nghiên cứu đã khẳng định tính dẻo sinh lý - sinh hóa cao của loài và cung cấp cơ sở khoa học cho quy hoạch vùng nguyên liệu để sản xuất tinh dầu, dược liệu và thực phẩm chức năng từ lá và quả cây Mắc mật tại một số tỉnh miền núi phía Bắc.
-
ỨNG DỤNG KỸ THUẬT NUÔI CẤY MÔ TẾ BÀO TRONG NHÂN GIỐNG CHUỐI PHẤN VÀNG (Musa x paradisiaca var.)
Abstract : 103 PDF: 0Nghiên cứu này tập trung vào ứng dụng kỹ thuật nuôi cấy mô tế bào trong nhân giống chuối Phấn vàng - đặc sản của tỉnh Phú Thọ, gồm: Nghiên cứu ảnh hưởng của nồng độ Ca(ClO)2 và thời gian xử lý đến hiệu quả khử trùng mẫu; ảnh hưởng của nồng độ BAP đến khả năng tạo chồi của mẫu cấy; ảnh hưởng của nồng độ BAP và IBA đến hiệu quả nhân nhanh trong nuôi cấy và ảnh hưởng của than hoạt tính đến sự hình thành rễ của chồi nhân. Thí nghiệm được bố trí hoàn toàn ngẫu nhiên với 3 lần lặp lại. Kết quả thu được như sau: Ca(ClO)2 cho hiệu quả khử trùng tốt nhất ở nồng độ 4%, trong 15 phút với tỷ lệ mẫu sống, sạch nấm khuẩn là 71,4%. BAP cho hiệu quả tạo chồi và chất lượng chồi cao nhất ở nồng độ 5,0 mg/l; tổ hợp BAP 5,0 mg/l và IBA 2,0 mg/l cho hiệu quả nhân nhanh tối ưu với hệ số nhân đạt 5,2; chiều cao chồi đạt 5,4 cm và số lá/chồi trung bình là 4,1. Công thức tối ưu cho môi trường ra rễ là MS + 1,0 mg/l IBA + 1,0 - 1,5 g/l than hoạt tính.
-
NGHIÊN CỨU NHÂN GIỐNG CÂY CHÈ MÓNG RỒNG (Camellia caudata) BẰNG PHƯƠNG PHÁP GIÂM HOM
Abstract : 144 PDF: 0Nghiên cứu được thực hiện nhằm xác định ảnh hưởng của chất điều hòa sinh trưởng, loại hom và mùa vụ đến khả năng ra rễ của hom cây Chè móng rồng (Camellia caudata) trong nhân giống bằng phương pháp giâm hom. Thí nghiệm được bố trí theo phương pháp ngẫu nhiên với các yếu tố gồm: Hai loại chất điều hòa sinh trưởng (IBA và NAA) ở 4 nồng độ (500 - 2.000 ppm); 3 vị trí hom trên cành (ngọn, giữa, gốc) được lấy từ 2 loại cây mẹ (chưa và đã thành thục sinh sản); 4 mùa vụ giâm hom (xuân, hè, thu, đông). Kết quả cho thấy, cả IBA và NAA đều có tác dụng kích thích ra rễ, trong đó IBA ở nồng độ 1.500 ppm cho hiệu quả cao nhất, với tỷ lệ ra rễ 73,3%, số rễ trung bình 8,9 rễ/hom, chiều dài rễ 4,4 cm và chỉ số rễ 39,2 (p < 0,001). Hom giữa và gốc cành từ cây chưa thành thục sinh sản cho tỷ lệ sống, tỷ lệ ra rễ và chỉ số rễ cao nhất (34,8 - 45,9), trong khi hom ngọn và hom từ cây đã thành thục cho kết quả thấp hơn rõ rệt. Mùa vụ ảnh hưởng đáng kể đến khả năng ra rễ, với vụ xuân và vụ thu là 2 thời điểm thích hợp nhất, cho tỷ lệ ra rễ cao (73,3 - 76,7%) và chỉ số ra rễ lớn (35,3 - 37,8). Nghiên cứu khẳng định việc kết hợp IBA 1.500 ppm, hom gốc hoặc giữa cành từ cây chưa thành thục sinh sản và giâm hom vào vụ xuân hoặc vụ thu là biện pháp tối ưu cho nhân giống vô tính cây Chè móng rồng, góp phần nâng cao hiệu quả sản xuất giống và bảo tồn nguồn gen loài cây quý này.
