Số 15 (2021)
Bài viết
-
KINH NGHIỆM TỪ CÁC SIÊU DỰ ÁN CHUYỂN NƯỚC TRÊN THẾ GIỚI ĐỐI VỚI CÁC VÙNG HẠN HÁN, THIẾU NƯỚC Ở VIỆT NAM
Abstract : 13 PDF: 13Hạn hán, thiếu nước đang là những thách thức lớn mà nhân loại phải đối mặt. Theo Ngân hàng Thế giới, dự báo đến năm 2030, khả năng cung cấp nước ngọt sẽ thiếu 40% so với nhu cầu sử dụng. Trong khi tổng lượng nước sẵn có trên toàn cầu vẫn tương đối ổn định, thì nhu cầu nước ngọt lại ngày càng tăng. Sự phân bố nguồn nước ngọt là không đồng đều cả về không gian và thời gian, và ngày càng mất cân đối do các tác động cực đoan của biến đổi khí hậu (BĐKH). Nhu cầu nước tăng cao làm gia tăng nguy cơ thiếu nước cả về số lượng và chất lượng vào một số thời điểm và địa điểm. Điều này đòi hỏi phải có những phương án chuyển nước từ những khu vực có nguồn nước dư thừa sang những khu vực khan hiếm hơn và giải pháp công trình thủy lợi đang là lựa chọn ưu tiên của nhiều quốc gia. Trên thế giới, đã có những siêu dự án chuyển nước được thực hiện với nguồn đầu tư khổng lồ. Những kinh nghiệm từ các siêu dự án là bài học để Việt Nam đề xuất các giải pháp chuyển nước thực tiễn nhằm ứng phó với tình trạng hạn hán, thiếu nước.
-
GIẢI PHÁP CẤP NƯỚC SẠCH NÔNG THÔN VÙNG ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG TRONG ĐIỀU KIỆN BỊ ẢNH HƯỞNG CỦA HẠN HÁN, XÂM NHẬP MẶN
Abstract : 8 PDF: 10Nghiên cứu đánh giá hiện trạng cấp nước sinh hoạt nông thôn, ảnh hưởng của hạn hán, xâm nhập mặn đến cấp nước sinh hoạt nông thôn tại vùng đồng bằng sông Cửu Long từ đó có nhận định về các vấn đề cấp thiết hiện nay trong cấp nước sinh hoạt đó là: Nguồn nước khai thác đang bị ô nhiễm, xâm nhập mặn, suy thoái; chất lượng một số công trình cấp nước tập trung xuống cấp và niên hạn sử dụng trên 15 năm, quy mô công trình cấp nước nhỏ, công nghệ xử lý nước lạc hậu hoặc không có hạng mục xử lý nước; mô hình cộng đồng và UBND xã thực hiện quản lý vận hành công trình cấp nước thiếu tính chuyên nghiệp; công tác quản lý, giám sát chất lượng nước sinh hoạt từ công trình cấp nước quy mô hộ gia đình chưa thường xuyên; công tác bảo trì, sửa chữa nhỏ chưa được quan tâm và triển khai đúng định kỳ. Để cấp nước sinh hoạt đảm bảo tính bền vững trong điều kiện ảnh hưởng kép của hạn hán, xâm nhập mặn và suy thoái nước mặt cần thực hiện đồng bộ các giải pháp như huy động nguồn lực; hoàn thiện thể chế, chính sách trong công tác quản lý nhà nước về nước sạch nông thôn; linh hoạt và chủ động ứng phó với thiên tai; ứng dụng khoa học công nghệ trong các khâu thu, trữ, xử lý nước, quản lý vận hành hiệu quả; truyền thông nâng cao nhận thức cộng đồng về bảo vệ nguồn nước, sử dụng nước tiết kiệm,...
-
NGHIÊN CỨU KHẢ NĂNG TIÊU ÚNG CỦA SÔNG PHAN – CÀ LỒ KHI TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH VĨNH PHÚC XUẤT HIỆN TRẬN MƯA LŨ TẦN SUẤT 10%
Abstract : 7 PDF: 12Phần lưu vực sông Phan – Cà Lồ thuộc tỉnh Vĩnh Phúc có tổng diện tích 70.947 ha. Hầu hết lượng nước cần tiêu của lưu vực đều đổ trực tiếp vào sông Phan – Cà Lồ sau đó tiêu ra sông Cầu. Sử dụng mô hình thủy lực MIKE11 với mo duyn MIKE-NAM để đánh giá khả năng tiêu tự chảy của sông Phan khi trên địa bàn tỉnh Vĩnh Phúc xuất hiện trận mưa lũ có tần suất 10%. Kết quả nghiên cứu cho thấy sau 1 giờ mưa toàn lưu vực có tới 16,82% diện tích bị úng ngập. Tổng diện tích bị úng sau 1 ngày tiêu chỉ giảm được 3,43% so với 1 giờ đầu, sau 3 ngày giảm thêm 5,10% so với 1 ngày đầu và sau 15 ngày giảm được gần 50% so với diện tích úng của 1 ngày đầu. Thành phố Vĩnh Yên, các khu vực phía Bắc huyện Yên Lạc, phía Nam thị xã Phúc Yên và huyện Bình Xuyên đều là các trung tâm kinh tế, nơi tập trung phần lớn đất đô thị và khu công nghiệp của tỉnh Vĩnh Phúc chịu ảnh hưởng nặng nề nhất với khoảng trên 5.000 ha bị ngập kéo dài hàng tuần. Khả năng tiêu nước của hệ thống sông Phan – Cà Lồ phụ thuộc rất lớn vào chế độ mực nước sông Cầu tại nơi tiếp nhận nước tiêu. Nếu chỉ dựa vào các giải pháp tiêu ra sông Phan - Cà Lồ như hiện nay sẽ không giải quyết được vấn đề úng ngập cho vùng nghiên cứu. Để giải quyết tình trạng nêu trên, ngoài việc cải tạo nâng cấp, nâng cao hiệu quả tiêu nước của các trạm bơm đã có tiêu vào sông Phan – Cà Lồ, cần nghiên cứu xây dựng thêm một số trạm bơm tiêu trực tiếp ra sông Phó Đáy và sông Hồng để giảm bớt lượng nước cần tiêu ra sông Cầu qua trục tiêu sông Phan – Cà Lồ.
