Số 3 + 4 (2022)

					Xem Số 3 + 4 (2022)
Đã Xuất bản: 28-02-2022

Bài viết

  • KẾT QUẢ CHỌN LỌC, KHẢO NGHIỆM GIỐNG LÚA THUẦN ĐT120 TẠI CÁC TỈNH PHÍA BẮC

    Abstract : 1 PDF: 1
    Trần Thị Hồng, Nguyễn Ngọc Tiến, Lê Quý Tường
    5-10

    Giống lúa thuần ĐT120 được chọn lọc từ nguồn vật liệu giống lúa Hương thơm 1 theo phương pháp phả hệ từ vụ xuân 2011. Giống ĐT120 được đưa vào khảo nghiệm Quốc gia tại các tỉnh phía Bắc từ vụ xuân 2017. Kết quả giống ĐT120 có thời gian sinh trưởng (TGST) 132 ngày (vụ xuân), 103 ngày (vụ mùa); năng suất trung bình 55,91 tạ/ha, vượt giống BT7 là 3,8%, thâm canh đạt 70 tạ/ha; hạt gạo hơi thon dài, tỷ lệ gạo nguyên 58,50%, hàm lượng amylose 16,31% CK, chất lượng cơm trung bình; nhiễm vừa rầy nâu (cấp 5,3), nhiễm vừa bệnh đạo ôn (cấp 5,5), kháng vừa bệnh bạc lá (cấp 5,7). Giống ĐT120 đã được công nhận lưu hành tại các tỉnh phía Bắc theo Quyết định số 180/QĐ-TT-CLT ngày 14/9/2021 của Cục Trồng trọt.

    DOI: https://doi.org/10.71254/6c5ye580
  • ĐẶC ĐIỂM NÔNG HỌC, NĂNG SUẤT VÀ CHẤT LƯỢNG CỦA CÁC TỔ HỢP NGÔ LAI GIỮA NGÔ NẾP TÍM VÀ NGÔ NGỌT

    Abstract : 1 PDF: 1
    Nguyễn Thị Nguyệt Anh, Vũ Văn Liết, Phạm Quang Tuân, Nguyễn Trung Đức
    11-21

    Ba mươi tổ hợp lai (THL) F1 giữa 3 dòng thuần ngô nếp, hạt tím và 3 dòng thuần ngô ngọt, hạt vàng (theo mô hình lai diallel I Griffing) đã được đánh giá về các đặc điểm nông học, năng suất và chất lượng trong vụ xuân 2021 tại Viện Nghiên cứu và Phát triển cây trồng (Hà Nội). Thí nghiệm bố trí khối ngẫu nhiên hoàn toàn với 3 lần nhắc lại. Kết quả nghiên cứu đã xác định được 6 THL ngô nếp tím (nếp tím x nếp tím), 6 THL ngô ngọt vàng (ngọt vàng x ngọt vàng) và 18 THL ngô nếp ngọt tím (ngọt vàng x nếp tím, nếp tím x ngọt vàng). Các THL ngô nếp tím ngọt có tỷ lệ hạt ngô ngọt trên bắp từ 24,1% - 27,1% (xấp xỉ tỷ lệ 3 nếp : 1 ngọt). Kết quả cho thấy sử dụng các dòng ngô nếp tím làm mẹ có triển vọng cho năng suất bắp tươi có lá bi (NSBTCLB) và năng suất bắp tươi không lá bi (NSBTKLB) cao hơn so với việc sử dụng các dòng ngô ngọt vàng làm mẹ từ 0,03 tấn/ha - 5,90 tấn/ha, 0,30 tấn/ha - 5,70 tấn/ha, tương ứng. Brix cao hơn ở các THL ngô ngọt (trung bình 16,41%) > ngô nếp ngọt (trung bình 14,21%) > ngô nếp tím (trung bình 14,00%). Các THL ngô nếp tím và ngô nếp ngọt tím có hàm lượng anthocyanin tổng số từ 79,07 mg/100 g - 121,60 mg/100 g, hàm lượng này thấp hơn ở các THL ngô ngọt vàng (2,37 mg/100 g - 3,17 mg/100 g). Một số THL có vỏ hạt mỏng gồm THL05, THL13, THL20, THL25 và THL30. Chọn lọc đa biến bằng chỉ số MGIDI về 9 tính trạng nông học đã xác định được 8 THL triển vọng gồm 3 THL ngô nếp tím (THL01, THL02, THL12), 5 THL ngô nếp tím ngọt (THL04, THL05, THL08, THL13, THL22) và giống ngô nếp tím ngọt VNUA161 phục vụ cho khảo nghiệm đa môi trường. Đây là nghiên cứu đánh giá và chọn lọc các THL triển vọng lai giữa ngô nếp tím và ngô ngọt đầu tiên của Việt Nam.