-
NHÂN GIỐNG CÂY TRÀ HOA ĐỎ CÁNH ĐƠN (Camellia rubriflora) BẰNG PHƯƠNG PHÁP GIÂM
Abstract : 212 PDF: 0Trà hoa đỏ cánh đơn (Camellia rubriflora) là loài đặc hữu, lần đầu tiên được tìm thấy và mô tả vào năm 1998 tại Vườn Quốc gia Tam Đảo, có hoa đỏ cánh đơn, giá trị cảnh quan và bảo tồn cao. Nghiên cứu được thực hiện nhằm đánh giá ảnh hưởng của thời vụ giâm, giá thể và nồng độ α-NAA đến khả năng ra rễ của cành giâm trà hoa đỏ cánh đơn (C. rubriflora), một loài thực vật bản địa có giá trị bảo tồn cao tại Việt Nam. Ba thí nghiệm độc lập được bố trí theo kiểu khối hoàn toàn ngẫu nhiên, mỗi thí nghiệm gồm 4 đến 5 công thức, với 3 lần lặp lại. Các chỉ tiêu được theo dõi gồm tỷ lệ sống, tỷ lệ ra rễ, số rễ/hom và chiều dài rễ sau 120 ngày giâm. Kết quả cho thấy, thời vụ giâm vào vụ xuân (tháng 2 - 3), sử dụng giá thể gồm 50% đất + 50% trấu hun và xử lý cành bằng dung dịch α-NAA nồng độ 150 ppm cho hiệu quả cao nhất, với tỷ lệ ra rễ đạt 72,3%, số rễ trung bình 5,1 rễ/cây và tỷ lệ sống 77,8%. Đây là cơ sở khoa học phục vụ cho việc nhân giống vô tính loài trà hoa đỏ cánh đơn (C. rubriflora)nhằm bảo tồn và phát triển nguồn gen quý hiếm.
-
NGHIÊN CỨU NHÂN GIỐNG IN VITRO LOÀI SÂM CAU (Curculigo orchioides Gaertn.) THU THẬP TỪ PHƯỜNG HÒA BÌNH, TỈNH PHÚ THỌ
Abstract : 191 PDF: 0Sâm cau (Curculigo orchioides Gaertn.) là một loài cây dược liệu quý, được sử dụng nhiều trong y học cổ truyền. Hiện nay, Sâm cau đang bị cạn kiệt ngoài tự nhiên và được xếp hạng nguy cấp EN trong Sách đỏ Việt Nam năm 2024. Vì vậy, việc áp dụng phương pháp nhân giống in vitro sẽ góp phần bảo tồn và phát triển loài cây này. Lát cắt mỏng ngang thân rễ (LCM) và mảnh lá in vitro (ML) được sử dụng làm vật liệu nhân giống trên môi trường Murashige và Skoog (MS) chứa 3% sucrose, 0,1% than hoạt tính, 0,7% agar. 6-benzylaminopurine (BAP), thidiazuron (TDZ) nồng độ 0,5 - 2 mg/l kết hợp với indole butyric acid (IBA), α-naphthalene acetic axit (NAA) ở nồng độ 0,5 mg/l được sử dụng để đánh giá khả năng tạo mô sẹo, tái sinh chồi, tạo cây hoàn chỉnh. Kết quả cho thấy: Sử dụng HgCl2 0,1% để khử trùng mẫu thân rễ trong 16 phút cho 83,33% mẫu sạch hữu hiệu sau 4 tuần nuôi cấy. Môi trường MS + 1,5 mg/l TDZ + 0,5 mg/l IBA là thích hợp cho tái sinh chồi trực tiếp từ LCM và ML (tỷ lệ tái sinh chồi 98,9 - 100%, 5,72 - 7,85 chồi/mẫu và 4,85 - 5,39 cm/chồi). Môi trường cảm ứng tạo mô sẹo từ LCM và LC gồm MS + 1,5 - 2 mg/l IBA + 1 mg/l TDZ (với 100% mẫu tạo mô sẹo, 92,22 - 100% mẫu tái sinh chồi và 3,67 - 4,63 chồi/mẫu sau 10 tuần nuôi cấy). Tái sinh chồi từ mô sẹo trên môi trường MS 1,0 mg/l TDZ + 0,5 mg/l NAA) bổ sung 3% sucrose, 0,1% than hoạt tính, 0,7% agar (đạt 97,78% mô sẹo tái sinh chồi, 9,97 chồi/mẫu và 4,41 cm/chồi). Cây con hoàn chỉnh được hình thành trên môi trường MS có bổ sung 1,5 mg/l IBA (với 97,78% chồi ra rễ, 7,13 rễ/chồi, chiều dài rễ 5,33 cm, rễ to mập, trắng, phân nhánh nhiều). Cây mô được ra ngôi trên giá thể gồm đất tầng B, trấu và xơ dừa (2: 1: 1) cho tỷ lệ cây sống 83,33%, lượng tăng trưởng chiều cao 2,04 cm sau 1 tháng trồng.