-
PHÂN TÍCH ẢNH HƯỞNG CỦA CÁC YẾU TỐ ĐẾN ỔN ĐỊNH BỜ SÔNG: TRƯỜNG HỢP NGHIÊN CỨU TẠI SÔNG CÁI LÂN, HUYỆN CÁI BÈ, TỈNH TIỀN GIANG
Abstract : 15 PDF: 13Mục tiêu của nghiên cứu nhằm đánh giá ảnh hưởng của yếu tố tác động đến ổn định bờ sông Cái Lân, huyện Cái Bè, tỉnh Tiền Giang. Các yếu tố thủy văn được xác định bằng phương pháp đo đạc và khảo sát thực, bao gồm đo mặt cắt sông, vận tốc, sóng và mực nước (sông và ngầm); yếu tố địa chất gồm phân tích địa chất và cấp phối bùn đáy sông phân bố dọc tuyến nghiên cứu tương ứng với vận tốc được nội suy cho từng mặt cắt. Kết quả nghiên cứu cho thấy, tại vị trí đoạn sông cong, đáy sông có khuynh hướng đi vào bờ và vận tốc dòng chảy có biểu đồ phân bố lệch tâm, với vận tốc lớn nhất gần bờ. Ngoài ra, cấu tạo địa chất tại khu vực nghiên cứu có thành phần chính là lớp đất sét yếu, với lớp đất thứ nhất ở trạng thái dẻo mềm và nằm trong giới hạn dao động mực nước; do đó dưới tác động của dao động mực nước do triều và sóng do tàu, cùng với dòng chảy lệch tâm tạo ra các "hàm ếch" dẫn đến mất ổn định bờ sông. Kết quả phân tích cấp phối cho thấy vận tốc dòng chảy nhỏ hơn vận tốc không xói cho phép tương ứng với cỡ hạt theo TCVN 4118-2012. Vì vậy lòng sông ít có khả năng bị bào mòn do vận chuyển bùn đáy. Tuy nhiên, cần có thêm khảo sát vận tốc theo hai phương để đánh giá chính xác khả năng vận chuyển bùn cát và do đó gây mất ổn định bờ sông. Trường hợp 4 (khi có tải trọng tác dụng lên bờ sông) có hệ số Kat thấp nhất trong tất cả các trường hợp xem xét (Kat = 0,546 -÷ 0,817). Vì vậy, có thể thấy rằng gia tải trên bờ sông là một trong những nguyên nhân chính gây mất ổn định sông Cái Lân.
-
CƠ SỞ KHOA HỌC PHƯƠNG PHÁP TÍNH TOÁN CHẾ ĐỘ TƯỚI CHO CÂY TRỒNG THEO TCVN 8641:2011
Abstract : 13 PDF: 13Nội dung cơ bản của tính toán chế độ tưới là xác định được thời điểm cần tưới, thời gian cần tưới trong mỗi đợt tưới, mức tưới mỗi đợt, số lần tưới trong suốt quá trình sinh trưởng của cây trồng, số ngày tưới trong cả vụ tưới, mức tưới tổng cộng cho toàn vụ và đường quá trình hệ số tưới. Để xác định được mức tưới cần phải xác định được lượng nước hao do bốc hơi mặt ruộng trong một khoảng thời gian nhất định. Mức độ chính xác của kết quả tính toán thành phần nước hao này phụ thuộc vào việc lựa chọn công thức tính ET0 và hệ số cây trồng Kc. Trong khi đó TCVN 4641:2011 quy định cụ thể về mức tưới và thời gian tưới mỗi lần, tổng mức tưới từng vụ cho lúa và một số cây lương thực, cây thực phẩm khác, phù hợp với đặc điểm sinh trưởng, điều kiện khí hậu, thổ nhưỡng, tập quán canh tác của các vùng miền trong cả nước. Tính toán chế độ tưới theo TCVN 8641:2011 khắc phục được những nhược điểm của các phương pháp tính toán đang được sử dụng hiện nay. Để minh họa cho phương pháp tính toán mới theo TCVN nói trên, bài báo này giới thiệu trình tự, nội dung các bước tính toán chế độ tưới cho lúa và ngô trồng ở các vụ đông xuân, vụ mùa, vụ đông; phương pháp hiệu chỉnh đường quá trình hệ số tưới và xác định hệ số tưới thiết kế áp dụng cho một hệ thống tưới điển hình thuộc vùng đồng bằng Bắc bộ.
-
NGHIÊN CỨU PHÁT TRIỂN GIỐNG LÚA THƠM JAPONICA HATRI 200
Abstract : 7 PDF: 8Giống lúa HATRI 200 được chọn lọc từ tổ hợp lai Kuming/SP6//4*Kuming. Giống HATRI 200 có thời gian sinh trưởng thuộc nhóm A2 (95-100 ngày). Chiều cao cây 110-115cm và độ dài bông 25-28 cm. HATRI200 có số bông trên bụi trung bình (10-12 bông/bụi). Số hạt chắc trên bông 123,5 hạt. Tuy nhiên trên một số vùng đất phì nhiêu thì số hạt chắc trên bông cũng đạt tới 150,5 hạt. Tỷ lệ hạt lép trong vụ đông xuân khoảng 14,2%. HATRI 200 có khả năng thụ phấn rất mạnh. Khối lượng 1000 hạt đạt 25,5 gr. HATRI 200 được xếp trong nhóm hạt tròn, trung bình. HATRI 200 có chỉ số thu hoạch (HI) tương đối cao, đạt 0,57. Để xác nhận sự hiện diện hoặc không có của hương thơm trong hạt gạo HATRI 200, đã tiến hành đánh giá kiểu hình bằng cách sử dụng tách sắc ký khí để định lượng 2AP, đồng thời phân tích mùi thơm bằng KOH và sử dụng phương pháp PCR với hai chỉ thị RM223 và FMU1-2. Kết quả đã ghi nhận HATRI 200 là giống có mùi thơm. Năng suất của HATRI 200 có tiềm năng lớn trong vụ đông xuân đạt 8,13 tấn/ha trên 7 điểm và vụ hè thu đạt 5,40 tấn/ha trên 5 điểm. Đây là giống có tính thích nghi rộng, năng suất ổn định trong sản xuất ở đồng bằng sông Cửu Long.
