Số 11 (2026)

					Xem Số 11 (2026)
Đã Xuất bản: 10-06-2026

Bài viết

  • XÁC ĐỊNH PHÂN LOÀI PHỤ VÀ ĐÁNH GIÁ CHẤT LƯỢNG GẠO CỦA CÁC GIỐNG LÚA ĐỊA PHƯƠNG TẠI VIỆT NAM

    Abstract : 16 PDF: 20
    Lê Thị Thu Trang, Lã Tuấn Nghĩa, Phạm Thị Thuỳ Dương, Đỗ Hà Thu, Lã Hoàng Nhật Minh, Tạ Điệp Viễn Phương, Nesio Samuel Manhique
    3-11

    Nghiên cứu được thực hiện nhằm xác định phân loài phụ và đánh giá một số chỉ tiêu chất lượng gạo của 180 giống lúa địa phương tại Việt Nam. Kết quả cho thấy, số giống thuộc phân loài phụ Japonica chiếm 57,8% và Indica chiếm 42,2%. Các chỉ tiêu chất lượng gạo của các mẫu giống có khối lượng 1.000 hạt dao động từ 16,8 - 41,27 g; dạng hạt thon chiếm ưu thế đạt 56,6%. Hàm lượng amylose biến động từ 5,2 - 24,8%; số mẫu giống có mùi thơm đạt 70 mẫu và nhóm nhiệt độ hóa hồ trung bình là 162 mẫu. Kết quả nghiên cứu đã xác định được 8 giống lúa địa phương có tiềm năng về chất lượng gạo gồm: Lúa nếp 3 tháng (SĐK3323), Tám xoan (SĐK6249), Chăm hơn (SĐK12563), Khẩu có giang (SĐK14225), Khẩu ón na (SĐK14624), Tẻ nương (SĐK15785), Khẩu nua (SĐK25163) và Lúa nương (SĐK26070) có hàm lượng amylose đạt dưới 20%, có mùi thơm (điểm 2) và nhiệt độ hóa hồ thấp đến trung bình.

    DOI: https://doi.org/10.71254/594n2d41
  • NGHIÊN CỨU NHÂN GIỐNG in vitro CÂY NGHIẾN GÂN BA (Excentrodendron tonkinense (A.Chev.)) H.T.Chang & R.H.Miau

    Abstract : 6 PDF: 12
    Đặng Thị Thu Hà, Nguyễn Thanh Tiến, Phạm Thu Hà, Lê Sĩ Hồng, Nguyễn Công Hoan, Vũ Văn Thông
    12-19

    Nghiến gân ba (Excentrodendron tonkinense) là loài cây gỗ quý có giá trị kinh tế và bảo tồn cao, hiện đang chịu áp lực suy giảm quần thể tự nhiên do khai thác quá mức. Nghiên cứu này được thực hiện nhằm bước đầu xây dựng quy trình nhân giống in vitro cho loài thông qua các giai đoạn tạo mẫu sạch, nhân nhanh chồi, kéo dài chồi, tạo rễ và huấn luyện cây con. Kết quả cho thấy, xử lý mẫu bằng HgCl₂ 0,1% trong 5 phút cho tỷ lệ mẫu sạch đạt 63,33% và tỷ lệ mẫu tái sinh đạt 56,67%. Môi trường MS bổ sung 1,5 mg/L BAP, 0 - 0,2 mg/L NAA, 30 g/L sucrose và 7 g/L agar cho hệ số nhân chồi 2,3 - 2,5 lần, với chiều cao chồi trung bình 1,60 - 1,87 cm sau 6 tuần nuôi cấy. Ở giai đoạn kéo dài chồi, môi trường MS bổ sung 1,5 mg/L BAP và 0,2 mg/L kinetin cho chiều cao chồi trung bình cao nhất, đạt 3,20 cm sau 6 tuần. Môi trường MS bổ sung 1,0 mg/L NAA thích hợp nhất trong số các công thức khảo sát cho quá trình tạo rễ, với tỷ lệ chồi ra rễ đạt 50%, trung bình 2,5 rễ/chồi và chiều dài rễ đạt 2,0 cm. Cây con được huấn luyện trong điều kiện ex vitro trong 10 ngày trước khi chuyển sang giá thể gồm 80% đất tầng B và 20% xơ dừa đạt tỷ lệ sống 100% sau thời gian theo dõi, cây sinh trưởng khỏe, lá xanh đậm và rễ bắt đầu bám giá thể. Kết quả nghiên cứu cung cấp cơ sở bước đầu cho việc hoàn thiện quy trình nhân giống in vitro và phát triển nguồn cây giống phục vụ bảo tồn Nghiến gân ba. 