-
NGHIÊN CỨU NHÂN GIỐNG IN VITRO CÂY GỪNG GIÓ (Zingiber zerumbet (L.) Roscoe ex Sm.)
Abstract : 209 PDF: 0Nghiên cứu này nhằm xây dựng quy trình nhân giống in vitro cây Gừng gió (Zingiber zerumbet (L.) Roscoe ex Sm.) bằng kỹ thuật nuôi cấy mô tế bào thực vật. Kết quả cho thấy, xử lý khử trùng mẫu bằng cồn 70% trong 60 giây, sau đó khử trùng bằng natri dichloroisocyanurate (NaDCC) ở nồng độ 0,5% trong 15 phút, cho tỷ lệ mẫu sạch đạt 76,67% và tỷ lệ mẫu củ tái sinh chồi 91,30% khi cấy trên môi trường MS bổ sung 0,1 mg/L BAP. Giai đoạn tạo cụm chồi đạt hiệu quả cao nhất trên môi trường MS có bổ sung 1,0 mg/L BAP, 0,5 mg/L kinetin và 30 g/L sucrose, với trung bình 5,37 chồi/mẫu và chiều cao chồi đạt 46 mm sau 8 tuần nuôi cấy. Giai đoạn tạo rễ đạt tỷ lệ chồi ra rễ 100%, trung bình 8,77 rễ/cây trên môi trường MS bổ sung 0,5 mg/L NAA và 30 g/L sucrose sau 4 tuần. Cây con hoàn chỉnh được trồng trên giá thể gồm đất, trấu hun và mụn dừa theo tỷ lệ 1: 1: 1, cho tỷ lệ sống 98,33% và chiều cao trung bình 93,11 mm sau 8 tuần ra ngôi. Quy trình nhân giống in vitro này có thể được ứng dụng hiệu quả trong sản xuất quy mô lớn cây giống Gừng gió chất lượng cao, phục vụ công tác bảo tồn và phát triển nguồn dược liệu quý.
-
ĐẶC ĐIỂM HÌNH THÁI, SINH TRƯỞNG VÀ NĂNG SUẤT CÁC MẪU GIỐNG NGHỆ TRẮNG (Curcuma aromatica Salisb.) TRỒNG TẠI TỈNH QUẢNG NINH
Abstract : 227 PDF: 0Nghiên cứu này nhằm đánh giá đặc điểm hình thái, sinh trưởng và năng suất của 24 mẫu giống nghệ trắng thu thập từ 6 vùng sinh thái và trồng khảo nghiệm tại thành phố Cẩm Phả, tỉnh Quảng Ninh (nay là phường Mông Dương, Quang Hanh, Cẩm Phả, Cửa Ông, Móng Cái 1, tỉnh Quảng Ninh). Thí nghiệm được bố trí theo kiểu khối ngẫu nhiên đầy đủ với 3 lần nhắc lại, có diện tích mỗi ô 20 m². Kết quả cho thấy các mẫu giống có sự khác biệt rõ rệt về hầu hết các chỉ tiêu nghiên cứu, phản ánh tính đa dạng di truyền cao của nguồn vật liệu khảo nghiệm. Dựa trên các đặc điểm hình thái, sinh trưởng, năng suất, và thời gian sinh trưởng, các mẫu giống được phân thành 2 nhóm chính. Nhóm dài ngày (285 - 295 ngày), chủ yếu có nguồn gốc từ tỉnh Cao Bằng và Lào Cai, thể hiện ưu thế rõ rệt về chiều cao cây, lá xanh đậm, diện tích lá, sinh khối tích lũy, và năng suất, đạt 19,8 - 21,7 tấn/ha. Ngược lại, nhóm ngắn ngày (265 - 275 ngày), có nguồn gốc từ tỉnh Phú Yên và Gia Lai (nay là tỉnh Đắc Lắc và Gia Lai), có sinh trưởng hạn chế, phiến lá nhỏ và mỏng và năng suất thấp hơn, trung bình khoảng 15 tấn/ha. Đáng chú ý, 4 mẫu giống có nguồn gốc từ tỉnh Cao Bằng cho thấy sinh trưởng ổn định, số lá và diện tích lá lớn, năng suất cá thể cao (1,90 - 2,23 kg/khóm) và năng suất thực thu đạt 21,61 tấn/ha, cao hơn 18,5% so với trung bình khảo nghiệm và vượt trên 40% so với nhóm mẫu giống có nguồn gốc từ tỉnh Phú Yên và Gia Lai. Kết quả này cho thấy tiềm năng của các mẫu giống triển vọng, làm cơ sở cho tuyển chọn và nhân rộng trong sản xuất.