-
ẢNH HƯỞNG CỦA QUẦN THỂ NẤM RỄ NỘI CỘNG SINH LÊN SỰ SINH TRƯỞNG VÀ PHÁT TRIỂN CỦA CÂY LÚA TRONG ĐIỀU KIỆN NHÀ LƯỚI
Abstract : 7 PDF: 8Nghiên cứu được thực hiện với mục tiêu chọn lọc quần thể (QT) nấm rễ nội cộng sinh (AM) đáp ứng sự sinh trưởng và phát triển của cây lúa (Oryza sativa L.) trong điều kiện nhà lưới. Sáu QT nấm AM bao gồm: HA, PH, VB – BN, MIX, VT, LM – AG được thu thập từ các mẫu đất trồng lúa tại Hậu Giang, An Giang và Đồng Tháp và hai QT 11Đ, 14Đ được thu thập từ các mẫu đất vùng rễ bắp tại thành phố Cần Thơ. Thí nghiệm được bố trí hoàn toàn ngẫu nhiên với 8 nghiệm thức (NT) chủng QT nấm AM và NT đối chứng không chủng nấm rễ. Kết quả thí nghiệm cho thấy các NT được chủng với QT nấm rễ có tỉ lệ tái xâm nhiễm đạt trên 95% ở giai đoạn 60NSS (ngày sau sạ) và khác biệt so với NT đối chứng (p<0,01). Chiều cao cây lúa, số chồi, khối lượng rễ khô, khối lượng hạt tươi và khô và tỉ lệ chắc lép của lúa ở các NT được chủng với QT nấm AM đạt cao hơn và khác biệt so với NT đối chứng. QT LM-AG, VT và 14Đ có hiệu quả cao nhất trong 8 QT nấm AM giúp cây lúa phát triển và đạt khối lượng hạt lúa khô cao nhất lần lượt là 8,44 g/chậu, 7,78 g/chậu và 7,76 g/chậu. Kết quả nghiên cứu cho thấy ba QT nấm AM có tiềm năng sử dụng trong canh tác lúa.
-
NGHIÊN CỨU THÀNH PHẦN HỆ VI SINH VẬT ĐẤT CHUYÊN TRỒNG RAU TỈNH THÁI BÌNH
Abstract : 7 PDF: 9Nghiên cứu thành phần hệ vi sinh vật trong đất tại một số vùng chuyên canh rau trên địa bàn tỉnh Thái Bình nhằm mục đích đánh giá tính chất sinh học của đất, tìm ra các giải pháp để cải thiện độ phì đất, góp phần nâng cao chất lượng rau phục vụ sản xuất rau an toàn tại địa phương. Kết quả nghiên cứu cho thấy đất trồng rau tại Thái Bình có thành phần và số lượng vi sinh vật rất đa dạng, hàm lượng tổng số vi sinh vật hảo khí và yếm khí tương đồng với tính chất đất. Số lượng tổng số vi khuẩn hảo khí cao nhất, gấp 7,61 lần và thấp nhất gấp 12,41 lần so với tổng số vi khuẩn yếm khí thể hiện đất luôn trong tình trạng hảo khí thích hợp cho trồng rau màu. Hàm lượng vi khuẩn chuyển hoá nitơ cao nhất là vi khuẩn amon hoá (cao nhất 85,28x104 CFU/g) và thấp nhất là Azotobacter (cao nhất là 41,93x104 CFU/g). Vi khuẩn phân giải lân và xellulo cũng có hàm lượng cao, trong đó vi sinh vật phân giải lân đạt cao nhất 23,83x104 CFU/g, vi sinh vật phân giải xellulo đạt cao nhất là 6,22x104 CFU/g. Hàm lượng và thành phần vi sinh vật trong đất tại Thái Bình phù hợp với trồng rau.
-
ẢNH HƯỞNG CỦA GỐC GHÉP BÍ XANH, DƯA GANG ĐẾN SỰ SINH TRƯỞNG, NĂNG SUẤT, CHẤT LƯỢNG DƯA LÊ (Cucumis melon L.) VÀ DƯA LƯỚI (Cucumis melon var. Cantalupensis) TRỒNG NGOÀI ĐỒNG
Abstract : 7 PDF: 7Nghiên cứu được thực hiện tại Trại Nghiên cứu và Thực nghiệm Nông nghiệp, Trường Đại học Cần Thơ nhằm mục tiêu xác định ảnh hưởng của gốc ghép bí xanh và dưa gang đến năng suất và phẩm chất của cây dưa ghép. Thí nghiệm được thực hiện 2 vụ: Vụ 1 (tháng 7-10/2019), thí nghiệm đượcbố trí theo thể thức thừa số 2 nhân tố, với 3 lần lặp lại, nhân tố 1 giống làm gốc ghép (Bí xanh-BX, Dưa gang-DG và đối chứng không ghép-ĐC), nhân tố 2 giống ngọn ghép (Dưa lê Kim Cô Nương và dưa lưới 1361). Kết quả cho thấy cây dưa lê và dưa lưới ghép sinh trưởng tốt hơn so với cây không ghép và khối lượng trung bình trái của cây dưa ghép trên gốc ghép bí xanh đạt 1,35 kg/trái, cao hơn so với ĐC (chỉ có 0,89 kg/trái). Tỷ lệ cây chết ở thời điểm thu hoạch của cây dưa ghép gốc BX và DG là 26,7-27,5%, thấp hơn rất nhiều so với cây ĐC không ghép, tỷ lệ thiệt hại là 52,3%. Vụ 2 (tháng 11/2020-01/2021) kế thừa kết quả nghiên cứu vụ 1. Thí nghiệm được bố trí theo thể thức khối hoàn toàn ngẫu nhiên, gồm 3 nghiệm thức là dưa lê ghép gốc bí xanh, dưa lê ghép gốc dưa gang và không ghép với 3 lần lặp lại. Cây DL/BX có hiệu quả gia tăng năng suất và phẩm chất trái so với ĐC không ghép. Năng suất tổng và năng suất thương phẩm lần lượt là 9,71 và 7,95 tấn/ha, độ brix là 12,3%.