    DOI: https://doi.org/10.71254/ve047k86
  • ĐÁNH GIÁ SINH TRƯỞNG, NĂNG SUẤT VÀ CHẤT LƯỢNG DƯỢC LIỆU HUYỀN SÂM (Scrophularia ningpoensis Hemsl.) TRỒNG THỬ NGHIỆM TẠI TỈNH LAI CHÂU

    Abstract : 11 PDF: 15
    Nguyễn Minh Dũng, Văn Khắc Tuyên, Đoàn Xuân Đinh, Đỗ Viết Tuấn, Chử Đức Thành, Lê Đức Hùng
    20-26

    Nghiên cứu nhằm đánh giá khả năng sinh trưởng, năng suất và chất lượng dược liệu Huyền sâm (Scrophularia ningpoensis Hemsl.) tại ba điểm trồng ở phường Đoàn Kết, xã Phong Thổ và xã Khổng Lào, tỉnh Lai Châu (các địa điểm này thuộc huyện Phong Thổ, tỉnh Lai Châu cũ). Nghiên cứu được triển khai tại ba điểm thử nghiệm tương ứng với ba địa điểm, sử dụng cây giống cùng nguồn gốc và áp dụng thống nhất quy trình canh tác. Cây giống được đem trồng có chiều cao 14 - 18 cm, 5 - 7 cặp lá/cây, đồng đều và không bị sâu, bệnh. Kết quả cho thấy, cây sinh trưởng tốt trong điều kiện sinh thái của địa phương và giữ được các đặc trưng hình thái điển hình của loài, chiều cao cây đạt từ 192,8 - 195,1 cm, 42,5 - 43,3 cặp lá/cây và đường kính thân 18,7 - 18,9 mm; thời gian từ lúc trồng đến thu hoạch là 360 ngày. Khối lượng củ khô 44,2 - 45,4 g/cây, năng suất dược liệu khô đạt 1,94 - 2,01 tấn/ha. Tổng hàm lượng harpagid và harpagosid đạt 0,83 - 1,19%, cao hơn mức tối thiểu 0,45% theo Dược điển Việt Nam V; sâu, bệnh xuất hiện ở mức nhẹ và không sử dụng thuốc bảo vệ thực vật trong thời gian theo dõi. Điểm thử nghiệm tại phường Đoàn Kết (địa chỉ cũ là xã Lản Nhì Thàng, huyện Phong Thổ) đạt năng suất và hàm lượng hoạt chất cao nhất. Nhìn chung, các điểm trồng tại phường Đoàn Kết, xã Phong Thổ và xã Khổng Lào, tỉnh Lai Châu phù hợp với yêu cầu sinh thái của cây Huyền sâm, đảm bảo năng suất và chất lượng dược liệu, có tiềm năng phát triển vùng nguyên liệu theo tiêu chuẩn GACP-WHO.