-
ĐÁNH GIÁ ẢNH HƯỞNG CỦA MỘT SỐ ĐIỀU KIỆN GIÂM HOM ĐỂ SẢN XUẤT CÂY GIỐNG TẾ TÂN LÁ TIM (Asarum cordifolium C.E.C. FISHER) BẰNG KỸ THUẬT NHÂN GIỐNG VÔ TÍNH TẠI VƯỜN QUỐC GIA HOÀNG LIÊN, TỈNH LÀO CAI
Abstract : 208 PDF: 0Tế tân lá tim (Asarum cordifolium C.E.C. Fisher) là cây thuốc quý được đồng bào Dao Đỏ sử dụng trong bài thuốc tắm chữa bại liệt, đồng thời thân rễ và rễ được dùng trị vết thương nhiễm trùng, trĩ, ho và sốt ở trẻ em. Loài này được xếp hạng “Nguy cấp” (EN) trong Danh lục Đỏ cây thuốc Việt Nam (2019) do phân bố hẹp, bị khai thác quá mức và suy giảm sinh cảnh tự nhiên. Nghiên cứu này được thực hiện nhằm xác định ảnh hưởng của nồng độ chất điều hòa sinh trưởng IBA, vị trí cắt hom, chiều dài hom và loại giá thể đến khả năng ra rễ của hom Tế tân lá tim. Thí nghiệm được tiến hành tại Vườn Quốc gia Hoàng Liên trong thời gian 3 tháng, hom được giâm trong túi bầu PE, duy trì ẩm độ 80 - 90% dưới điều kiện râm mát. Kết quả cho thấy, cả 4 yếu tố nghiên cứu đều ảnh hưởng rõ rệt đến tỷ lệ và chất lượng ra rễ. Nồng độ IBA 200 ppm cho hiệu quả cao nhất, với tỷ lệ ra rễ 92%, 7,33 rễ/hom, chiều dài rễ trung bình 10,65 cm. Hom ngọn có kết quả vượt trội với tỷ lệ ra rễ 89,93%, trong khi hom dài 8 cm đạt 91,3% ra rễ, 7,31 rễ/hom và 10,54 cm chiều dài rễ. Giá thể đất vườn + phân chuồng (5: 1) là công thức tối ưu, đạt 86% ra rễ, 7,47 rễ/hom, 10,89 cm chiều dài rễ. Kết quả nghiên cứu cung cấp cơ sở khoa học và kỹ thuật cho công tác nhân giống vô tính và bảo tồn loài Tế tân lá tim, góp phần phục hồi quần thể tự nhiên và phát triển bền vững nguồn dược liệu quý hiếm của Việt Nam.
-
VI NHÂN GIỐNG CÚC MÂM XÔI HÀN QUỐC (Chrysanthemum morifolium) TẠI XÃ CHÂU THÀNH, TỈNH AN GIANG
Abstract : 169 PDF: 0Cúc mâm xôi Hàn Quốc (Chrysanthemum morifolium) thuộc họ cúc (Asteraceae). Ở Việt Nam, cúc mâm xôi Hàn Quốc được du nhập và ưa chuộng với nhiều màu sắc rực rỡ, mang lại hiệu quả kinh tế cao. Hiện nay chưa có quy trình riêng biệt vi nhân giống cúc mâm xôi Hàn Quốc. Nhằm khảo sát ảnh hưởng của nồng độ BAP (mg/L) lên khả năng nhân nhanh chồi, nồng độ NAA (mg/L) lên sự hình thành rễ và tỷ lệ giá thể đến việc thuần dưỡng cây con ex vitro cây cúc mâm xôi Hàn Quốc. Kết quả cho thấy, môi trường MS có bổ sung BAP 0,5 mg/L là tốt nhất cho việc hình thành chồi (20,11 chồi/mẫu), chiều cao trung bình là 4,89 cm và số lá là 1,13 lá/mẫu. Môi trường MS có bổ sung NAA 1,5 mg/L cho số rễ tốt nhất (20,44 rễ/mẫu), chiều dài rễ trung bình 2,75 cm và số lá hoàn chỉnh là 17,22 lá/mẫu. Tỷ lệ giá thể phù hợp để thuần dưỡng cây cúc mâm xôi Hàn Quốc ngoài vườn ươm là 30% đất tribat, 60% xơ dừa, 10% cát, đạt tỷ lệ sống 100%, chiều cao cây trung bình là 6,43 cm, số lá hoàn chỉnh là 22,17 lá/mẫu.