-
NGHIÊN CỨU ỨNG DỤNG NANO BẠC PHÒNG TRỪ BỆNH HẠI CHÍNH TRÊN CÂY DƯA LEO CUCUMIS SATIVUS
Abstract : 8 PDF: 8Nghiên cứu ứng dụng nano bạc phòng trừ bệnh hại chính trên cây dưa leo Cucumis sativus được thực hiện từ tháng 11/2018 đến 12/2019 tại tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu với 2 nội dung. Thí nghiệm xác định thời điểm phun nano bạc phòng trừ hiệu quả bệnh hại chính trên cây dưa leo trong cả vụ gồm 5 nghiệm thức, được bố trí theo kiểu khối đầy đủ ngẫu nhiên (RCBD) với 3 lần lặp lại, mỗi ô cơ sở 50 m2. Thử nghiệm mô hình phòng trừ bệnh hại chính trên cây dưa leo bằng nano bạc gồm 2 nghiệm thức được bố trí diện rộng, không lặp lại, diện tích lô áp dụng nano và lô áp dụng hóa chất trừ nấm bệnh theo nông hộ cùng là 1.000 m2. Kết quả thí nghiệm cho thấy sử dụng Mifum 0,6SL ở nồng độ nano bạc 60 ppm để phun phòng 10 ngày/lần đến khi bệnh xuất hiện phun trừ bệnh 7 ngày/lần có khả năng phòng trừ hiệu quả các bệnh hại chính trong suốt vụ. Kết quả thử nghiệm cho thấy sử dụng Mifum 0,6SL phòng trừ bệnh hại trên cây dưa leo có khả năng quản lý hiệu quả các bệnh hại chính, năng suất cao hơn trên 7%, lãi ròng cao hơn trên 9 triệu đồng/ha/vụ so với sử dụng hóa chất trừ nấm bệnh theo kinh nghiệm của nông hộ và không để lại dư lượng kim loại Ag trong sản phẩm.
-
ẢNH HƯỞNG CỦA LIỀU LƯỢNG CHLORATE KALI ĐẾN SỰ RA HOA GIỐNG NHÃN E-DOR (Dimocarpus longan Lour.) TRỒNG TẠI QUẬN Ô MÔN, THÀNH PHỐ CẦN THƠ
Abstract : 8 PDF: 9Nghiên cứu nhằm xác định ảnh hưởng của liều lượng Chlorate kali đến sự ra hoa của nhãn E-dor 8-10 tuổi với 3 thí nghiệm đồng ruộng tiến hành tại quận Ô Môn, thành phố Cần Thơ từ tháng 9/2018 đến tháng 9/2019, bố trí theo kiểu khối hoàn toàn ngẫu nhiên gồm 5 nghiệm thức, 4 lần lặp lại, mỗi ô thí nghiệm là một cây. Các nghiệm thức thí nghiệm bao gồm: (1) Đối chứng (xử lý Chlorate kali theo liều lượng của nông dân): 120 g/m đường kính tán (đkt); (2) NT1: 50 g/m đkt; (3) NT2: 100 g/m đkt; (4) NT3: 150 g/m đkt; (5) NT4: 200 g/m đkt. Xử lý Chlorate kali khi lá có màu xanh nhạt, khoảng 40-45 ngày tuổi bằng cách hòa tan hóa chất vào nước, sau đó tưới vào đất xung quanh tán cây, mỗi cây 20 lít. Kết quả cho thấy liều lượng Chlorate kali có ảnh hưởng đến tỷ lệ ra hoa và năng suất nhưng không ảnh hưởng đến phẩm chất quả. Xử lý Chlorate kali với liều lượng 100 g/m đkt có tỷ lệ ra hoa trên 80%, tỷ lệ chóp rễ bị tổn thương thấp nhất (34,0-37,9%), năng suất là 115-118,5 kg/cây. Có thể xử lý ra hoa nhãn E-Dor 8-10 năm tuổi bằng Chlorate kali với liều lượng 50-100 g/m đkt tại quận Ô Môn, thành phố Cần Thơ để đạt năng suất cao, chi phí thấp.
-
ĐA DẠNG DI TRUYỀN CỦA CÁC MẪU GIỐNG ĐẬU XANH (Vigna radiata (L.) Wilczek) CÓ NGUỒN GỐC KHÁC NHAU DỰA TRÊN ĐẶC ĐIỂM KIỂU HÌNH
Abstract : 15 PDF: 13Thí nghiệm đánh giá đặc điểm nông sinh học và đa dạng di truyền của 46 mẫu giống đậu xanh mới thu thập được tiến hành trong vụ hè năm 2020 tại Gia Lâm, Hà Nội. Bố trí thí nghiệm theo phương pháp khảo sát tập đoàn không nhắc lại. Kết quả nghiên cứu đã cho thấy, các mẫu giống đậu xanh khá đa dạng về đặc điểm hình thái, có thời gian sinh trưởng ngắn (67 - 70 ngày) với chiều cao cây trung bình là 50,8 – 80,6 cm. Số quả/cây, số hạt/quả, khối lượng 1000 hạt và năng suất cá thể có mức đa dạng cao. Dựa trên 14 tính trạng kiểu hình, 46 mẫu giống đậu xanh đã được phân thành 4 nhóm di truyền khác biệt với hệ số tương đồng bằng 0,45. Đây là cơ sở để sử dụng cho các chương trình chọn tạo giống đậu xanh ngắn ngày, năng suất cao.