    DOI: https://doi.org/10.71254/9a63hv37
  • ẢNH HƯỞNG CỦA TỔ HỢP PHÂN BÓN ĐẾN KHẢ NĂNG SINH TRƯỞNG, CHẤT LƯỢNG VÀ HIỆU QUẢ KINH TẾ CỦA CÂY RAU CẢI THÌA (Brassica chinensis L.) TẠI TỈNH PHÚ THỌ

    Abstract : 14 PDF: 22
    Đặng Thị Tố Nga, Phạm Thị Thu Huyền, Nguyễn Thị Mai Thảo, Nguyễn Xuân Thành, Hoàng Thị Lan Hương
    27-33

    Nghiên cứu nhằm đánh giá ảnh hưởng của các mức phân bón N, P, K kết hợp với phân chuồng hoai mục đến sinh trưởng, chất lượng và hiệu quả kinh tế của cây rau cải thìa (Brassica chinensis L.) tại xã Bình Xuyên và Tam Đảo, tỉnh Phú Thọ trong vụ thu đông năm 2025. Thí nghiệm được bố trí theo kiểu khối ngẫu nhiên hoàn chỉnh (RCBD) với 4 công thức phân bón, 3 lần nhắc lại. Kết quả cho thấy, các mức phân bón đều ảnh hưởng rõ rệt đến các chỉ tiêu sinh trưởng, năng suất và khả năng chống chịu sâu, bệnh của cây cải thìa. Công thức CT4 bón cao nhất (10 tấn phân chuồng hoai mục + 60 kg N + 30 kg P2O5 + 40 kg K2O/ha) cho năng suất đạt 271,5 - 272,3 tạ/ha, tăng 12,9 - 13,7% so với đối chứng (10 tấn phân chuồng hoai mục + 30 kg N + 15 kg P2O5 + 25 kg K2O/ha); đồng thời nâng cao hiệu quả kinh tế 17,1 - 18,3%, cải thiện chất lượng nông sản (tăng độ Brix) và vẫn đảm bảo hàm lượng (nitrat NO3- ) trong giới hạn an toàn.

    DOI: https://doi.org/10.71254/3byxs260
  • KHẢO SÁT TÌNH HÌNH NHIỄM VÀ KHẢ NĂNG ỨC CHẾ VE CHÓ (Rhipicephalus sanguineus) CỦA DỊCH CHIẾT VỎ CAM SÀNH (Citrus nobilis), DỊCH CHIẾT SẢ (Cymbopogon citratus) TRONG ĐIỀU KIỆN in vitro

    Abstract : 21 PDF: 23
    Trương Phúc Vinh, Võ Thị Ngọc Bích, Quách Thị Thanh Tâm, Huỳnh Trường Giang
    34-41

    Nghiên cứu được thực hiện nhằm khảo sát tỷ lệ và cường độ nhiễm ve trên chó theo giống và giới tính tại xã Nhơn Phú, tỉnh Vĩnh Long, đồng thời đánh giá khả năng ức chế ve chó Rhipicephalus sanguineus của dịch chiết vỏ cam sành (Citrus nobilis) và dịch chiết sả (Cymbopogon citratus) trong điều kiện in vitro. Các mẫu ve thu thập được định danh bằng phương pháp hình thái học, thử nghiệm in vitro ve đực trưởng thành được bố trí ngẫu nhiên với 2 nghiệm thức, trong đó ve ở nghiệm thức 1 và 2 lần lượt tiếp xúc với 1 mL dịch chiết vỏ cam sành và 1 mL dịch chiết sả tự chiết xuất bằng rượu 40 độ. Tình hình nhiễm ve trên chó tại xã Nhơn Phú, tỉnh Vĩnh Long chiếm 53,75%, trong đó chó nội (60,28%) và cường độ nhẹ 1+ (14,97%) cao hơn so với chó ngoại và chó lai (lần lượt là 11,60% và 0,00%); tuy nhiên, ở nhóm cường độ nặng hơn, chó ngoại và chó lai chiếm ưu thế với cường độ 2+ đạt 40,00% và cường độ 3+ đạt 60,00% (so với chó nội là 37,13% và 47,90%). Ngược lại, yếu tố giới tính không ảnh hưởng đến tình trạng nhiễm ve: Tỷ lệ nhiễm ở chó đực và chó cái lần lượt là 54,22% và 52,63% , đồng thời sự phân bố cường độ nhiễm giữa hai giới tính cũng tương đương nhau khi cả chó đực và chó cái đều tập trung nhiều nhất ở cường độ 3+ (lần lượt là 52,45% và 52,00%). Dịch chiết vỏ cam sành ức chế được 40% ve vào phút thứ 7 trong khi dịch chiết sả mới ức chế được 40% ve ở phút thứ 8 và dịch chiết vỏ cam sành đã ức chế được 100% ve ở phút thứ 9 sau khi tiếp xúc, trong khi dịch chiết sả ức chế được 100% ve ở phút thứ 10 sau khi tiếp xúc. Kết quả thử nghiệm bước đầu cho thấy, dịch chiết vỏ cam sành và dịch chiết sả đều có thể dùng để kiểm soát ve chó Rhipicephalus sanguineus. 