    DOI: https://doi.org/10.71254/e3pjg356
  • NGHIÊN CỨU ĐÁNH GIÁ MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM NÔNG SINH HỌC CỦA TẬP ĐOÀN ĐẬU XANH (Vigna radiata (L.) Wilczek)

    Abstract : 1 PDF: 1
    Trần Quang Hải, Hoàng Thị Lan Hương, Nguyễn Quang Tin
    22-28

    30 dòng đậu xanh được tiến hành đánh giá một số đặc điểm nông sinh học ở vụ xuân và vụ hè năm 2020 tại Trung tâm Tài nguyên Thực vật, An Khánh, Hoài Đức, Hà Nội. Qua đánh giá và chọn lọc đã xác định được 8 dòng đậu xanh triển vọng. Các dòng này có thời gian sinh trưởng 74 ngày - 80 ngày ở vụ xuân và 68 ngày - 73 ngày ở vụ hè; năng suất tương ứng đạt từ 1,95 tấn/ha - 2,14 tấn/ha và 1,55 tấn/ha - 1,81 tấn/ha; khả năng chống đổ và chống chịu bệnh khá (chống đổ điểm 1, gỉ sắt điểm 1 - 2, phấn trắng điểm 1); hàm lượng dinh dưỡng cao (protein 23,2% - 26,1%; lipid 1,7% - 2,14%; tinh bột 47,3% - 54,8%; vitamin B1 0,54% - 0,92%). Dòng số 27 (09Đa09) có năng suất cao nhất đạt 2,14 tấn/ha trong vụ xuân và 1,81 tấn/ha ở vụ hè, vượt giống đối chứng ĐX14 là 0,44 tấn/ha vụ xuân và 0,41 tấn/ha vụ hè ở mức sai khác có ý nghĩa.

    DOI: https://doi.org/10.71254/tavwjb85
  • ĐÁNH GIÁ KHẢ NĂNG CHỊU MẶN CỦA CÁC GIỐNG LẠC LDH09 VÀ VD2 TẠI VIỆT NAM

    Abstract : 1 PDF: 0
    Hồng Đức Ân, Chiêm Tiểu Quyên, Nguyễn Ngọc Khánh, Lê Thị Thủy Tiên, Lê Công Nông, Lê Thanh Khang
    29-34

    Khả năng chịu mặn của 6 giống lạc (Arachis hypogaea L.) L14, L27, LDH09, VD2, VD99-6 và GV3 trong điều kiện vườn ươm được đánh giá với 5 mức độ muối NaCl 0 g/l, 1 g/l, 2 g/l, 3 g/l và 4 g/l. Kết quả cho thấy, muối NaCl ảnh hưởng đến khả năng sống và sinh trưởng của cây lạc. Nồng độ muối tăng làm giảm tỷ lệ sống của cây, cũng như chiều cao cây và số đốt. Giống GV3 có tỷ lệ sống thấp ở nồng độ NaCl 4 g/l  là 11,1% ở 5 tuần sau khi trồng trong khi các giống L14, L27, VD99-6 không sống được ở nồng độ này. Các giống LDH09 và VD2 có khả năng chịu mặn cao nhất. Triệu chứng ngộ độc mặn quan sát được ở nồng độ muối NaCl 4 g/l là cây còi cọc, rễ phát triển nghèo nàn, lá trưởng thành thịt lá vàng, gân lá còn xanh, cháy chóp lá và bìa lá và theo sau là sự rụng lá.

