Số 14 (2021)
Bài viết
-
ĐÁNH GIÁ SỰ ĐA DẠNG HỆ VI SINH VẬT PHÂN GIẢI PHÂN LÂN TRONG ĐẤT NÔNG NGHIỆP TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN TÂN YÊN, TỈNH BẮC GIANG
Abstract : 10 PDF: 10Nghiên cứu nhằm đánh giá hệ vi sinh vật phân giải lân trên đất nông nghiệp thuộc huyện Tân Yên, tỉnh Bắc Giang trong vụ hè thu năm 2020. Kết quả nghiên cứu cho thấy: đất nông nghiệp thuộc huyện Tân Yên, tỉnh Bắc Giang có các thuộc tính sau: đất loại trung tính, ít chua, các chỉ số đánh giá chất lượng đất có sự dao động và khác nhau giữa các mẫu đất, kali tổng số ở mức trung bình, giàu lân dễ tiêu và lân tổng số, hàm lượng chất hữu cơ ở mức nghèo đến trung bình. Hệ vi sinh vật khá thấp, mật độ vi khuẩn tổng số (VKTS) dao động từ 5,1 – 28,0 x 106 (CFU/g đất), chiếm 36,46%, mật độ xạ khuẩn tổng số (XKTS) dao động từ 2,7 – 7,9 x 106 (CFU/g đất), chiếm 11,34%, mật độ vi sinh vật tổng số (VSVTS) ở các mẫu trung bình là 21,51 x 106 (CFU/g đất) chiếm 50,14%, nấm tổng số (NTS) là thấp nhất dao động từ 0,2 – 1,7 x 106 (CFU/g đất), chiếm 2,06%. Từ 12 mẫu đất đã phân lập được 12 chủng vi khuẩn và 1 chủng xạ khuẩn với những hình thái và mật độ xuất hiện khác nhau. Mật độ của các chủng vi sinh vật phân giải lân vô cơ chiếm ưu thế hơn so với lân hữu cơ. Trong môi trường lân vô cơ gồm 6 chủng vi khuẩn và 1 chủng xạ khuẩn, trong đó chủng VK2 và VK4 có tần suất xuất hiện nhiều nhất (VK4 có trong 11 mẫu nghiên cứu, VK2 có trong 10 mẫu nghiên cứu). Trong môi trường lân hữu cơ đã phân lập được 6 chủng vi khuẩn với tần suất xuất hiện thấp hơn so với các chủng phân lập được trong môi trường vô cơ. Hoạt tính phân giải lân của các chủng từ 12 mẫu đất đều không cao. Do vậy, cần có những nghiên cứu tiếp theo để đưa ra được các biện pháp nhằm cải thiện hệ vi sinh vật trong đất cả về chủng loại và số lượng.
-
ĐÁNH GIÁ TÁC ĐỘNG CỦA CÁC BIỆN PHÁP NÔNG NGHIỆP BẢO TỒN TRONG CANH TÁC SẮN TRÊN ĐẤT DỐC TẠI TỈNH YÊN BÁI SAU 17 NĂM
Abstract : 14 PDF: 13Trong bối cảnh Việt Nam chú trọng vấn đề phát triển bền vững, huyện Văn Yên, tỉnh Yên Bái đã đẩy mạnh thực hiện chương trình canh tác bền vững trên đất dốc trồng sắn thông qua các biện pháp nông nghiệp bảo tồn, bao gồm: trồng sắn-băng cỏ; trồng sắn-băng thân cây sắn; trồng sắn-băng cốt khí; trồng sắn-đậu; trồng sắn-cây lâm nghiệp. Sau 17 năm áp dụng, việc đánh giá tác động của các biện pháp trên nhằm đo lường mức độ phù hợp, hiệu quả, tác động và tính bền vững của các biện pháp là cần thiết. Để thực hiện mục tiêu đó, nghiên cứu sử dụng phương pháp phỏng vấn ngẫu nhiên 488 hộ trồng sắn, kết hợp với phỏng vấn chuyên gia và thực hiện 6 thảo luận nhóm tập trung. Thống kê mô tả, thống kê so sánh và phương pháp đánh giá tác động được sử dụng cho nghiên cứu này. Kết quả cho thấy, các biện pháp nông nghiệp bảo tồn đã tác động tích cực đến: (i) Môi trường: giúp cải thiện chất lượng đất và kiểm soát sâu, bệnh hại; (ii) Kinh tế: tăng năng suất và thu nhập hỗn hợp của người dân; (iii) Xã hội: góp phần nâng cao nhận thức của người dân về các vấn đề trong canh tác sắn bền vững. Trong các giải pháp bảo tồn, giải pháp trồng xen sắn-đậu đen mang lại hiệu quả nhanh nhất trong ngắn hạn về cải thiện độ phì đất và đạt hiệu quả cao nhất về thu nhập hỗn hợp của hộ gia đình. Các giải pháp trồng băng chống xói mòn yêu cầu nhiều thời gian hơn trong việc nâng cao độ phì đất.