    DOI: https://doi.org/10.71254/gdsd1c42
  • ĐÁNH GIÁ HOẠT TÍNH KHÁNG OXY HÓA VÀ KHÁNG VIÊM CỦA CHIẾT XUẤT ANTHOCYANIN TỪ GẠO NẾP THAN (Oryza rufipogon L.)

    Abstract : 7 PDF: 20
    Lê Thị Hồng Ánh, Nguyễn Lê Trâm, Ngô Minh Trực, Hoàng Thị Ngọc Nhơn
    42-50

    Nghiên cứu này nhằm đánh giá đồng thời hoạt tính kháng oxy hóa và kháng viêm của chiết xuất giàu anthocyanin từ gạo nếp than (Oryza rufipogon L.). Anthocyanin được chiết bằng dung môi ethanol axit hóa, sau đó hoạt tính kháng oxy hóa được khảo sát thông qua các phương pháp DPPH, ABTS, FRAP, RP và thử nghiệm kháng viêm dựa trên sự ức chế biến tính protein BSA. Kết quả cho thấy chiết xuất anthocyanin với hàm lượng tổng 12,18 mg/gck thể hiện hoạt tính kháng oxy hóa mạnh phụ thuộc nồng độ, với giá trị IC50 lần lượt là 20,51 µg/mL (DPPH) và 9,14 µg/mL (ABTS). Kết quả FRAP và RP cho thấy, chiết xuất có khả năng khử Fe3+ thành Fe2+ và cho electron rõ rệt, tuy nhiên hiệu lực thấp hơn so với Trolox khi quy đổi về nồng độ tương đương, mặc dù thấp hơn so với diclofenac sodium. Các kết quả thu được khẳng định tiềm năng ứng dụng của anthocyanin từ gạo nếp than như một nguồn chất chống oxy hóa và kháng viêm tự nhiên trong lĩnh vực thực phẩm chức năng và dược phẩm.

    DOI: https://doi.org/10.71254/3t86gv13
  • ẢNH HƯỞNG CỦA ĐIỀU KIỆN TRÍCH LY HỖ TRỢ ENZYME ĐẾN HIỆU SUẤT VÀ ĐẶC TÍNH CHỨC NĂNG CỦA DẦU HẠT CHANH DÂY (Passiflora edulis Sims)