    DOI: https://doi.org/10.71254/2e817523
  • ẢNH HƯỞNG CỦA HÌNH THỨC GIÀN LEO VÀ MẬT ĐỘ TRỒNG ĐẾN KHẢ NĂNG SINH TRƯỞNG, PHÁT TRIỂN, NĂNG SUẤT CỦA CÂY CHÈ DÂY (Ampelopsis cantoniensis (Hook. & Arn.) Planch) TẠI XÃ TƯ, HUYỆN ĐÔNG GIANG, TỈNH QUẢNG NAM

    Abstract : 1 PDF: 1
    Nguyễn Hồ Lam, Nguyễn Duy Ngọc Tân, Nguyễn Văn Hoàn, Trần Đăng Hòa, Lê Hoàng, Đinh Thị Hoa Mỹ
    35-41

    Trong nghiên cứu này, ảnh hưởng của hình thức giàn leo và mật độ trồng chè dây đến sinh trưởng, phát triển và năng suất trên địa bàn xã Tư, huyện Đông Giang, tỉnh Quảng Nam đã được nghiên cứu. Thí nghiệm được triển khai từ tháng 11 năm 2018 đến tháng 12 năm 2019. Thí nghiệm được bố trí 2 nhân tố theo kiểu ô lớn, ô nhỏ (split-splot), 2 hình thức trồng có giàn leo và trồng không có giàn leo được bố trí vào ô lớn, 3 mật độ trồng khác nhau (1 cây/m2, 2 cây/m2 và 3 cây/m2) được bố trí vào ô nhỏ, 3 lần nhắc lại. Các chỉ tiêu theo dõi là chiều cao cây, số cành cấp 1/cây, số lá/cành cấp 1 và năng suất thực thu tươi và khô trên cây và trên ha. Kết quả nghiên cứu chỉ ra rằng năng suất thực thu tươi và khô ở hình thức trồng có giàn leo cao hơn có ý nghĩa thống kê (P<0,05) so với hình thức trồng không có giàn leo. Năng suất thực thu tươi và khô trên ha của mật độ 3 cây/m2 cao hơn có ý nghĩa (P<0,05) so với mật độ 1 cây/m2 và 2 cây/m2. Như vậy, khuyến cáo trồng 3 cây/m2 (khoảng cách 0,33 m x 1,0 m; tương ứng 30.000 cây/ha) kết hợp với làm giàn leo hình chữ A cho hiệu quả sản xuất cao nhất.

    DOI: https://doi.org/10.71254/d7h9tt40
  • NGHIÊN CỨU KHẢ NĂNG TÁI SINH VÀ SINH TRƯỞNG CHỒI IN VITRO CÂY VIỆT QUẤT (Vaccinium myrtillus Linn.) THÔNG QUA NUÔI CẤY ĐỐT THÂN

    Abstract : 1 PDF: 1
    Phan Xuân Huyên, Nguyễn Thị Thanh Hằng, Nguyễn Thị Phượng Hoàng, Đinh Văn Khiêm
    42-50

    Cây việt quất (Vaccinium myrtillus Linn.) là một giống cây ăn trái nhập nội tốt cho sức khỏe và có giá trị kinh tế cao. Hiện nay ở nước ta chưa có công bố nghiên cứu nhân giống in vitro cây việt quất. Bài báo này tiến hành nghiên cứu nhân giống in vitro cây việt quất bằng phương pháp nuôi cấy đốt thân. Kết quả cho thấy, môi trường WPM bổ sung 0,5 mg/l zeatin kết hợp 0,1 mg/l NAA (chiều cao chồi 4,53 cm, 1 chồi/mẫu, 11,20 đốt/chồi), môi trường WPM bổ sung 1 mg/l BA kết hợp 0,1 mg/l NAA (chiều cao chồi 4,18 cm, 1 chồi/mẫu, 9,10 đốt/chồi) và môi trường WPM bổ sung 1 mg/l Kinetin kết hợp 0,1 mg/l NAA (chiều cao chồi 3,88 cm, 1 chồi/mẫu, 8,50 đốt/chồi) là những môi trường tốt nhất đến sự tái sinh và sinh trưởng chồi in vitro cây việt quất. Tạo rễ in vitro, môi trường WPM bổ sung 1 mg/l NAA là tốt nhất (chiều cao cây 5,14 cm, chiều dài rễ 1,42 cm, tỷ lệ ra rễ đạt 100%). Cây việt quất cấy mô chuyển ra ngoài vườn ươm thì giá thể vụn xơ dừa là tốt nhất đến sự sinh trưởng và tỷ lệ sống của cây (chiều cao cây 7,46 cm, chiều dài rễ 3,48 cm, tỷ lệ sống 90,48%). Những cây việt quất cấy mô sinh trưởng tốt trên giá thể vụn xơ dừa sau 2 tháng nuôi trồng, cây tiếp tục sinh trưởng tốt sau 3 và 4 tháng nuôi trồng.  