-
ĐẶC ĐIỂM CỦA ĐẤT PHÈN TRỒNG KHÓM VỤ TƠ TẠI XÃ VĨNH VIỄN A, HUYỆN LONG MỸ, TỈNH HẬU GIANG
Abstract : 10 PDF: 9Mục tiêu nghiên cứu nhằm xác định đặc điểm của đất phèn trồng khóm. Thu 15 mẫu đất từ 15 vườn khóm vụ tơ ở tầng 0 – 20 cm tại xã Vĩnh Viễn A, huyện Long Mỹ, tỉnh Hậu Giang. Kết quả phân tích cho thấy đất trồng khóm được đánh giá ở ngưỡng rất chua, giá trị pHKCl lớn nhất 2,97. Đối với hàm lượng dưỡng chất đạm tổng số được đánh giá ở mức thấp và lân tổng số được xếp vào mức trung bình, nhưng hàm lượng lân dễ tiêu được phân loại ở mức cao. Thành phần lân khó tan gồm Al-P, Fe-P và Ca-P có hàm lượng được ghi nhận lên đến 81,5, 281,9 và 50,1 mg kg-1, theo thứ tự. Hàm lượng đạm hữu dụng là 38,9 - 263,7 mg NH4+ kg-1 và 8,5 - 66,6 mg NO3- kg-1. Hàm lượng cao nhất của độc chất nhôm là 13,5 meq Al3+ 100 g-1 và sắt 390,5 mg Fe2+ kg-1. Ngoài ra, khả năng trao đổi cation được đánh giá ở ngưỡng thấp (13,5 meq 100 g-1) và hàm lượng chất hữu cơ được đánh giá ở ngưỡng trung bình (8,59% C). Nhìn chung, độ phì nhiêu đất tầng mặt của đất canh tác khóm thấp.
-
ĐÁNH GIÁ SỬ DỤNG ĐẤT VÀ KHẢ NĂNG THÍCH NGHI ĐẤT ĐAI ĐỐI VỚI CÂY CÀ PHÊ VỐI TẠI HUYỆN ĐĂK HÀ, TỈNH KON TUM
Abstract : 13 PDF: 16Huyện Đăk Hà là vùng có diện tích cà phê chiếm 42%, lớn nhất tỉnh Kon Tum. Nghiên cứu tiến hành xác định hiện trạng canh tác bằng phương pháp điều tra, phỏng vấn 575 nông hộ, lấy ý kiến 15 chuyên gia. Ứng dụng phần mềm Arcgis, Microsoft Excel kết hợp sử dụng thuật toán phân tích thứ bậc AHP để biên tập bản đồ, xử lý số liệu. Mục tiêu nhằm xác định vùng thích nghi tự nhiên cà phê và các mô hình canh tác đảm bảo chất lượng đất. Kết quả cho thấy, phần lớn diện tích của huyện thích nghi trung bình (S2) chiếm 50,7% và thích nghi kém (S3) chiếm 46,27%. Phần diện tích thích nghi cao (S1) chiếm 1,44% và diện tích không thích nghi (N) chiếm 1,59%. Kết quả nghiên cứu là cơ sở đề xuất vùng trồng cà phê, mô hình canh tác cà phê đảm bảo năng suất tốt, duy trì chất lượng đất canh tác.
-
NGHIÊN CỨU MỘT SỐ BIỆN PHÁP KỸ THUẬT TRỒNG, CHĂM SÓC CÁC GIỐNG HOA HỒNG TRỒNG CHẬU NHẬP NỘI TỪ BULGARIA TẠI NINH BÌNH
Abstract : 8 PDF: 8Hiện nay, nhu cầu sử dụng hoa hồng trồng chậu đang phát triển rất nhanh nhưng các giống hoa hồng hiện nay tuy phong phú về màu sắc nhưng chủ yếu dùng để sản xuất hoa cắt cành. Nhằm đa dạng các giống hoa hồng trồng chậu, Viện Di truyền Nông nghiệp đã nhập nội 114 giống hoa hồng Bulgaria và tuyển chọn được 4 giống phù hợp cho tỉnh Ninh Bình. Để phát triển bộ giống đã được tuyển chọn vào sản xuất và nâng cao chất lượng cho các giống hoa này, Viện Di truyền Nông nghiệp tiến hành nghiên cứu một số biện pháp kỹ thuật trồng, chăm sóc cho 4 giống hoa hồng trồng chậu nhập nội từ Bulgaria tại Ninh Bình. Kết quả cho thấy, cả 4 giống hoa hồng nhập nội thích hợp khi trồng trên giá thể gồm 50% đất + 25% phân giun + 25% xơ dừa; đồng thời, áp dụng các biện pháp kỹ thuật chăm sóc như cắt tỉa ngay sau khi hoa tàn, cắt để chừa lại 2 tầng lá và sử dụng phân bón lá Đầu Trâu 501 đã làm tăng năng suất, chất lượng và độ bền cho các giống nghiên cứu.