-
NGHIÊN CỨU NHÂN GIỐNG BẠCH ĐÀN CHANH (Corymbia citriodora (Hook.) K.D.Hill & L.A.S.Johnson) BẰNG PHƯƠNG PHÁP NUÔI CẤY MÔ TẾ BÀO
Abstract : 209 PDF: 0Corymbia citriodora, thường được biết đến với tên gọi Bạch đàn chanh, là loài cây có giá trị kinh tế cao nhờ vào tinh dầu và khả năng sinh trưởng nhanh. Nghiên cứu này trình bày kết quả khảo sát ban đầu về khả năng nhân giống vô tính loài C. citriodora bằng kỹ thuật nhân giống in vitro. Các đoạn chồi bánh tẻ thu từ cây mẹ 1,5 - 2 năm tuổi được xử lý khử trùng và nuôi trên các môi trường MS cải tiến có bổ sung chất điều hòa sinh trưởng. Xử lý bằng HgCl₂ 0,1% trong 4 phút đạt hiệu quả khử trùng tốt nhất, với 67,78% mẫu sạch; tỷ lệ nhiễm và chết thấp (14,44% và 15,56%) và tỷ lệ nảy chồi hữu hiệu 27,78%. Trong khi đó, xử lý bằng Javel 5% trong 6 phút cho tỷ lệ nảy chồi hữu hiệu thấp hơn, chỉ đạt 25,56%. Sự tái sinh chồi tốt nhất được ghi nhận trên môi trường MS* (MS cải tiến). Môi trường nhân chồi tối ưu cho C. citriodora là MS* bổ sung 0,5 mg/l BAP + 0,5 mg/l NAA + 30 g/l đường sucrose + 5,5 g/l thạch agar, đạt hệ số nhân chồi trung bình là 2,45 và chiều dài chồi trung bình là 2,98 cm. Môi trường thích hợp nhất cho ra rễ là 1/2 MS* bổ sung 2 mg/l IBA + 0,75 mg/l ABT + 30 g/l đường sucrose + 5,5 g/l thạch agar, với tỷ lệ ra rễ đạt 84,44%, trung bình 3,15 rễ/chồi và chiều dài rễ trung bình 1,62 cm. Những kết quả này khẳng định tính khả thi trong nhân giống bằng phương pháp nuôi cấy mô tế bào cho C. citriodora, tạo tiền đề cho việc nhân giống quy mô lớn, bảo tồn các giống ưu trội và có giá trị cao.
-
NGHIÊN CỨU KỸ THUẬT NHÂN GIỐNG CĂM XE (Xylia xylocarpa (Roxb.) Taub.) BẰNG PHƯƠNG PHÁP GIÂM HOM
Abstract : 99 PDF: 0Căm xe (Xylia xylocarpa (Roxb.) Taub.) là loài cây gỗ quý thuộc họ Đậu (Fabaceae), có giá trị kinh tế, sinh thái và dược liệu cao. Tuy nhiên, các quần thể tự nhiên của loài đã và đang suy giảm nghiêm trọng do khai thác quá mức. Nghiên cứu này nhằm xác định các thông số kỹ thuật tối ưu cho nhân giống vô tính Căm xe bằng phương pháp giâm hom bao gồm: Loại và nồng độ chất điều hòa sinh trưởng, loại hom, giá thể và thời vụ giâm. Thí nghiệm cho thấy, IBA ở nồng độ 1.500 ppm cho tỷ lệ ra rễ cao nhất (35,9%), với số rễ trung bình 3,7 rễ/hom và chiều dài rễ 4,4 cm. Hom non đạt hiệu quả ra rễ vượt trội (54,4%) so với hom già (22,2%). Giá thể cát vàng giúp tăng tỷ lệ ra rễ lên 36,7% cao hơn giá thể hỗn hợp đất (28,9%). Thời vụ giâm thích hợp nhất là mùa hè với tỷ lệ ra rễ trung bình 40,4%. Các kết quả nghiên cứu cho thấy, việc sử dụng hom non, xử lý IBA 1.500 ppm và giâm trên giá thể cát vàng vào mùa hè là kỹ thuật tối ưu trong điều kiện thí nghiệm, giúp nâng tỷ lệ ra rễ khoảng 36 - 40% và có thể áp dụng bước đầu cho nhân giống vô tính Căm xe phục vụ phụ hồi và gây trồng; tuy nhiên, tỷ lệ ra rễ vẫn còn ở mức trung bình so với yêu cầu sản xuất giống quy mô lớn, do đó cần tiếp tục nghiên cứu hoàn thiện thêm các yếu tố kỹ thuật khác để nâng cao hơn nữa hiệu quả nhân giống.