-
NGHIÊN CỨU ẢNH HƯỞNG CỦA LIỀU LƯỢNG PHÂN HỮU CƠ VI SINH SÔNG GIANH ĐẾN SINH TRƯỞNG, PHÁT TRIỂN VÀ NĂNG SUẤT CỦA GIỐNG LÚA VAAS16 TẠI THANH HÓA
Abstract : 15 PDF: 13Thí nghiệm được thực hiện với mục đích xác định ảnh hưởng của liều lượng phân hữu cơ vi sinh Sông Gianh đến sinh trưởng, phát triển và năng suất giống lúa VAAS16 trong 2 vụ: vụ xuân 2017 và vụ xuân 2018 tại 2 huyện của tỉnh Thanh Hóa (xã Đông Ninh, huyện Đông Sơn và xã Hoằng Quỳ, huyện Hoằng Hóa). Thí nghiệm gồm 7 công thức (0, 8 tấn phân chuồng; 0,5; 1,0; 1,5; 2,0; 2,5 tấn phân hữu cơ vi sinh Sông Gianh trên nền phân khoáng 90 kg N + 100 kg P2O5 + 80 kg K2O/ha), trong đó công thức bón phân khoáng + không bón phân hữu cơ và công thức phân khoáng + 8 tấn phân chuồng lần lượt là đối chứng 1 và 2. Kết quả nghiên cứu cho thấy phân hữu cơ vi sinh Sông Gianh đã có tác động rõ rệt đến khả năng sinh trưởng, phát triển và năng suất của giống lúa VAAS16. Mức bón 2,0 tấn phân HCVS Sông Gianh/ha (M6) là phù hợp cho giống lúa VAAS16. Với mức bón này năng suất lúa ở 2 huyện Đông Sơn và Hoằng Hóa đạt giá trị tương ứng là 6,72 tấn/ha và 6,57 tấn/ha, cao hơn so với không bón phân hữu cơ và tương đương bón mức 8 tấn phân chuồng/ha.
-
ẢNH HƯỞNG TỶ LỆ GHÉP ĐÔI ĐỰC CÁI ĐẾN KHẢ NĂNG SINH SẢN RỒNG ĐẤT (Physignathus cocincinus) TRONG ĐIỀU KIỆN NUÔI TẠI TỈNH KIÊN GIANG
Abstract : 6 PDF: 9Nghiên cứu được thực hiện từ tháng 3 năm 2020 đến tháng 5 năm 2021 tại xã Bãi Thơm, thành phố Phú Quốc, tỉnh Kiên Giang. Thí nghiệm theo dõi 147 cá thể Rồng đất trưởng thành trong đó có 108 cá thể cái và 39 cá thể đực. Thí nghiệm được bố trí với 3 nghiệm thức (NT) với tỷ lệ đực cái khác nhau (NT1: 12 cái + 6 đực); (NT2: 12 cái + 4 đực); (NT3: 12 cái + 3 đực) mỗi nghiệm thức được lặp lại 3 lần. Kết quả cho thấy tỷ lệ đẻ trung bình 59,22% (44,41-77,75%); tỷ lệ nở trung bình 76,34% (64,15-92,65%); số trứng trung bình trên ổ 6,88 (5,66-7,66 trứng). Tỷ lệ đẻ cao nhất ở NT2: 12 cái + 4 đực, tỷ lệ đẻ thấp nhất ở NT1: 12cái + 6đực, tỷ lệ nở cao nhất ở NT2: 12 cái + 4 đực và tỷ lệ nở thấp nhất ở NT3: 12 cái + 3 đực.
-
ĐÁNH GIÁ ẢNH HƯỞNG CỦA TẢO SPIRULINA LÊN TĂNG TRƯỞNG VÀ TỶ LỆ SỐNG CỦA CÁ TRA (Pangasianodon hypophthalmus) GIAI ĐOẠN GIỐNG
Abstract : 14 PDF: 12Nghiên cứu đánh giá ảnh hưởng bột tảo Spirulina đến tăng trưởng và tỷ lệ sống của cá tra (Pangasianodon hypophthalmus) giai đoạn giống ương nuôi bằng thức ăn phối trộn bột tảo Spirulina thay thế bột cá. Thí nghiệm được bố trí với 3 nghiệm thức bao gồm: i) thức ăn viên tự phối trộn có nguồn đạm từ bột tảo Spirulina; ii) thức ăn viên tự phối trộn có nguồn đạm từ bột cá; và iii) thức ăn viên công nghiệp Vasafeed làm đối chứng. Cá tra ở nghiệm thức sử dụng thức ăn chứa bột tảo Spirulina có các chỉ tiêu tăng trưởng như khối lượng gia tăng (36,59±2,96 g), tỷ lệ tăng trưởng (64,59±1,82%), tốc độ tăng trưởng đặc trưng (1,73±0,09%/ngày) và hệ số chuyển hóa thức ăn (1,16±0,02) đều khác biệt có ý nghĩa thống kê so với cá của các nghiệm thức sử dụng thức ăn có nguồn đạm từ bột cá (P < 0,05). Tỷ lệ sống của cá ở nghiệm thức này cũng tương đương với nghiệm thức đối chứng (P > 0,05) và sai khác có ý nghĩa thống kê so với nghiệm thức sử dụng bột cá. Kết quả của nghiên cứu cho thấy tiềm năng thay thế bột cá bằng bột tảo Spirulina trong khẩu phần ăn của cá tra.
-
NGHIÊN CỨU XÁC ĐỊNH HÀM LƯỢNG AXIT BÉO CHƯA NO TRÊN GIỐNG ĐẬU TƯƠNG CHỊU MẶN
Abstract : 8 PDF: 8Trong nghiên cứu này, 3 giống đậu tương (ĐT26, DT2008 và ĐT31) có tiềm năng chịu mặn đã được trồng trong nhà lưới và xử lý mặn với nồng độ 100 mM NaCl. Mỗi giống gồm 15 chậu, mỗi chậu 3 cây. Mẫu hạt được thu hoạch và phân tích để xác định hàm lượng axit béo chưa no (axit oleic, axit linoleic và axit linolenic) bằng hệ thống sắc ký khí khối phổ GC/MS. Kết quả cho thấy cả 3 giống đều có chứa hàm lượng của 3 axit: oleic, linoleic và linolenic. Đối với giống ĐT26 hàm lượng oleic, linoleic và linolenic lần lượt là 47, 112 và 10 μg/mg. Giống DT2008 hàm lượng oleic, linoleic và linolenic lần lượt là 46, 124 và 12 μg/mg. Giống ĐT31 hàm lượng oleic, linoleic và linolenic lần lượt là 30, 72 và 7 μg/mg. Ba giống có sự khác biệt đáng kể so sánh cho mỗi thành phần axit. Giống có thành phần axit oleic cao nhất là ĐT26, sau đó đến giống DT2008 và thấp nhất là ĐT31. Thành phần axit linoleic và axit linolenic của giống cao nhất là DT2008, thấp nhất là giống ĐT31. Kết quả này cho thấy giống DT2008 và ĐT26 là 2 giống có hàm lượng axit béo chưa no cao.