-
ĐÁNH GIÁ HIỆN TRẠNG VÀ HIỆU QUẢ SỬ DỤNG PHÂN HỮU CƠ, HỮU CƠ SINH HỌC CHO CÂY CHUỐI TÂY (Karpooravalli Banana) TRÊN ĐẤT PHÙ SA SÔNG HỒNG TẠI KHOÁI CHÂU, HƯNG YÊN
Abstract : 18 PDF: 17Nhằm đánh giá sơ bộ tình trạng chất hữu cơ trong đất, hiện trạng sử dụng và hiệu quả của phân hữu cơ, sinh học đối với cây chuối tây trên đất phù sa sông Hồng, đã điều tra 30 nông hộ tại Khoái Châu, Hưng Yên cùng với các thí nghiệm về bón phân cho cây chuối đã được tiến hành. Kết quả nghiên cứu cho thấy hầu hết nông dân quan tâm đến việc sử dụng phân hữu cơ và/hoặc phụ phẩm nông nghiệp tuy nhiên lượng bón còn thấp, trong lúc hàm lượng chất hữu cơ đa phần ở mức nghèo (70% số mẫu), còn lại ở mức trung bình. Các công thức bón 10 tấn phân gia cầm + 2,0 tấn bã đậu tương (CT1), 5 – 15 tấn phân trùn quế (CT2, CT3, CT4) hoặc 2 – 6 tấn phân hữu cơ sinh học Sông Gianh (CT5, CT6, CT7) cho 1 hecta giúp cây chuối sinh trưởng tốt hơn, tăng khả năng hút thu các chất dinh dưỡng N, P, K, nhờ đó tăng năng suất và có xu hướng ảnh hưởng tốt đến một số chỉ tiêu chất lượng quả so với chỉ bón phân khoáng (CT8), nhưng làm giảm hiệu quả kinh tế (tăng chi phí trung gian, giảm thu nhập hỗn hợp). So với mức đầu tư cao về phân hữu cơ hiện nay của nông dân (CT1), bón 5 tấn phân trùn quế (CT2) hoặc 4 tấn phân hữu cơ sinh học Sông Gianh (CT6) giúp giảm áp lực vốn (giảm 14,2 – 15,2 triệu đồng/ha, tương đương 17,6% - 18,9% tổng chi phí), vẫn duy trì được chất lượng chuối và tăng nhẹ hiệu quả kinh tế, là mức bón phù hợp với nông hộ bị hạn chế về khả năng đầu tư. Nông hộ có nguồn vốn ổn định có thể bón phân trùn quế ở mức 10 tấn/ha (CT3) để tăng hàm lượng hữu cơ trong đất và tăng dần chất lượng quả chuối.
-
ẢNH HƯỞNG CỦA CẮT TỈA VÀ LIỀU LƯỢNG PHÂN BÓN ĐẾN NĂNG SUẤT VÀ CHẤT LƯỢNG QUẢ TRÁM ĐEN TRỒNG TẠI HUYỆN HỮU LŨNG, TỈNH LẠNG SƠN
Abstract : 13 PDF: 14Trám đen (Canarium tramdenum Dai & Ykovl) là loài cây bản địa lấy quả dùng làm thực phẩm có nhiều giá trị và mang lại hiệu quả kinh tế cao. Nghiên cứu ảnh hưởng của biện pháp cắt tỉa và liều lượng phân bón đến năng suất và chất lượng của quả trám đen trồng tại huyện Hữu Lũng, tỉnh Lạng Sơn được thực hiện năm 2018 - 2019 trên vườn Trám đen 10 năm tuổi. Kết quả nghiên cứu cho thấy, sử dụng phân bón với liều lượng 30 kg phân chuồng + 2,0 kg NPK trên 1 cây là thích hợp cho cây sinh trưởng phát triển tốt, năng suất thực thu ở 2 năm nghiên cứu đạt được cao nhất trong các công thức bón phân là 33,91 - 36,46 kg/cây, tăng 39,44 - 41,47% so với năng suất của công thức đối chứng không bón chỉ đạt 23,97 - 26,33 kg/cây. Biện pháp cắt tỉa đã làm tăng số quả/chùm, khối lượng quả, số chùm quả/cây và năng suất của trám đen trồng tại Hữu Lũng. Năng suất thực thu ở 2 năm nghiên cứu đạt 33,95 - 35,05 kg/cây, tăng 30,42 - 36,82% so với năng suất ở công thức đối chứng không cắt tỉa, đạt được tương ứng qua các năm là 25,62 - 26,03 kg/cây. Hàm lượng lipit và protein trong thịt quả đạt được cao hơn, quả có vị bùi, béo.
-
NGHIÊN CỨU NHÂN GIỐNG VÔ TÍNH THIÊN NIÊN KIỆN (Homalomena pierreana Engl.) TẠI PHÚ QUỐC, KIÊN GIANG
Abstract : 17 PDF: 14Nghiên cứu nhân giống vô tính Thiên niên kiện (Homalomena pierreana Engl.) trong vườn ươm tại Kiên Giang cho thấy: chiều dài hom dùng nhân giống dài 4 - 6 cm, có 2 - 3 mắt mầm, tiến hành giâm hom vào thời vụ tháng 3 cho tỷ lệ sống đạt trên 80%; tỷ lệ sống ngoài đồng ruộng đạt 98,6%. Sử dụng NAA nồng độ 100 ppm trong 30 giây kích thích hom giống nảy mầm sớm sau 3 ngày đã bật mầm và 4 ngày đã bắt đầu ra rễ, tỷ lệ sống và xuất vườn đạt trên 95%. Giá thể giâm hom bao gồm hỗn hợp 25% đất + 50% cát + 25% xơ dừa cho tỷ lệ sống cao (90,7%) và chất lượng cây giống tốt nhất với chiều cao cây xuất vườn đạt 26,6 cm; 4,1 lá/mầm; chiều dài rễ đạt 20,7 cm. Cây giống sinh trưởng trong vườn ươm từ 80 - 100 ngày đủ tiêu chuẩn xuất vườn với tỷ lệ xuất vườn và tỷ lệ sống ngoài đồng ruộng đạt trên 95%.