-
KẾT QUẢ BƯỚC ĐẦU NGHIÊN CỨU PHÂN LY GIỚI TÍNH TINH LỢN MÓNG CÁI HƯỚNG CÁI
Abstract : 70 PDF: 0Nghiên cứu nhằm đánh giá hiệu quả phân ly giới tính tinh dịch lợn Móng Cái hướng cái bằng bằng cột dung dịch percoll. Hai thí nghiệm được thực hiện gồm: (i) Xác định các chỉ tiêu tinh dịch của tinh lợn trước và sau phân ly giới tính và (ii) Thụ tinh nhân tạo lợn Móng Cái bằng tinh phân ly giới tính hướng cái. Ở thí nghiệm 1, sáu lợn đực giống Móng Cái có độ tuổi từ 12 - 24 tháng, có sức khỏe tốt, được huấn luyện khai thác tinh nhân tạo bằng phương pháp mát xa kết hợp giá nhảy. Ở thí nghiệm 2, sử dụng 100 lợn nái Móng Cái đã đẻ một lứa với tổng số con sinh ra ≥ 12 con, không có con bị dị tật, lợn con không bị đẻ non hoặc chết lưu. Đối với lô lợn nái thí nghiệm, tinh lợn sử dụng để thụ tinh nhân tạo được phân ly giới tính giúp làm giàu tỷ lệ tinh trùng X áp dụng phương pháp phân ly qua cột dung dịch percoll, mỗi lợn nái được phối hai liều sáng - chiều hoặc chiều - sáng, tổng số tinh trùng trong một liều tinh ≥ 1 tỷ. Lợn nái lô đối chứng được thụ tinh bằng tinh pha loãng không phân ly giới tính. Kết quả cho thấy, các chỉ tiêu tinh dịch của các mẫu tinh lợn đực giống Móng Cái sử dụng để phân ly giới tính hướng cái là 174,59 ± 10,63 ml; 83,38 ± 3,56%; 286,95 ± 7,93 triệu tinh trùng/ml; 50.312,12 ± 3.310,36 triệu tinh trùng; 12,67 ± 1,52%, tương ứng với thể tích tinh dịch, hoạt lực tinh trùng, nồng độ tinh trùng, tổng số tinh trùng thu nhận, tỷ lệ tinh trùng kỳ hình. Các chỉ tiêu tinh dịch của các mẫu tinh lợn đực giống Móng Cái thu nhận sau phân ly giới tính gồm: Hoạt lực tinh trùng lớp tinh thu nhận, nồng độ tinh trùng lớp tinh thu nhận, tỷ lệ tinh thu nhận/tổng số tinh ban đầu, tỷ lệ tinh trùng kỳ hình lớp tinh thu nhận, số liều tinh phân ly giới tính sản xuất được trong một lần khai thác tinh lần lượt là 91,12 ± 3,48%; 95,90 ± 5,45 triệu tinh trùng/ml; 14.385,00 ± 818,28 triệu tinh trùng; 28,76 ± 2,48%; 4,65 ± 0,61%, 14 ± 1 liều. Các chỉ tiêu sinh sản của lợn Móng Cái phối tinh giới tính hướng cái với số con sơ sinh đẻ ra/ổ là 14,06 ± 1,41 con với tỷ lệ con cái lứa đẻ 72,21 ± 3,10%.
-
ẢNH HƯỞNG TƯƠNG TÁC GIỮA CÁC KIỂU GEN H-FABP TẠI CÁC VỊ TRÍ ĐA HÌNH HAEIII, MSPI VÀ HINFI LÊN MỘT SỐ TÍNH TRẠNG SINH TRƯỞNG VÀ CHẤT LƯỢNG THỊT Ở GIỐNG LỢN DUROC
Abstract : 186 PDF: 0Mục tiêu của nghiên cứu này là đánh giá ảnh hưởng tương tác của các kiểu gen H-FABP tại các vị trí đa hình HaeIII, MspI và HinfI lên tuổi đạt khối lượng 100 kg (D100), dày mỡ lưng (BF), dày thăn (LD) và tỷ lệ mỡ giắt (IMF) ở giống lợn Duroc. Tổng cộng 704 lợn nái và lợn đực hậu bị được kiểm tra năng suất cá thể và xác định kiểu gen H-FABP bằng phương pháp PCR-RFLP tại Trung tâm Nghiên cứu và Phát triển Chăn nuôi heo Bình Thắng. Kết quả cho thấy, tồn tại ảnh hưởng của các tương tác giữa các kiểu gen H-FABP/MspI và H-FABP/HaeIII và H-FABP/HinfI lên các tính trạng D100, BF, LD và IMF ở giống lợn Duroc. Để cải thiện khả năng sinh trưởng có thể sử dụng các kiểu gen các kiểu gen aaDDHh (143,3 ngày), AADdHH (144,7 ngày) và AAddHh (146,0 ngày). Trong khi đó, để cải thiện tỷ lệ mỡ giắt có thể sử dụng các cá thể mang kiểu gen AaDDHH (3,60%), AADDHH (3,53%) AADdHH (3,46%) và aaDDHH (3,34%). Nghiên cứu chứng minh rằng, tương tác đa locus tại các vị trí đa hình H-FABP ảnh hưởng đáng kể đến các tính trạng kinh tế quan trọng ở lợn Duroc. Những phát hiện này cung cấp cơ sở khoa học cho việc kết hợp các kiểu gen H-FABP vào các chiến lược chọn lọc hỗ trợ bằng chỉ thị phân tử nhằm nâng cao năng suất và chất lượng thịt trong các chương trình nhân giống lợn.