    Abstract : 7 PDF: 8
    Lê Duy Nghĩa, Phan Thị Thanh Quế
    51-60

    Hạt chanh dây là phụ phẩm của quá trình chế biến, có tiềm năng khai thác giá trị gia tăng nhờ chứa các hợp chất có hoạt tính sinh học và axit béo thiết yếu. Nghiên cứu này tập trung đánh giá hiệu quả trích ly dầu hạt chanh dây bằng công nghệ có hỗ trợ enzyme Viscozyme L. Các điều kiện khảo sát bao gồm: Tỷ lệ enzyme (1,0; 1,5; 2,0; 2,5 % v/w) và thời gian trích ly (2, 3, 4, 5 giờ), với các chỉ tiêu đánh giá là hiệu suất thu hồi dầu, đặc tính hóa lý và hoạt tính sinh học của dầu. Kết quả cho thấy, trích ly sử dụng 2,0% enzyme trong 4 giờ cho hiệu suất thu hồi dầu cao (77,13%). Dầu thu được có chất lượng tốt, thể hiện qua các chỉ số peroxit và axit nằm trong giới hạn cho phép đối với dầu ăn, cùng màu sắc vàng nhạt đặc trưng. Đặc biệt, dầu hạt chanh dây giàu vitamin E (2.445,83 mg/kg) và axit béo chưa bão hòa (87,89%), trong đó axit linoleic chiếm ưu thế (72,39%); đồng thời hàm lượng polyphenol tổng số và khả năng loại gốc tự do DPPH cũng cao, lần lượt là 201,93 µg GAE/g và 85,2%. Những kết quả này cho thấy, trích ly dầu từ hạt chanh dây hỗ trợ enzyme là giải pháp công nghệ hiệu quả và thân thiện môi trường, góp phần nâng cao giá trị sử dụng phụ phẩm.

    DOI: https://doi.org/10.71254/cs3abw32
  • ẢNH HƯỞNG CỦA TỈ LỆ PHỐI CHẾ VÀ ĐIỀU KIỆN LÊN MEN ĐẾN KHẢ NĂNG CHỐNG OXY HÓA CỦA SỮA CHUA LÊN MEN TỪ HỖN HỢP DỊCH ĐẬU NÀNH VÀ ĐẬU XANH NẢY MẦM

    Abstract : 18 PDF: 18
    Trần Minh Phúc, Nguyễn Lê Yến Nhi, Nguyễn Trung Trực, Nguyễn Ngọc Thạnh, Huỳnh Xuân Phong
    61-69

    Sữa chua lên men từ dịch chiết đậu nảy mầm đang thu hút sự quan tâm nhờ giá trị dinh dưỡng cao và tiềm năng chống oxy hóa cao. Nghiên cứu được thực hiện nhằm xác định các thông số kỹ thuật phù hợp giúp nâng cao hoạt tính chống oxy hóa của sữa chua lên men từ hỗn hợp dịch đậu nành và đậu xanh nảy mầm. Nghiên cứu tiến hành khảo sát ảnh hưởng của tỉ lệ phối chế dịch sữa đậu nành và đậu xanh với các tỉ lệ 1: 0; 7: 3; 6: 4; 5: 5; 4: 6; 3: 7; 0: 1. Đồng thời khảo sát điều kiện ủ lên men gồm nhiệt độ (35, 40, 45oC) kết hợp thời gian (5, 7, 9, 11 giờ) với các chỉ tiêu theo dõi như: Hàm lượng polyphenol tổng (TPC), flavonoid tổng (TFC), khả năng bắt gốc tự do DPPH, ABTS•+ và khả năng ức chế một nửa (IC50). Kết quả cho thấy, dịch phối chế đậu nành: Đậu xanh theo tỉ lệ 6: 4, kết hợp với điều kiện lên men ở 40oC trong 7 giờ, tạo ra sản phẩm có hoạt tính chống oxy hóa cao nhất. Nghiên cứu cung cấp thông tin khoa học, làm cơ sở để thực hiện quá trình tối ưu hóa quy trình sản xuất sữa chua từ dịch trích đậu nành và đậu xanh nảy mầm, góp phần đa dạng hóa các dòng sữa chua có hoạt tính chức năng, phù hợp nhu cầu hiện nay.