-
NGHIÊN CỨU KHẢ NĂNG BẢO QUẢN QUẢ NHÃN CỦA CÁC LOẠI MÀNG TỪ KÉN TẰM LỚP PHỦ TRÊN CƠ SỞ FIBROIN/CHITOSAN
Abstract : 14 PDF: 12Mục tiêu của nghiên cứu này nhằm đánh giá hiệu quả bảo quản quả nhãn bằng việc sử dụng một số màng bảo quản trên trên cơ sở fibroin/chitosan. Kết quả thu được cho thấy màng fibroin/chitosan kéo dài thời gian bảo quản quả rõ rệt, giảm chỉ số hóa nâu, giảm hao hụt khối lượng, cường hô hấp và hạn chế sự giảm vitamin C, tổng hàm lượng axit, tổng lượng đường trong quả nhãn. Tác dụng bảo vệ tăng cường của một số chất phụ gia như polyvinyl alcohol (PVA), các hợp chất kháng khuẩn tự nhiên, chất chống oxy hóa và chống mất nước đến khả năng bảo quản của màng đã được nghiên cứu. Kết quả cho thấy lớp phủ fibroin/chitosan có phụ gia có thể kéo dài thời hạn sử dụng của long nhãn lên đến 30 ngày trong quá trình bảo quản ở 5oC. Những kết quả mở ra hướng ứng dụng lớp phủ fibroin/chitosan kéo dài thời gian bảo quản của quả nhãn.
-
NGHIÊN CỨU QUY TRÌNH CÔNG NGHỆ CHẾ BIẾN GIA VỊ RẮC CƠM TỪ RONG MỨT VIỆT NAM (Porphyra. Sp.)
Abstract : 15 PDF: 15Rong mứt (Porphyra sp.) được sử dụng khá phổ biến vì chúng có hàm lượng protein, các loại vitamin và khoáng chất cần thiết rất cao. Rong biển có tỷ lệ iod cao nhất trong các loại thức ăn. Ngoài làm thức ăn, rong biển còn được dùng làm thuốc, thức ăn hỗ trợ chữa bệnh cho con người. Đã nghiên cứu quy trình sản xuất gia vị rắc cơm từ nguyên liệu rong mứt – thực vật đặc trưng của vùng biển Việt Nam bổ sung thêm sản phẩm gia vị rắc cơm ăn liền cho thị trường. Kết quả nghiên cứu cho thấy, quy trình sản xuất gồm: xử lý nguyên liệu bằng acid acetic 5% với thời gian ngâm là 60 phút, sau đó rửa trung tính và sấy ở mức nhiệt độ 850C trong thời gian 4,5 giờ. Rong sau khi xử lý tiến hành xay và phối chế ở công thức tối ưu bằng chương trình DOE Mixture Design trong phần mềm JMP 10. Sản phẩm cuối cùng được phối trộn với tỷ lệ: 18,88% rong đã xử lý, 36,25% đậu phộng rang, mè rang 14,87%, đường 20%, muối 5%, tỏi phi 5% cho mức độ chấp nhận cao nhất.
-
NGHIÊN CỨU ĐIỀU KIỆN THỦY PHÂN PHỤ PHẨM CÁ TRA BẰNG ENZYME ỨNG DỤNG TRONG SẢN XUẤT THỨC ĂN THỦY SẢN
Abstract : 12 PDF: 13Dịch đạm thủy phân từ phụ phẩm cá, chứa các peptide ngắn có hoạt tính sinh học và đa dạng các axit amin thiết yếu, là một nguồn dinh dưỡng tốt ứng dụng cho công nghiệp sản xuất bột cá và nguyên liệu cho ngành sản xuất thức ăn chăn nuôi. Trong nghiên cứu này, đã xác định được điều kiện thủy phân phụ phẩm cá tra bằng enzyme thương mại nhằm thu hồi và tận dụng nguồn nguyên liệu phụ phẩm dồi dào từ công nghiệp chế biến phi-lê cá tra. Trong số bốn enzyme được thử nghiệm thủy phân, SEB-Neutral PL cho hiệu quả cao nhất. Với điều kiện thủy phân được tối ưu hóa: tỷ lệ enzyme/cơ chất 0,46%; nhiệt độ 560ºC; thời gian thủy phân 5,5 giờ; với pH tự nhiên của nguyên liệu 6,35 ± 0,21; tỷ lệ nước so với nguyên liệu là 10%. Sản phẩm dịch đạm thủy phân cá tra có hàm lượng Nts 26,9 ± 0,14 g/l, hàm lượng Naa 12,3± 0,04 g/l, sẽ là nguồn nguyên liệu phù hợp cho sản xuất thức ăn thủy sản về tiêu chí dễ tiêu hóa và hấp thụ.