    DOI: https://doi.org/10.71254/km26m657
  • ẢNH HƯỞNG CỦA MẬT ĐỘ VÀ LIỀU LƯỢNG PHÂN BÓN ĐẾN NĂNG SUẤT HẠT GIỐNG CÂY HƯƠNG NHU TÍA (Ocimum tenuiflorum L.)

    Abstract : 1 PDF: 0
    Lương Thị Hoan, Đặng Văn Hùng, Trần Văn Thắng, Nguyễn Đăng Minh Chánh
    51-56

    Nghiên cứu  được thực hiện từ năm 2020 - 2021 tại Trung tâm Trồng và Chế biến Cây thuốc Hà Nội nhằm đánh giá ảnh hưởng của mật độ và liều lượng phân bón đến sinh trưởng phát triển, năng suất và chất lượng hạt giống của cây Hương nhu tía. Thí nghiệm 2 nhân tố với bốn công thức mật độ (M): 60.000 cây/ha, 50.000 cây/ha, 40.000 cây/ha và 35.000 cây/ha và 3 công thức phân bón (P) đã được thiết kế theo kiểu ô lớn ô nhỏ (split-plot) với 3 lần nhắc. Kết quả phân tích cho thấy, số cụm hoa trên cây của nhóm công thức M4P2, M2P2 và M4P1 khác biệt có ý nghĩa so với nhóm công thức M1P1, M1P3 và M1P2. Các công thức M2P1, M2P3, M3P1, M3P2, M3P3 và M4P1 không có sự khác biệt về thống kê (p > 0,05). Công thức M2P2 (5 cây/m2 và bón 3 tấn phân hữu cơ hoai mục + 60 kg đạm hạt vàng Đầu Trâu + 20 kg super lân Lâm Thao + 40 kg kali clorua/ha) có năng suất hạt giống cao nhất (66,4 kg/ha), cao hơn có ý nghĩa (p ≤ 0,05) so với các công thức M3P2 và M3P3. Công thức có năng suất hạt giống thấp nhất là M4P3 đạt giá trị 57,5 kg/ha. Số cụm hoa và năng suất có mối tương quan khá chặt, số hoa càng cao thì năng suất hạt giống thu được càng cao tính trên cùng đơn vị diện tích. Công thức M2P2 có nhiều ưu điểm nhất nên có thể áp dụng trong điều kiện tại Hà Nội, tuy nhiên cần có những nghiên cứu ở các điều kiện môi trường khác nhau.

    DOI: https://doi.org/10.71254/8mvbt652
  • BỆNH CHẾT HÉO DO NẤM Ceratocystis manginecans GÂY HẠI CÂY XOAN TA