-
XÁC ĐỊNH MỘT SỐ CHỈ TIÊU HÓA-LÝ, KHẢ NĂNG KHÁNG KHUẨN VÀ CHỐNG Ô XY HÓA CỦA MẬT ONG KHÔNG NGÒI ĐỐT (Trigona spp.) Ở SƠN LA VÀ ĐIỆN BIÊN
Abstract : 8 PDF: 7Ong không ngòi đốt còn gọi là ong Vú hoặc ong Dú thuộc giống Trigona đã và đang được nuôi ở một số tỉnh thành trên cả nước. Mật ong Vú (MOV) có giá bán tới 1-1,5 triệu đồng/kg, trong khi giá cao nhất của mật ong thuộc giống Apis, như mật ong bạc hà (MBH) chỉ có 0,5 triệu đồng/kg. Để minh chứng cho giá trị kinh tế cao của MOV, 3 mẫu MOV từ 3 nhà nuôi ong Vú ở Sơn La và Điện Biên và 3 mẫu MBH từ 3 trại ong ở Hà Giang được thu thập để phân tích đánh giá các chỉ tiêu hóa-lý và vai trò y học của chúng. Hầu hết 13 chỉ tiêu hóa-lý chính của MOV đều đáp ứng tiêu chuẩn MOV của Malaysia (MS) và TCVN về mật ong của giống Apis (MOA). So với MOA tổng đường khử trong MOV chỉ bằng 1/2-3/4 nhưng thủy phần cũng như lượng acid tổng số của MOV lại gấp tới 1,5 lần. Chiều dài vòng kháng khuẩn E. coli, S. aureus và hàm lượng hydrogen peroxide trung bình trong 3 mẫu MOV (0,83±0,06 cm, 1,22±0,03 cm và 129,39±2,57 mg/kg) tương đương với các mẫu MBH (0,78±0,03 cm, 1,45±0,05 cm và 132,57±1,82 mg/kg) với P=0,068, cho thấy MOV có mức kháng khuẩn ngang với MBH. Hơn thế, khả năng chống ô xy hóa của MOV gấp 3 lần so với MBH khi so sánh 3 chỉ tiêu liên quan về hàm lượng phenolic tổng số (GAE=790,9±1,33 mg/kg), phần trăm DPPH (42,7±1,66%) và hàm lượng Fe2+ (432,9±4,25 mg/kg), trong khi các chỉ tiêu này của MBH lần lượt chỉ có 132,57±1,82 mg/kg, 15,33±0,74% và 134,23±3,94 mg/kg, với P=0,001. Các chỉ tiêu hóa-lý, khả năng kháng khuẩn và chống ô xy hóa của MOV ở Sơn La và Điện Biên tương đương nhau (P>0,05). Tính ưu việt về thành phần hóa-lý, khả năng kháng khuẩn và chống ô xy hóa của MOV được đánh giá trong nghiên cứu này là cơ sở phương pháp luận cho ngành ong Việt Nam có thể phát triển thêm sản phẩm mật ong mới từ nghề nuôi ong Vú.
-
NGHIÊN CỨU ẢNH HƯỞNG CỦA CÁC THÔNG SỐ KỸ THUẬT QUÁ TRÌNH SẤY PHUN ĐẾN CHẤT LƯỢNG BỘT THANH LONG RUỘT ĐỎ
Abstract : 12 PDF: 12Mục tiêu của nghiên cứu là tìm ra các thông số kỹ thuật phù hợp cho quá trình sấy phun bột thanh long ruột đỏ thông qua khảo sát nhiệt độ không khí sấy (170; 180 và 190oC), nồng độ đường maltodextrin (10; 15; 20 và 25%), áp lực khí nén (0,02; 0,04; 0,06 và 0,08 MPa) và tốc độ bơm nhập liệu (15; 20; 25 và 30 vòng/phút). Kết quả cho thấy khi sấy ở nhiệt độ không khí sấy 180oC, nồng độ đường maltodextrin 15%; áp lực khí nén 0,04 MPa và tốc độ bơm nhập liệu là 20 vòng/phút sẽ cho bột thanh long ruột đỏ có chất lượng đạt độ ẩm 4,82% và hiệu suất thu hồi đạt 42,35%.
-
ẢNH HƯỞNG CỦA ĐIỀU KIỆN THỦY PHÂN PROTEIN TÁCH CHIẾT TỪ THỊT SẪM CÁ NGỪ VÂY VÀNG (THUNNUS ALBACARES) BẰNG ENZYME ALCALASE ĐẾN HOẠT TÍNH CHỐNG OXY HOÁ CỦA DỊCH THỦY PHÂN
Abstract : 13 PDF: 12Nghiên cứu nhằm đánh giá ảnh hưởng của một số điều kiện thủy phân (pH, nhiệt độ, tỷ lệ enzyme/cơ chất (E/S)) protein chiết tách từ cơ thịt sẫm cá ngừ vây vàng (DMPI) bằng enzyme Alcalase đến hoạt tính chống oxy hóa của dịch thủy phân. Kết quả thu được cho thấy các thông số của quá trình thủy phân ảnh hưởng đến hoạt tính chống oxy hóa của dịch thủy phân. Tỷ lệ E/S cao hoặc thời gian thủy phân kéo dài sẽ tạo ra nhiều phân đoạn peptit mạch ngắn cũng như axit amin làm mất hoạt tính chống oxy hóa của dịch thủy phân. Kết quả nghiên cứu thu được cho thấy điều kiện thủy phân ở pH = 8, tỷ lệ E/S = 1%, 55°C và 3 giờ thủy phân là thích hợp để thủy phân DMPI thu được dịch thủy phân có hoạt tính chống oxy hóa cao.
