KHẢO SÁT TÌNH HÌNH NHIỄM VÀ KHẢ NĂNG ỨC CHẾ VE CHÓ (Rhipicephalus sanguineus) CỦA DỊCH CHIẾT VỎ CAM SÀNH (Citrus nobilis), DỊCH CHIẾT SẢ (Cymbopogon citratus) TRONG ĐIỀU KIỆN in vitro
DOI:
https://doi.org/10.71254/gdsd1c42Abstract
This study was conducted to investigate the prevalence and intensity of tick infestation in dogs based on breed and sex in Nhon Phu commune, Vinh Long province, while evaluating the in vitro inhibitory efficacy of king mandarin orange peel (Citrus nobilis) and lemongrass (Cymbopogon citratus) extracts against the dog tick Rhipicephalus sanguineus. Collected ticks were identified using morphological methods. For the in vitro bioassay, adult male ticks were randomly assigned to two treatment groups, exposing them to 1 mL of either mandarin peel extract or lemongrass extract, both prepared using 40-degree ethanol. The results showed that the overall prevalence of tick infestation in dogs in Nhon Phu commune was 53.75%. Native dogs had a significantly higher infestation rate (60.28%) and mild intensity (1+; 14.97%) than foreign and mixed-breed dogs (11.60% and 0.00%, respectively). However, foreign and mixed-breed dogs predominated in the severe infestation categories, with intensity scores of 2+ and 3+ reaching 40.00% and 60.00%, respectively (compared to 37.13% and 47.90% in native dogs). Conversely, sex did not significantly affect the infestation status, with male and female dogs exhibiting similar infestation rates (54.22% and 52.63%, respectively) and both peaking at the 3+ intensity level (52.45% and 52.00%, respectively). Regarding acaricidal efficacy, the mandarin orange peel extract inhibited 40% of ticks by the 7th minute and achieved 100% mortality by the 9th minute post-exposure. Meanwhile, the lemongrass extract reached 40% and 100% inhibition at the 8th and 10th minutes, respectively. These preliminary findings suggest that both Citrus nobilis peel and Cymbopogon citratus extracts possess strong potential for controlling the dog tick Rhipicephalus sanguineus.
Keywords:
Extract, Citrus nobilis, Cymbopogon citratus, inhibition, dog tickTóm tắt
Nghiên cứu được thực hiện nhằm khảo sát tỷ lệ và cường độ nhiễm ve trên chó theo giống và giới tính tại xã Nhơn Phú, tỉnh Vĩnh Long, đồng thời đánh giá khả năng ức chế ve chó Rhipicephalus sanguineus của dịch chiết vỏ cam sành (Citrus nobilis) và dịch chiết sả (Cymbopogon citratus) trong điều kiện in vitro. Các mẫu ve thu thập được định danh bằng phương pháp hình thái học, thử nghiệm in vitro ve đực trưởng thành được bố trí ngẫu nhiên với 2 nghiệm thức, trong đó ve ở nghiệm thức 1 và 2 lần lượt tiếp xúc với 1 mL dịch chiết vỏ cam sành và 1 mL dịch chiết sả tự chiết xuất bằng rượu 40 độ. Tình hình nhiễm ve trên chó tại xã Nhơn Phú, tỉnh Vĩnh Long chiếm 53,75%, trong đó chó nội (60,28%) và cường độ nhẹ 1+ (14,97%) cao hơn so với chó ngoại và chó lai (lần lượt là 11,60% và 0,00%); tuy nhiên, ở nhóm cường độ nặng hơn, chó ngoại và chó lai chiếm ưu thế với cường độ 2+ đạt 40,00% và cường độ 3+ đạt 60,00% (so với chó nội là 37,13% và 47,90%). Ngược lại, yếu tố giới tính không ảnh hưởng đến tình trạng nhiễm ve: Tỷ lệ nhiễm ở chó đực và chó cái lần lượt là 54,22% và 52,63% , đồng thời sự phân bố cường độ nhiễm giữa hai giới tính cũng tương đương nhau khi cả chó đực và chó cái đều tập trung nhiều nhất ở cường độ 3+ (lần lượt là 52,45% và 52,00%). Dịch chiết vỏ cam sành ức chế được 40% ve vào phút thứ 7 trong khi dịch chiết sả mới ức chế được 40% ve ở phút thứ 8 và dịch chiết vỏ cam sành đã ức chế được 100% ve ở phút thứ 9 sau khi tiếp xúc, trong khi dịch chiết sả ức chế được 100% ve ở phút thứ 10 sau khi tiếp xúc. Kết quả thử nghiệm bước đầu cho thấy, dịch chiết vỏ cam sành và dịch chiết sả đều có thể dùng để kiểm soát ve chó Rhipicephalus sanguineus.