-
KHẢO SÁT TÌNH TRẠNG ĐẺ KHÓ VÀ HIỆU QUẢ ĐIỀU TRỊ Ở CHÓ CÁI TẠI BỆNH XÁ THÚ Y, TRƯỜNG CAO ĐẲNG CỘNG ĐỒNG ĐỒNG THÁP
Abstract : 210 PDF: 0Nghiên cứu này khảo sát tình hình đẻ khó ở chó cái, phân tích các đặc điểm liên quan và đánh giá hiệu quả của các phương pháp can thiệp tại Bệnh xá Thú y, Trường Cao đẳng Cộng đồng Đồng Tháp từ tháng 12/2023 đến tháng 6/2025. Trong số 120 chó cái được khám và điều trị sản khoa, 32 trường hợp được chẩn đoán đẻ khó, chiếm tỷ lệ 26,67%. Các đặc điểm chính bao gồm: Đẻ lứa đầu tiên (43,75%), tiền sử tiêm thuốc ngừa thai (18,75%), mang thai 1 - 2 con và phối giống không theo chủ ý của chủ (25%) và không thân thiện với chủ (12,5%). Về hiệu quả điều trị, tiêm oxytocin có tỷ lệ thành công thấp (25,0%), can thiệp bằng tay đạt tỷ lệ trung bình (66,67%), trong khi phẫu thuật mổ lấy thai cho kết quả thành công cao nhất (100%). Các tai biến lâm sàng thường gặp sau phẫu thuật bao gồm: Nôn ói sau tiền mê (82,8%), đứt chỉ và nhiễm trùng vết mổ (6,9%). Tình trạng chảy sữa nhiều trong lúc đẻ làm chậm quá trình lành vết thương sau phẫu thuật. Nghiên cứu nhấn mạnh sự cần thiết của chẩn đoán sớm, lựa chọn biện pháp can thiệp phù hợp và cải thiện điều kiện nuôi dưỡng để nâng cao hiệu quả điều trị và giảm thiểu rủi ro cho chó mẹ và chó con.
-
ẢNH HƯỞNG CỦA KHẨU PHẦN CHO ĂN LÊN SINH TRƯỞNG VÀ TỶ LỆ SỐNG CỦA CÁ MÚ LAI (♀ Epinephelus coioides x ♂ E. lanceolatus) GIAI ĐOẠN CÁ GIỐNG
Abstract : 167 PDF: 0Nghiên cứu này nhằm mục đích đánh giá ảnh hưởng của khẩu phần cho ăn lên sinh trưởng và tỷ lệ sống của cá mú lai (♀ Epinephelus coioides x ♂ E. lanceolatus) giai đoạn cá giống. Kích cỡ cá hương ban đầu là 2,30 ± 0,18 cm/con và 0,31 ± 0,03 g/con. Thí nghiệm được tiến hành trong 60 ngày, thiết kế ngẫu nhiên hoàn toàn với 5 nghiệm thức bao gồm: 5%, 8%, 11%, 14% khối lượng thân/ngày và đối chứng (cho ăn theo nhu cầu của cá) và 3 lần lặp lại. Bể thí nghiệm là bể composite 500 L/bể chứa 300 L nước biển với mật độ 300 con/bể. Kết quả cho thấy, tốc độ tăng trưởng về chiều dài và khối lượng cao nhất ở khẩu phần 11% khối lượng thân/ngày là 9,58 cm/con và 13,05 g/con. Hệ số chuyển đổi thức ăn đạt thấp nhất (1,85) ở khẩu phần cho ăn 5% khối lượng, cao nhất (3,61) ở khẩu phần đối chứng. Nghiệm thức cho ăn ở khẩu phần 11% khối lượng thân cũng cho tỷ lệ phân đàn về chiều dài và khối lượng thấp (CVL: 11,70% và CVW: 12,23%), tỷ lệ sống cao (63,36%). Như vậy, khẩu phần cho ăn phù hợp trong ương nuôi cá mú lai giai đoạn cá giống là 11% khối lượng thân để tối ưu tốc độ sinh trưởng và tỷ lệ sống.