-
NGHIÊN CỨU SẢN XUẤT CHẾ PHẨM VI SINH VẬT TỪ CHỦNG Streptomyces thermocarboxydus XM6 ĐỂ XỬ LÝ CHẤT THẢI NHÀ TIÊU KHÔ
Abstract : 7 PDF: 9TÓM TẮT
Với mục đích sản xuất chế phẩm vi sinh vật ứng dụng xử lý chất thải nhà tiêu khô, bài báo trình bày các kết quả nghiên cứu về điều kiện nhân sinh khối chủng xạ khuẩn Streptomyces thermocarboxydus XM6 bằng kỹ thuật lên men chìm và xác định chất mang phù hợp cho sản xuất chế phẩm. Kết quả nghiên cứu đã xác định được các thông số kỹ thuật thích hợp cho lên men nhân sinh khối chủng xạ khuẩn XM6 là môi trường lên men: LM3, nhiệt độ lên men: 35oC, pH môi trường lên men: 7, thời gian lên men: 96 giờ, tỷ lệ tiếp giống ban đầu: 5% (v/v). Mật độ chủng xạ khuẩn XM6 sau lên men đạt > 108 CFU/g. Chất mang cho chế phẩm là hỗn hợp mùn cưa, cám gạo, bột cao lanh được phối trộn theo tỷ lệ 1: 1: 1. Chế phẩm vi sinh vật xử lý chất thải nhà tiêu khô được tạo thành bằng cách phối trộn sinh khối xạ khuẩn sau lên men với chất mang theo tỷ lệ 10% có mật độ xạ khuẩn đạt > 108 CFU/g, đảm bảo yêu cầu chất lượng theo TCVN 6168 - 2002 sau 3 tháng bảo quản. -
ẢNH HƯỞNG CỦA THÔNG SỐ CHẾ ĐỘ ÉP ĐẾN TÍNH CHẤT VẬT LÝ VÀ CƠ HỌC CỦA VÁN DÁN SỬ DỤNG CHẤT KẾT DÍNH TỪ AXIT CITRIC VÀ SUCROSE
Abstract : 14 PDF: 14Bài báo trình bày ảnh hưởng của nhiệt độ và thời gian ép ván đến tính chất cơ lý chủ yếu của ván dán gỗ Keo tai tượng sử dụng axit citric và sucrose làm chất kết dính. Ván dán được tạo ra từ ván bóc gỗ Keo tai tượng và sử dụng hỗn hợp axit citric và sucrose (tỉ lệ theo khối lượng tương ứng 85:15) làm chất kết dính. CA và SU được hòa tan trong nước cất để tạo thành dung dịch có nồng độ 59%. Dung dịch này được sử dụng như chất kết dính với định mức 150 g/m2 bề mặt ván bóc. Ván dán được tạo ra dựa trên thông số chế độ ép bao gồm: 3 cấp nhiệt độ ép 180, 200 và 210oC; 3 cấp thời gian ép 12, 14 và 16 phút. Áp suất ép sử dụng là 1,2 MPa. Kết quả nghiên cứu cho thấy chế độ ép có ảnh hưởng đáng kể đến tính chất ván. Không có sự khác biệt nhiều về khối lượng thể tích ở các chế độ ép ván khác nhau. Tuy nhiên, độ trương nở chiều dày, độ bền uốn tĩnh (MOR); mô-đun đàn hồi khi uốn tĩnh (MOE) và chất lượng dán dính khác nhau rõ rệt giữa các chế độ ép ván. Tính chất cơ lý của ván dán giảm khi nhiệt độ và thời gian ép tăng. Tính chất cơ học và vật lý đạt giá trị tốt nhất ở chế độ ép: nhiệt độ ép 180oC và thời gian ép 14 phút. Tính chất cơ lý của ván dán ở chế độ ép này tương đương với ván dán đối chứng sử dụng keo UF thuộc loại sử dụng 1 (ván sử dụng trong nhà), ván đạt tiêu chuẩn ASTM D3043-17 và TCVN 8328-2.
-
ẢNH HƯỞNG CỦA CHƯƠNG TRÌNH VIETGAP ĐẾN HIỆU QUẢ SẢN XUẤT CỦA HỘ TRỒNG NHÃN IDOR Ở ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG
Abstract : 14 PDF: 17VietGAP (Vietnamese Goood Agricultural Practice) đã được triển khai ở nhiều tỉnh thành ở đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) trên nhiều loại cây ăn trái khác nhau, trong đó có cây nhãn Idor nhằm hình thành các vùng sản xuất đạt tiêu chuẩn xuất khẩu hay tiêu thụ nội địa có yêu cầu khắc khe về chất lượng từ năm 2016 - 2018. Nghiên cứu đã thực hiện nhằm đánh giá ảnh hưởng của chương trình VietGAP này đến hiệu quả sản xuất của hộ trồng nhãn Idor ở ĐBSCL bằng cách phỏng vấn trực tiếp 180 hộ trồng nhãn Idor có và không tham gia VietGAP ở các tỉnh Vĩnh Long, Tiền Giang và Đồng Tháp. Kết quả phân tích bằng phương pháp phân tích điểm xu hướng (PSM) cho thấy năng suất và lợi nhuận của hộ tham gia VietGAP cao hơn nhóm hộ không tham gia VietGAP. Việc tham gia VietGAP, điều chỉnh kỹ thuật sản xuất rải vụ, bón phân cân đối và sử dụng hóa chất an toàn đóng vai trò quan trọng trong việc duy trì và cải thiện hiệu quả sản xuất cho hộ trồng nhãn Idor và góp phần sản xuất đạt chuẩn VietGAP.
-
NGHIÊN CỨU CHÍNH SÁCH TÁC ĐỘNG ĐẾN SẢN XUẤT NGÔ BỀN VỮNG TẠI SƠN LA, VIỆT NAM
Abstract : 7 PDF: 8Nghiên cứu đã tiến hành tổng hợp và phân tích việc thực hiện 6 nhóm chính sách nông nghiệp (quy hoạch, đất đai, khuyến nông, tín dụng, khoa học công nghệ, thị trường) liên quan đến cây ngô ở cấp Trung ương và địa phương thông qua trường hợp nghiên cứu điển hình tại tỉnh Sơn La. Kết quả nghiên cứu cho thấy, tại cấp Trung ương, chính sách liên quan đến phát triển bền vững cho cây ngô đã được lồng ghép một phần trong các chính sách quy hoạch phát triển nông nghiệp. Tại cấp địa phương, hiện không có chính sách riêng cho phát triển cây ngô. Các chính sách hỗ trợ phát triển sản xuất ngô bền vững hiện không nhiều, đều là những quy định chung, nhiều điểm chưa phù hợp với đặc thù của địa phương hoặc cây trồng cụ thể như ngô. Từ các kết quả phân tích, một số khuyến nghị cụ thể cũng được đề xuất tới các nhà hoạch định chính sách để đảm bảo sự thành công các chiến lược liên quan đến sản xuất ngô bền vững mà Việt Nam đã đề ra.
