PHÂN TÍCH HIỆU QUẢ KINH TẾ MÔ HÌNH NUÔI CUA - TÔM QUẢNG CANH VÙNG ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG

Các tác giả

  • Lê Ngọc Danh, Ngô Thị Thanh Trúc, Trần Minh Hải

DOI:

https://doi.org/10.71254/35281c64

Abstract

The study carried out the economic efficiency estimation and studied the factors affecting the efficiency for 308 extensive crab-shrimp farmers in three provinces of Kien Giang, Bac Lieu and Ca Mau. Research results show that the average yield of sea crab is 10kg/1000m2/year, of shrimp is 16kg/1000m2/year, the average profit of the model is 3 million VND/1000m2/year. Farmers with low technical efficiency are only 53.5% and distribution efficiency is 43.1%, leading to the low economic efficiency of 22.1%. Tobit regression analysis of the factors affecting the economic efficiency of the model has 7 seas that have an impact on economic efficiency, namely level, experience, distance, the positive influence on the dependent variable is efficiency. economic efficiency, the remaining variables of household labor involved in crab farming, stocking density, number of crab stocking times and the ratio of Y crabs to total crab production have a negative influence on the economic efficiency variable.

Keywords:

Economic efficiency, crab - shrimp farming, Data envelopment analysis.

Tóm tắt

Nghiên cứu thực hiện ước lượng hiệu quả kinh tế và tìm hiểu các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả cho 308 nông hộ nuôi cua-tôm quảng canh tại ba tỉnh Kiên Giang, Bạc Liêu và Cà Mau. Kết quả nghiên cứu cho thấy, năng suất trung bình của cua biển là 10 kg/1000m2/năm, của tôm là 16 kg/1000m2/năm, lợi nhuận trung bình của mô hình là 3 triệu đồng/1000m2/năm. Nông hộ có hiệu quả kỹ thuật thấp chỉ đạt 53,5% và hiệu quả phân phối là 43,1% từ đó dẫn tới hiệu quả kinh tế của mô hình thấp chỉ đạt 22,1%. Phân tích hồi quy Tobit các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả kinh tế của mô hình có 7 biến có tác động đến hiệu quả kinh tế là trình độ, kinh nghiệm, khoảng cách ảnh hưởng đồng biến đối với biến phụ thuộc là hiệu quả kinh tế, còn lại các biến số lao động nhà tham gia nuôi cua, mật độ thả tôm, số lần thả cua và tỷ lệ cua Y trên tổng sản lượng cua có ảnh hưởng nghịch biến đối với biến hiệu quả kinh tế.

Từ khóa:

Hiệu quả kinh tế, mô hình cua-tôm, phân tích màng bao dữ liệu.

Tải xuống

Ngày nhận bài:

25-08-2026

Ngày nhận bài sửa:

31-10-2026

Ngày duyệt đăng:

31-10-2026

Ngày xuất bản:

30-07-2021

Title:

ECONOMIC EFFICIENCY ANALYSIS OF CRAB - SHRIMP FARMING IN THE MEKONG DELTA, VIET NAM
Cách trích dẫn
PHÂN TÍCH HIỆU QUẢ KINH TẾ MÔ HÌNH NUÔI CUA - TÔM QUẢNG CANH VÙNG ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG. (2021). Tạp Chí Nông nghiệp Và Môi trường, 14, 105-112. https://doi.org/10.71254/35281c64
Bài viết

Các trích dẫn

PHÂN TÍCH HIỆU QUẢ KINH TẾ MÔ HÌNH NUÔI CUA - TÔM QUẢNG CANH VÙNG ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG. (2021). Tạp Chí Nông nghiệp Và Môi trường, 14, 105-112. https://doi.org/10.71254/35281c64
Lượt xem
17
Lượt tải
14