-
THÀNH PHẦN LOÀI VÀ SỰ PHÂN BỐ CỦA TẢO MẮT (EUGLENOPHYTA) TRONG AO NUÔI TÔM Ở HUYỆN AN BIÊN, TỈNH KIÊN GIANG
Abstract : 6 PDF: 8Tảo mắt là một phần quan trọng của mạng lưới trong hệ sinh thái thủy sinh và chỉ thị môi trường. Nghiên cứu được thực hiện vào hai mùa nhằm xác định thành phần loài và sự phân bố tảo mắt trong ao nuôi tôm tại huyện An Biên nhằm cung cấp tài liệu cho các nghiên cứu ứng dụng trong nuôi tôm khu vực ven biển. Phân loại dựa vào các đặc điểm về hình thái được quan sát dưới kính hiển vi, đánh giá đa dạng loài dựa vào chỉ số Shannon (H’) và sự phân bố thành phần loài dựa vào chỉ số (J’). Kết quả phân loại được 25 loài thuộc 3 chi của họ Euglenaceae, bộ Euglenales. Trong đó, 14 loài thuộc chi Euglena, chiếm 56%; 9 loài thuộc chi Phacus, chiếm 36% và chi Trachelomonas với 2 loài, chiếm 8%. Tất cả các điểm thu mẫu đều có sự xuất hiện của tảo mắt nhưng thành phần loài phân bố không đều ở 2 nhóm hệ sinh thái khác nhau. Nhóm hệ sinh thái có độ mặn cao gồm các xã Hưng Yên, Nam Thái, Nam Thái A, Nam Yên và Tây Yên, chỉ số đa dạng loài H’ dao động từ 0,65 đến 0,85 và hệ sinh thái có độ mặn thấp (Đông Yên và Đông Thái) có chỉ số đa dạng loài H’ dao động từ 1,05 đến 1,18. Không có sự biến động về sự phân bố của tảo mắt giữa 2 mùa và chỉ số J’ dao động từ 0,93 đến 0,97, nhưng lại có sự phân nhóm về sự phân bố ở các địa điểm khảo sát. Nhiều loài tảo mắt thuộc chi Euglena có vai trò trong việc chỉ thị cho môi trường ô nhiễm hữu cơ trong hệ sinh thái nuôi tôm cũng được xác định trong nghiên cứu.
-
BƯỚC ĐẦU NGHIÊN CỨU BỆNH NẤM TRÊN CÁ TẦM (Acipenser sp.) NUÔI TẠI THỪA THIÊN - HUẾ
Abstract : 9 PDF: 8Nghiên cứu được thực hiện nhằm xác định loài vi nấm nhiễm trên cá tầm nuôi tại Thừa Thiên - Huế và xác định nồng độ diệt nấm của formalin và NaCl để ứng dụng trong phòng trị bệnh nấm. Từ 5 mẫu cá tầm bị lở loét và 10 mẫu cá không có dấu hiệu điển hình đã phân lập được 5 chủng vi nấm khi nuôi cấy trên môi trường PDA ở nhiệt độ 28oC trong 4 ngày. Các chủng nấm thuần được định danh dựa trên đặc điểm hình thái trong môi trường PDA, quá trình sinh sản vô tính của nấm và bằng phương pháp sinh học phân tử (giải trình tự đoạn gen its). Kết quả đã định danh cho thấy cả 5 chủng vi nấm khi phân lập trên cá tầm đều là nấm thủy mi Achlya bisexualis. Formalin và NaCl đều có khả năng kháng nấm trong điều kiện in vitro. Formalin với liều lượng 75-150 ppm và NaCl với nồng độ 2-2,5% có khả năng ức chế sự phát triển của 5 chủng nấm nghiên cứu khi ngâm sau 1 giờ.
-
PHÂN TÍCH HIỆU QUẢ KINH TẾ MÔ HÌNH NUÔI CUA - TÔM QUẢNG CANH VÙNG ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG
Abstract : 17 PDF: 14Nghiên cứu thực hiện ước lượng hiệu quả kinh tế và tìm hiểu các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả cho 308 nông hộ nuôi cua-tôm quảng canh tại ba tỉnh Kiên Giang, Bạc Liêu và Cà Mau. Kết quả nghiên cứu cho thấy, năng suất trung bình của cua biển là 10 kg/1000m2/năm, của tôm là 16 kg/1000m2/năm, lợi nhuận trung bình của mô hình là 3 triệu đồng/1000m2/năm. Nông hộ có hiệu quả kỹ thuật thấp chỉ đạt 53,5% và hiệu quả phân phối là 43,1% từ đó dẫn tới hiệu quả kinh tế của mô hình thấp chỉ đạt 22,1%. Phân tích hồi quy Tobit các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả kinh tế của mô hình có 7 biến có tác động đến hiệu quả kinh tế là trình độ, kinh nghiệm, khoảng cách ảnh hưởng đồng biến đối với biến phụ thuộc là hiệu quả kinh tế, còn lại các biến số lao động nhà tham gia nuôi cua, mật độ thả tôm, số lần thả cua và tỷ lệ cua Y trên tổng sản lượng cua có ảnh hưởng nghịch biến đối với biến hiệu quả kinh tế.