-
LƯỢNG GIÁ GIÁ TRỊ CẢNH QUAN DU LỊCH VƯỜN QUỐC GIA BA VÌ
Abstract : 9 PDF: 6Nghiên cứu thực hiện lượng giá giá trị cảnh quan của Vườn Quốc gia Ba Vì thông qua việc điều tra du khách và cư dân địa phương; sử dụng phương pháp chi phí du lịch (73 phiếu điều tra khách du lịch) và phương pháp định giá ngẫu nhiên (73 phiếu điều tra khách du lịch và 85 phiếu điều tra đối với cư dân địa phương). Kết quả xác định được nguồn thu hàng năm của VQG Ba Vì là 18,1 tỷ đồng; nguồn thu yêu cầu để đảm bảo tự chủ tài chính là 40,7 tỷ đồng; nguồn thu tiềm năng từ giá trị sử dụng là 472,280 tỷ đồng (thặng dư người tiêu dùng) và nguồn thu tiềm năng từ giá trị phi sử dụng là 1,06 tỷ đồng (mức sẵn lòng chi trả của du khách và cư dân địa phương cho giá trị cảnh quan du lịch của VQG Ba Vì). Tổng giá trị tiềm năng đem lại cho VQG Ba Vì trong một năm là hơn 473 tỷ đồng là cơ sở để có thể có những tính toán nhằm tăng nguồn thu, đảm bảo bù đắp khoản chênh lệch các nguồn thu, hướng tới tự chủ tài chính. Dựa trên các kết quả nghiên cứu, một số giải pháp được khuyến nghị bao gồm: tăng giá vé vào cổng và một số dịch vụ trong VQG Ba Vì; thành lập quỹ tài trợ để đầu tư cho tương lai, hỗ trợ cho công tác bảo tồn của vườn; mở rộng thực thi cơ chế chi trả dịch vụ môi trường rừng.
-
XÂY DỰNG HỆ THỐNG PHÂN LOẠI TRONG VIỆC THÀNH LẬP BẢN ĐỒ CẢNH QUAN HUYỆN MINH HÓA, TỈNH QUẢNG BÌNH (TỶ LỆ: 1: 25.000)
Abstract : 8 PDF: 7Xây dựng hệ thống phân loại cảnh quan là một trong những khâu rất quan trọng trong công tác nghiên cứu, thành lập bản đồ cảnh quan nói chung và thành lập bản đồ cảnh quan huyện Minh Hóa, tỉnh Quảng Bình với tỷ lệ 1: 25.000 nói riêng. Bài báo này nhằm mục đích xây dựng hệ thống phân loại cảnh quan ở huyện biên giới này với 7 tiêu chí phân loại gồm: (1) Hệ thống cảnh quan; (2) Phụ hệ thống cảnh quan; (3) Kiểu cảnh quan; (4) Lớp cảnh quan; (5) Phụ lớp cảnh quan; (6) Hạng cảnh quan; (7) Loại cảnh quan. Kết quả nghiên cứu được xây dựng thành bản đồ cảnh quan và mô tả trên bản chú giải cảnh quan huyện Minh Hóa. Các kết quả nghiên cứu là cơ sở khoa học cho các nghiên cứu tiếp theo nhằm khai thác tài nguyên thiên nhiên, phát triển kinh tế - xã hội bền vững và bảo vệ môi trường trong khu vực.
-
QUẢN LÝ VÀ NHẬN THỨC CỦA NGƯỜI DÂN VỀ CHẤT THẢI NHÔM, NHỰA TRONG SINH HOẠT HỘ GIA ĐÌNH TẠI QUẬN HÀ ĐÔNG, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
Abstract : 14 PDF: 13Mục tiêu của nghiên cứu là đánh giá hiện trạng phát sinh, quản lý, nhận thức của cộng đồng về chất thải nhôm, nhựa tại quận Hà Đông, từ đó đề xuất giải pháp quản lý phù hợp, nghiên cứu đã sử dụng phương pháp điều tra xã hội học với 100 hộ gia đình, 10 người đầu mối thu mua, cơ sở tái chế và 14 cán bộ quản lý môi trường các cấp. Kết quả nghiên cứu cho thấy, người dân có nhận thức rõ ràng về khả năng tái chế, tái sử dụng của chất thải nhôm, nhựa. 95% người dân thu gom, phân loại chất thải nhôm phát sinh trong sinh hoạt tại nguồn. Người dân hiểu rõ tác hại của việc sử dụng sản phẩm nhựa. Tuy nhiên, việc thay đổi thói quen sử dụng sản phẩm nhựa sang nhôm là một thách thức lớn đối với nhà quản lý. Hệ số phát sinh chất thải rắn sinh hoạt là 0,924 kg/người/ngày, chất thải nhựa là 0,089 kg/người/ngày, chất thải nhôm là 0,009 kg/người/ngày. Dòng luân chuyển chất thải nhôm phát sinh từ sinh hoạt hộ gia đình được các cơ sở thu mua đạt 95%. Công tác quản lý chất thải nhôm, nhựa chưa được tách riêng để quản lý. Công tác thu gom, vận chuyển chất thải rắn sinh hoạt với tỷ lệ thu gom, vận chuyển trong ngày đạt 99%, phương pháp xử lý chủ yếu là chôn lấp. Nghiên cứu đã đề xuất giải pháp mô hình sử dụng, quản lý, tái chế chất thải nhôm và truyền thông nâng cao nhận thức cho cộng đồng về phân loại chất thải tại nguồn, tăng cường tái chế, tái sử dụng, giảm thiểu chất thải vào môi trường.