    DOI: https://doi.org/10.71254/ckyt9x68
  • XÂY DỰNG CƠ SỞ DỮ LIỆU GIÁ ĐẤT PHỤC VỤ CHUYỂN ĐỔI SỐ TẠI MỘT SỐ PHƯỜNG TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH TUYÊN QUANG

    Abstract : 16 PDF: 30
    Nguyễn Đình Trung
    70-81

    Chuyển đổi số (CĐS) trong quản lý đất đai đặt ra yêu cầu cấp thiết cần xây dựng và hoàn thiện cơ sở dữ liệu (CSDL) giá đất như nền tảng cốt lõi của hệ thống thông tin đất đai và công tác định giá đất. Nghiên cứu tập trung xây dựng và đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả vận hành, khai thác CSDL giá đất tại một số phường của tỉnh Tuyên Quang. Kết quả cho thấy, giá đất phân hóa rõ theo không gian đô thị và tồn tại chênh lệch đáng kể giữa giá Nhà nước và giá thị trường. Nghiên cứu đã xây dựng thành công CSDL giá đất cho khu vực nghiên cứu thông qua chuẩn hóa dữ liệu địa chính, dữ liệu giá đất và 500 phiếu điều tra; tổ chức dữ liệu theo mô hình GIS, lưu trữ trong *.gdb và tích hợp vào PostgreSQL/PostGIS. Tuy nhiên, CSDL giá đất này còn một số hạn chế cho thấy khoảng cách giữa CSDL hiện tại và yêu cầu của hệ thống thông tin đất đai trong bối cảnh CĐS và những thay đổi trong thể chế quản lý đất đai. Từ đó, đề xuất sáu nhóm giải pháp nhằm góp phần nâng cao tính minh bạch, hiệu quả quản lý tại địa phương.

    DOI: https://doi.org/10.71254/rn1cs230
  • MÔ HÌNH HÓA PHÂN BỐ SỐ CÂY THEO ĐƯỜNG KÍNH VÀ CHIỀU CAO TRONG RỪNG TRỒNG KEO TAI TƯỢNG KINH DOANH GỖ NHỎ VÀ GỖ LỚN TẠI TỈNH TUYÊN QUANG

    Abstract : 9 PDF: 13
    Lê Đức Thắng, Đào Thị Thu Hà, Nguyễn Thị Thanh
    82-93

    Mô hình hóa phân bố tần suất đường kính và chiều cao là nền tảng khoa học quan trọng trong phân tích cấu trúc lâm phần và quản lý rừng bền vững. Nghiên cứu này nhằm xác định hàm phân phối xác suất tối ưu để mô phỏng phân bố số cây theo đường kính (N/D) và theo chiều cao (N/H) của rừng trồng Keo tai tượng theo hai định hướng kinh doanh gỗ nhỏ và gỗ lớn tại tỉnh Tuyên Quang, dựa trên dữ liệu thu thập từ 15 ô tiêu chuẩn đại diện cho các cấp tuổi 6 - 11 năm. Mười hai hàm phân phối xác suất, bao gồm các phân phối cổ điển và các phân phối linh hoạt trong khung mô hình GAMLSS, được đánh giá thông qua phương pháp ước lượng hợp lý tối đa (MLE) kết hợp với các kiểm định Kolmogorov-Smirnov và Anderson-Darling. Kết quả cho thấy, các hàm phân phối linh hoạt thuộc họ Box-Cox, đặc biệt là Box-Cox Power Exponential (BCPE), thể hiện mức độ phù hợp và tính ổn định vượt trội trong mô phỏng cả phân bố N/D và N/H ở hầu hết các độ tuổi lâm phần. Phân phối BCPE mô phỏng hiệu quả các phân bố có độ lệch và đuôi dài ở giai đoạn rừng gỗ nhỏ, đồng thời duy trì ưu thế khi cấu trúc lâm phần ổn định hơn trong giai đoạn rừng gỗ lớn. Ngược lại, các phân phối truyền thống như Weibull và Gamma chỉ đạt mức phù hợp trung bình, trong khi phân phối Exponential không phù hợp trong tất cả các trường hợp. Những kết quả này cung cấp cơ sở khoa học tin cậy cho dự báo sinh trưởng và hỗ trợ quản lý rừng trồng keo tai tượng theo hướng kinh doanh gỗ lớn và phát triển bền vững.

    DOI: https://doi.org/10.71254/3rxspn69