-
ẢNH HƯỞNG CỦA THỨC ĂN HỖN HỢP LÚA VÀ TRÙN QUẾ ĐẾN CHỈ TIÊU THÂN THỊT GÀ TA GÒ CÔNG
Abstract : 10 PDF: 9Thí nghiệm thực hiện trên gà ta Gò Công 5 đến 14 tuần tuổi với 5 nghiệm thức (NT): NT đối chứng (ĐC) là 100% thức ăn hỗn hợp tự phối trộn; 3 NT gồm lúa và trùn quế với các mức độ trùn quế lần lượt là 20% (TQ20); 25% (TQ25); 30% (TQ30) và NT 100% lúa (LUA). Lúc 14 tuần tuổi khối lượng gà đạt cao nhất ở NT ĐC (1.299,4 g/con) và NT TQ25 (1.271,2 g/con); thấp nhất ở NT LUA (966,0 g/con) (P<0,05). Khối lượng móc lòng tương đương giữa các NTĐC, TQ20, TQ25 và cao hơn NT LUA (P<0,05). Tỷ lệ ức, tỷ lệ thịt ức, tỷ lệ đùi tốt nhất và tương đương ở các NT ĐC, TQ20, TQ25 và TQ 30, thấp nhất ở NT LUA. Tỷ lệ thịt đùi ở NT TQ25 (25,89%) tốt nhất và thấp nhất ở NT LUA (23,11%). Các chỉ tiêu sâu ức và dài ức tốt nhất ở NT TQ25 (lần lượt là 9,95 cm và 10,38 cm) và thấp nhất ở NT LUA. Như vậy, khẩu phần với 25% trùn quế và 75% lúa cho kết quả các chỉ tiêu thân thịt tốt, có thể được xem là thích hợp để nuôi gà ta Gò Công nói riêng, nuôi gà thả vườn nói chung.
-
ĐA DẠNG DI TRUYỀN LOÀI GIÁNG HƯƠNG (Pterocarpus macrocarpus) TẠI KHU RỪNG THỰC NGHIỆM, TRƯỜNG ĐẠI HỌC LÂM NGHIỆP DỰA TRÊN CHỈ THỊ PHÂN TỬ RAPD
Abstract : 8 PDF: 914 mẫu Giáng hương (Pterocarpus macrocarpus Kurz) ở các tuổi và xuất xứ khác nhau ở Khu rừng thực nghiệm, Trường Đại học Lâm nghiệp được đánh giá tính đa dạng di truyền với 15 mồi RAPD (CP1, CP17, CP2, CP3, RM5, OPF9, CP8, CP6, OPE14, CP5, CP9, CP11, CP13, CP15, CP19). Kết quả cho thấy trong tổng số 545 băng, có 92 băng là đa hình. Số phân đoạn ADN được nhân bản dao động từ 3 đến 10 đối với các mồi khác nhau. Các mẫu Giáng hương có hệ số tương đồng di truyền từng cặp nằm trong khoảng 0,46 đến 0,88 và trung bình là 0,72. Điều này chứng tỏ mức độ tương đồng di truyền của các mẫu Giáng hương ở Khu rừng thực nghiệm, Trường Đại học Lâm nghiệp là không cao, do vậy khả năng tạo ưu thế lai trong sinh sản hữu tính để tạo nên sự đa dạng di truyền trong tập đoàn mẫu nghiên cứu là cao. Trên sơ đồ hình cây thì 14 mẫu Giáng hương với 15 mồi ngẫu nhiên được chia làm 2 nhóm chính, trong đó nhóm I chỉ có duy nhất mẫu G1. Nhóm II gồm 13 mẫu chia thành 2 nhánh phụ N1 và N2, rồi tiếp tục phân nhánh: nhánh phụ 1 (N1) gồm G2, G3, G4 và G6; nhánh phụ 2 (N2) gồm 9 mẫu còn lại và tiếp tục chia thành 2 cụm: Cụm 1 (G5, G7, G14) và Cụm 2 (G8, G10, G9, G11, G12, G13). Nghiên cứu này cho thấy những ưu thế về đa dạng nguồn gen di truyền của các cá thể Giáng hương sưu tập tại Khu rừng thực nghiệm, Trường Đại học Lâm nghiệp.
-
ĐÁNH GIÁ TƯƠNG QUAN GIỮA ĐẶC ĐIỂM CẤU TRÚC VÀ ĐỘ DÀY DẢI RỪNG NGẬP MẶN VỚI MỨC GIẢM CHIỀU CAO SÓNG VÙNG VEN BIỂN TỈNH SÓC TRĂNG
Abstract : 14 PDF: 14Nghiên cứu nhằm đánh giá tương quan đặc điểm cấu trúc rừng ngập mặn và độ dày rừng ngập mặn với chiều cao sóng tại vùng ven biển huyên Trần Đề, tỉnh Sóc Trăng. Các cấu trúc rừng như độ dày của rừng, đường kính thân cây, đường kính gốc, đường kính tán, chiều cao cây và số cây/ha, mật số của rễ khí sinh được ghi nhận và đo đạc bằng các phương pháp lâm sinh. Chiều cao sóng được ghi nhận bằng máy đo sóng ghi tự động (INFINITY-WH AWH-USB) với tần suất đo 600 lần/phút, các máy được đặt cố định ở 3 độ dày rừng tại vị trí 0 m, 50 m, 100 m và được lặp lại 3 lần tại 3 địa điểm khác nhau dọc theo bãi triều ven biển thuộc huyện Trần Đề, tỉnh Sóc Trăng là: Cống 1, Cống 3 và Mõ Ó. Các kết quả được tính toán và phân tích thống kê bằng phần mềm toán học và SPSS. Kết quả cho thấy các đặc điểm cấu trúc rừng có tương quan và làm giảm chiều cao sóng. Độ dày của rừng càng dày, chiều cao sóng đi qua càng giảm. Ngoài ra, các cấu trúc về mật độ cây rừng, đường kính thân cây và mật độ rễ khí sinh đều có tương quan thuận với sự giảm chiều cao sóng với hệ số tương quan rất chặt.