-
ẢNH HƯỞNG CỦA NHIỆT ĐỘ, ĐỘ MẶN ĐẾN TỶ LỆ SỐNG VÀ TỐC ĐỘ SINH TRƯỞNG CỦA ẤU TRÙNG TÔM CÀNG SÔNG (Macrobrachium nipponense, de Haan 1849)
Abstract : 131 PDF: 0Tôm càng sông (Macrobrachium nipponense, de Haan 1849) là loài giáp xác nước ngọt có giá trị kinh tế cao và thuộc danh mục loài thủy sản được phép kinh doanh tại Việt Nam. Tuy nhiên, nguồn giống hiện nay chủ yếu dựa vào khai thác tự nhiên, chưa đáp ứng nhu cầu sản xuất. Nghiên cứu này được thực hiện nhằm đánh giá ảnh hưởng của độ mặn và nhiệt độ đến tỷ lệ sống và tốc độ sinh trưởng của ấu trùng tôm càng sông, qua đó cung cấp cơ sở khoa học cho việc hoàn thiện quy trình sản xuất giống nhân tạo. Hai thí nghiệm độc lập được bố trí: (i) thí nghiệm độ mặn với các mức 0, 5, 10, 15‰; (ii) thí nghiệm nhiệt độ với các mức 20, 25, 30, 35°C. Mỗi nghiệm thức được lặp lại 3 lần. Kết quả cho thấy, cả độ mặn và nhiệt độ đều ảnh hưởng đáng kể đến tỷ lệ sống và tốc độ sinh trưởng của ấu trùng. Độ mặn từ 0 - 5‰ cho tỷ lệ sống và tăng trưởng cao nhất, cao hơn có ý nghĩa thống kê so với các mức từ 10 - 15‰ (p < 0,05). Nhiệt độ từ 25 - 30°C là khoảng tối ưu cho quá trình ương nuôi, giúp ấu trùng sinh trưởng tốt và tỷ lệ sống cao. Nghiên cứu khuyến nghị duy trì độ mặn từ 0 - 5‰ và nhiệt độ từ 25 - 30°C trong giai đoạn ương ấu trùng nhằm nâng cao hiệu quả sản xuất giống tôm càng sông.
-
NGHIÊN CỨU ẢNH HƯỞNG TỶ LỆ ĐỰC CÁI VÀ ĐỘ MẶN ĐẾN TỶ LỆ THỤ TINH VÀ PHÁT TRIỂN ẤU TRÙNG RƯƠI (Tylorrhynchus heterochaetus)
Abstract : 180 PDF: 0Rươi (Tylorrhynchus heterochaetus Quatrefages, 1865) là loài thủy sản giàu dinh dưỡng, có giá trị kinh tế cao và thị trường tiêu thụ thuận lợi; đồng thời thuộc danh mục loài thủy sản được phép kinh doanh tại Việt Nam. Nghiên cứu này tiến hành hai thí nghiệm độc lập nhằm đánh giá ảnh hưởng tỷ lệ đực cái và độ mặn đến tỷ lệ thụ tinh và sự phát triển của ấu trùng rươi. Thí nghiệm thứ nhất đánh giá ảnh hưởng tỷ lệ đực cái với bốn nghiệm thức: 1 đực/2 cái; 1 đực/3 cái; 1 đực/4 cái và 1 đực/5 cái. Thí nghiệm thứ hai đánh giá ảnh hưởng độ mặn với bốn mức: 5, 10, 15 và 20‰. Thí nghiệm được thực hiện tại cơ sở sản xuất giống thủy sản của Hợp tác xã Dịch vụ nuôi trồng thuỷ sản Kim Sơn, xã Kim Đông, tỉnh Ninh Bình (thời gian từ tháng 3/2025 đến tháng 4/2025). Mỗi nghiệm thức được lặp lại 3 lần. Kết quả cho thấy tỷ lệ đực cái và độ mặn đều ảnh hưởng rõ rệt đến tỷ lệ thụ tinh và sự phát triển của ấu trùng rươi. Trong đó, độ mặn 10‰ kết hợp với tỷ lệ 1 đực/5 cái hoặc lệ 1 đực/4 cái cho kết quả tối ưu nhất về tỷ lệ thụ tinh và tốc độ phát triển ấu trùng, với sự khác biệt có ý nghĩa thống kê (p < 0,05). Kết quả nghiên cứu đã bổ sung những thông tin quan trọng, góp phần hoàn thiện quy trình sản xuất giống rươi trong điều kiện nhân tạo.








