ĐẶC ĐIỂM HÌNH THÁI, SINH TRƯỞNG VÀ NĂNG SUẤT CÁC MẪU GIỐNG NGHỆ TRẮNG (Curcuma aromatica Salisb.) TRỒNG TẠI TỈNH QUẢNG NINH

Các tác giả

  • Phan Xuân Bình Minh, Phạm Thanh Bách, Trần Anh Tuấn, Nguyễn Bá Hoạt, Lê Đức Thắng

DOI:

https://doi.org/10.71254/g0s5a453

Abstract

This study aimed to evaluate the morphological characteristics, growth performance and yield of 24 Curcuma aromatica Salisb. accessions collected from six different agro-ecological regions and tested under field conditions in Cam Pha city, Quang Ninh province, Vietnam. The experiment was arranged in a randomized complete block design with three replications, with a plot size of 20 m². The results revealed significant differences among accessions for most of the evaluated traits, indicating a high level of genetic diversity within the tested germplasm. Based on morphological traits, growth characteristics, yield components and growth duration, the accessions were classified into two main groups. The long-duration group (285 - 295 days), mainly originating from Cao Bang and Yen Bai provinces, exhibited clear advantages in plant height, dark green foliage, leaf area, biomass accumulation and yield, achieving 19.8 - 21.7 t ha⁻¹. In contrast, the short-duration group (265 - 275 days), originating from Phu Yen and Gia Lai provinces, showed restricted growth, smaller and thinner leaves and lower yields, averaging approximately 15.0 t ha⁻¹. Notably, four accessions from Cao Bang demonstrated stable growth, a higher number of leaves, larger leaf area, superior individual plant yield (1.90 - 2.23 kg clump⁻¹), and a harvested yield of 21.61 t ha⁻¹, which was 18.5% higher than the experimental mean and more than 40% greater than that of accessions from Phu Yen and Gia Lai province. These findings highlight the potential of elite white turmeric accessions and provide a scientific basis for accession selection and large-scale propagation in commercial production.

Keywords:

Curcuma aromatica, agro-morphological traits, growth and yield performance, accession evaluation.

Tóm tắt

Nghiên cứu này nhằm đánh giá đặc điểm hình thái, sinh trưởng và năng suất của 24 mẫu giống nghệ trắng thu thập từ 6 vùng sinh thái và trồng khảo nghiệm tại thành phố Cẩm Phả, tỉnh Quảng Ninh (nay là phường Mông Dương, Quang Hanh, Cẩm Phả, Cửa Ông, Móng Cái 1, tỉnh Quảng Ninh). Thí nghiệm được bố trí theo kiểu khối ngẫu nhiên đầy đủ với 3 lần nhắc lại, có diện tích mỗi ô 20 m². Kết quả cho thấy các mẫu giống có sự khác biệt rõ rệt về hầu hết các chỉ tiêu nghiên cứu, phản ánh tính đa dạng di truyền cao của nguồn vật liệu khảo nghiệm. Dựa trên các đặc điểm hình thái, sinh trưởng, năng suất, và thời gian sinh trưởng, các mẫu giống được phân thành 2 nhóm chính. Nhóm dài ngày (285 - 295 ngày), chủ yếu có nguồn gốc từ tỉnh Cao Bằng và Lào Cai, thể hiện ưu thế rõ rệt về chiều cao cây, lá xanh đậm, diện tích lá, sinh khối tích lũy, và năng suất, đạt 19,8 - 21,7 tấn/ha. Ngược lại, nhóm ngắn ngày (265 - 275 ngày), có nguồn gốc từ tỉnh Phú Yên và Gia Lai (nay là tỉnh Đắc Lắc và Gia Lai), có sinh trưởng hạn chế, phiến lá nhỏ và mỏng và năng suất thấp hơn, trung bình khoảng 15 tấn/ha. Đáng chú ý, 4 mẫu giống có nguồn gốc từ tỉnh Cao Bằng cho thấy sinh trưởng ổn định, số lá và diện tích lá lớn, năng suất cá thể cao (1,90 - 2,23 kg/khóm) và năng suất thực thu đạt 21,61 tấn/ha, cao hơn 18,5% so với trung bình khảo nghiệm và vượt trên 40% so với nhóm mẫu giống có nguồn gốc từ tỉnh Phú Yên và Gia Lai. Kết quả này cho thấy tiềm năng của các mẫu giống triển vọng, làm cơ sở cho tuyển chọn và nhân rộng trong sản xuất.

Từ khóa:

Nghệ trắng, đặc điểm nông sinh học, sinh trưởng và năng suất, đánh giá mẫu giống.

Ngày nhận bài:

09-01-2026

Ngày nhận bài sửa:

17-06-2026

Ngày duyệt đăng:

17-06-2026

Ngày xuất bản:

25-11-2025

Title:

MORPHOLOGICAL CHARACTERISTICS, GROWTH PERFORMANCE AND YIELD OF Curcuma aromatica Salisb. ACCESSIONS CULTIVATED IN QUANG NINH PROVINCE

Các trích dẫn

ĐẶC ĐIỂM HÌNH THÁI, SINH TRƯỞNG VÀ NĂNG SUẤT CÁC MẪU GIỐNG NGHỆ TRẮNG (Curcuma aromatica Salisb.) TRỒNG TẠI TỈNH QUẢNG NINH. (2025). Tạp Chí Nông nghiệp Và Môi trường, Tháng 11, 96-111. https://doi.org/10.71254/g0s5a453
Lượt xem
227
Lượt tải
0