-
ĐA DẠNG THÀNH PHẦN LOÀI CHIM Ở QUẬN HOÀN KIẾM VÀ QUẬN TÂY HỒ, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
Abstract : 8 PDF: 10Quá trình phát triển của thành phố Hà Nội gắn liền với sự thay đổi về cảnh quan sinh thái dưới áp lực của sự gia tăng mật độ dân số và tốc độ xây dựng. Với vị trí địa lý nằm về phía Tây Bắc của trung tâm vùng đồng bằng châu thổ sông Hồng, Hà Nội cũng là nơi di cư trú đông và di cư qua của nhiều loài chim hoang dã. Nghiên cứu trong năm 2020 và 2021 ở hai quận nội thành của Hà Nội, sử dụng phương pháp điều tra tuyến và điều tra theo điểm đã ghi nhận được ở quận Hoàn Kiếm có 42 loài thuộc 31 giống, 22 họ, bộ, ở quận Tây Hồ có 71 loài thuộc 57 giống, 34 họ, 12 bộ. Có 31 loài ghi nhận được cả ở hai quận trên tổng số 82 loài ghi nhận được. Nghiên cứu đã xác định có 48 loài chim định cư, 35 loài di cư. Loài Rồng rộc (Ploceus philippinus) lần đầu tiên được ghi nhận ở khu vực Hà Nội. Sự đa dạng thành phần loài chim, đặc biệt là các loài di cư cũng như sinh cảnh sống của chúng là điểm cần chú ý trong quá trình quy hoạch phát triển thành phố Hà Nội để bảo tồn đa dạng sinh học cũng như đáp ứng sự phát triển bền vững của thành phố.
-
ĐẶC ĐIỂM CỦA ĐẤT SAU CANH TÁC NƯƠNG RẪY TẠI HUYỆN MỘC CHÂU, TỈNH SƠN LA
Abstract : 15 PDF: 17Nghiên cứu một số đặc điểm của đất sau canh tác nương rẫy được thực hiện tại xã Chiềng Sơn và xã Mường Sang, huyện Mộc Châu, tỉnh Sơn La cho thấy: dung trọng đất dao động từ 0,90 - 1,28 g/cm3, tỷ trọng từ 2,20 - 2,88 g/cm3, độ xốp đạt 47,97 - 66,67%. Dung trọng và độ xốp đất ở giai đoạn sau 5 năm và 15 năm bỏ hóa có sự khác biệt so với đất đối chứng. Tỷ trọng đất không có sự khác biệt ở 3 giai đoạn bỏ hóa so với đất đối chứng. Chất hữu cơ trong đất dao động 2,34 - 3,99%. Hàm lượng đạm tổng số từ 0,06% - 0,99%, hàm lượng lân tổng số từ 0,05 - 0,19% và hàm lượng kali tổng số từ 1,01 - 1,09%. Sau 5 năm bỏ hóa, chất hữu cơ trong đất và kali tổng số không có sự sai khác so với đất đối chứng nhưng khác biệt so với đất đối chứng ở giai đoạn sau 10 năm và 15 năm bỏ hóa. Đạm tổng số trong đất: khi so sánh với đất đối chứng thì không có sự khác nhau ở giai đoạn sau 5 năm, 15 năm bỏ hóa và chỉ có sự khác biệt ở giai đoạn sau 10 năm bỏ hóa. Lân tổng số trong đất có sự khác biệt ở giai đoạn sau 5 năm và 15 năm bỏ hóa với đất đối chứng và không có sự khác nhau giữa giai đoạn sau 10 năm bỏ hóa với đất đối chứng. Số lượng vi khuẩn tổng số từ 1,52 x 104 CFU/g đất đến 2,86 x106CFU/g đất, nấm tổng số đạt 1,12 x 102 CFU/g đất đến 1,52 x 104 CFU/ g đất. Theo thời gian bỏ hóa số lượng vi khuẩn trong đất tăng và có sự khác biệt rõ rệt so với đất đối chứng. Ngược lại, số lượng nấm tổng số trong đất ở các giai đoạn bỏ hóa không có sự sai khác so với đất đối chứng.
-
ỨNG DỤNG THỐNG KÊ ĐA BIẾN TRONG PHÂN VÙNG CHẤT LƯỢNG NƯỚC VÀ ĐỀ XUẤT VỊ TRÍ THU MẪU NƯỚC TẠI KHU BẢO TỒN MỸ PHƯỚC, TỈNH SÓC TRĂNG
Abstract : 13 PDF: 13Nghiên cứu được tiến hành nhằm phân vùng chất lượng nước và đề xuất vị trí và các thông số chất lượng nước quan trọng tại Khu bảo tồn Mỹ Phước sử dụng thống kê đa biến. Phân tích cụm thứ bậc (HCA-Hierarchical Clustering Analysis) và phân tích thành phần chính (PCA-Principal Component Analysis) được sử dụng trong đánh giá các vị trí và chỉ tiêu vào mùa khô (4/2018) tại 28 vị trí thu mẫu. Các chỉ tiêu được phân tích bao gồm nhiệt độ, pH, độ dẫn điện (EC), oxy hòa tan (DO), tổng chất rắn lơ lửng (TSS), nhu cầu oxy sinh hóa (BOD), nhu cầu oxy hóa học (COD), nitrate (N-NO3-), lân hòa tan (P-PO43-), ammonia (N-NH4+). Phân tích HCA đã chia các vị trí thu mẫu thành 5 nhóm vị trí, có tính chất chất lượng nước tương đồng. Phân tích này đề xuất được 5 vị trí thu mẫu bao gồm vị trí số 1 (hoặc một trong các vị trí thuộc nhóm 3), vị trí 2 (hoặc một trong các vị trí thuộc nhóm 5), vị trí 6 (hoặc một trong những vị trí trong nhóm 2), vị trí 20 hoặc 21 và vị trí 28. Kết quả phân tích cho thấy chất lượng nước tại các nhóm vị trí bị nhiễm hữu cơ và các chất dinh dưỡng; trong đó nhóm 1 có chất lượng nước tốt nhất và nhóm 4 có chất lượng nước kém nhất. Kết quả phân tích PCA cho thấy TSS, P-PO43-, BOD là chỉ tiêu ảnh hưởng quan trọng nhất đối với chất lượng nước trong mùa khô.
-
ĐÁNH GIÁ THÀNH PHẦN RÁC THẢI NHỰA TRÊN ĐỊA BÀN QUẬN NINH KIỀU, THÀNH PHỐ CẦN THƠ
Abstract : 7 PDF: 11Nghiên cứu này đã đánh giá thành phần rác thải nhựa trên sông Hậu (đoạn chảy qua quận Ninh Kiều, thành phố Cần Thơ) trong 7 ngày liên tục bằng một mạng lưới thu gom và thành phần rác thải nhựa tại 6 điểm tập kết rác của 6 phường thuộc quận Ninh Kiều, thành phố Cần Thơ. Kết quả cho thấy, chất thải nhựa trên sông Hậu rất đa dạng, trong đó phổ biến là nhựa LDPE, PS và PP, những loại nhựa này được sản xuất dưới dạng vật dụng sử dụng một lần và được thải trực tiếp trên sông hoặc đổ vào nhiều nguồn tiếp nhận khác nhau, cuối cùng đi đến sông và có khả năng trôi dạt vào biển hoặc đại dương. Tại 6 điểm tập kết rác thải, thành phần rác thải nhựa đứng thứ hai (chiếm 10,97% về khối lượng) sau rác hữu cơ, phổ biến là LDPE và PP với lần lượt là 56,38% và 10,67%.
-
GHI NHẬN LOÀI MỚI THUỘC HỌ MYRTACEAE CHO HỆ THỰC VẬT VIỆT NAM TỪ KHU BẢO TỒN THIÊN NHIÊN BẮC HƯỚNG HÓA, TỈNH QUẢNG TRỊ
Abstract : 8 PDF: 10Chi Trâm (Syzygium P. Browne ex Gaertner) thuộc họ Sim - Myrtaceae với khoảng 1.200 loài, phân bố rộng rãi ở các vùng nhiệt đới châu Phi, châu Á, châu Úc và các đảo Thái Bình Dương. Ở Việt Nam, thuộc chi Trâm ghi nhận có 66 loài; kết quả nghiên cứu đã bổ sung loài Trâm suối lá nhỏ - Syzygium fluviatile (Hemsley) Merrill & L. M. Perry ở Khu Bảo tồn Thiên nhiên (BTTN) Bắc Hướng Hóa, tỉnh Quảng Trị. Loài Trâm suối lá nhỏ được bổ sung cho hệ thực vật Việt Nam, mẫu vật thu tại Khu BTTN Bắc Hướng Hóa, tỉnh Quảng Trị hiện được lưu trữ tại Phòng tiêu bản thực vật thuộc Viện Sinh thái và Tài nguyên sinh vật, Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam (mã HN) và Phòng Tiêu bản thực vật thuộc Bảo tàng Sinh học, Khoa Sinh học, Trường Đại học Khoa học Tự nhiên, Đại học Quốc gia Hà Nội (Mã HNU). Loài này có đặc điểm gần gũi với loài Trâm lá cứng (Syzygium sterrophyllum Merr. & Perry) vì có cùng đặc điểm: lá hẹp, ống đài cao 3 - 4 mm, cụm hoa hình xim dài 1 - 2 cm. Tuy nhiên đặc điểm khác biệt của Trâm suối lá nhỏ với Trâm lá cứng là lá hình thuôn dài đến hình mũi giáo, kích thước 3-8 x 0,7-1,5 cm, cuống dài 2 mm; đài rời nhau hoàn toàn; chiều dài chỉ nhị và vòi nhụy với 4 - 5 mm; quả hình cầu, đường kính 6-7 mm.