    Abstract : 1 PDF: 1
    Nguyễn Minh Chí
    57-64

    Xoan ta là loài cây trồng phổ biến tại vùng Đông Bắc bộ, Tây Bắc bộ, Bắc Trung bộ, Nam Trung bộ và Tây Nguyên và đã góp phần cung cấp nguồn nguyên liệu gỗ trong nhiều năm qua. Tuy nhiên, bệnh chết héo gây hại rừng trồng Xoan ta có xu hướng lan nhanh. Nghiên cứu này nhằm xác định triệu chứng, giám định loài và thử tính gây bệnh của nấm gây chết héo rừng trồng Xoan ta tại tỉnh Hòa Bình và Thanh Hóa. Nấm gây bệnh chết héo rừng trồng Xoan ta với triệu chứng điển hình là trên vỏ cây bị bệnh có những vết loét, gỗ bị thâm đen hoặc xanh đen, có thể sùi nhựa hoặc bọt nước. Khi cây bị bệnh, tán lá héo dần từ trên ngọn xuống và sau đó bị chết. Kết quả giải trình tự gen bằng cặp mồi βT1a và βT1b đã xác định mười mẫu nấm gây bệnh chết héo rừng trồng Xoan ta tại tỉnh Hòa Bình và Thanh Hóa là loài Ceratocystis manginecans. Các mẫu nấm phân lập từ các cây bị bệnh đều có tính gây bệnh trung bình đến rất mạnh đối với cây Xoan ta 1 năm tuổi. Để quản lý hiệu quả bệnh chết héo rừng trồng Xoan ta, cần nghiên cứu bổ sung các giải pháp quản lý phù hợp cho cây Xoan ta, một loài cây chủ mới của nấm gây bệnh chết héo.

    DOI: https://doi.org/10.71254/vmbhq576
  • ẢNH HƯỞNG CỦA CÁC YẾU TỐ KHÍ TƯỢNG ĐẾN SỰ PHÁT SINH GÂY HẠI CỦA BỌ TRĨ HẠI DƯA LEO Ở HUYỆN PHỤNG HIỆP, TỈNH HẬU GIANG

    Abstract : 1 PDF: 0
    Nguyễn Văn Hồng, Phan Thị Anh Thơ, Lê Thanh Toàn
    65-71

    Bọ trĩ trên dưa leo (Thrips sp.) là một trong những sâu hại làm tổn thất năng suất dưa leo nghiêm trọng. Mục đích của nghiên cứu này nhằm đánh giá mối tương quan của các yếu tố khí tượng đến sự phát sinh gây hại của bọ trĩ trên dưa leo, từ đó xây dựng mô hình dự đoán sâu hại để hạn chế thấp nhất sự thiệt hại dưa leo ở huyện Phụng Hiệp, tỉnh Hậu Giang. Số liệu sản xuất nông nghiệp thứ cấp thu được từ Sở Nông nghiệp và PTNT tỉnh Hậu Giang từ tháng 01 năm 2017 đến tháng 12 năm 2019. Kết quả cho thấy, một số yếu tố khí tượng gồm nhiệt độ không khí cao nhất, nhiệt độ trung bình, nhiệt độ thấp nhất, độ ẩm không khí cao nhất, độ ẩm trung bình, độ ẩm thấp nhất, lượng mưa và số giờ nắng có sự ảnh hưởng đến tỷ lệ diện tích dưa leo bị nhiễm bọ trĩ với hệ số tương quan cao nhất dao động trong khoảng 0,24-0,54. Trong đó, 3 yếu tố độ ẩm thấp nhất, nhiệt độ thấp nhất và nhiệt độ cao nhất đóng vai trò rất quan trọng cho việc dự báo sự xuất hiện của bọ trĩ. Do đó, các yếu tố khí tượng trên cần được ưu tiên xem xét trong quản lý bọ trĩ hại dưa leo.

    DOI: https://doi.org/10.71254/b234sm92
  • ĐẶC ĐIỂM CỦA ĐẤT PHÈN TRỒNG KHÓM VỤ GỐC TẠI THỊ TRẤN VĨNH VIỄN, HUYỆN LONG MỸ, TỈNH HẬU GIANG

    Abstract : 1 PDF: 1
    Nguyễn Quốc Khương, Lê Võ Bảo Hân, Trần Ngọc Hữu, Lê Vĩnh Thúc, Lý Ngọc Thanh Xuân
    72-77

    Mục tiêu nghiên cứu là xác định đặc tính hóa học của đất phèn trồng khóm vụ gốc. Thu 15 mẫu đất từ 15 vườn khóm vụ gốc ở độ sâu 0 cm - 20 cm tại thị trấn Vĩnh Viễn, huyện Long Mỹ, tỉnh Hậu Giang. Kết quả phân tích cho thấy, đất phèn trồng khóm được đánh giá ở ngưỡng rất chua, giá trị pHKCl lớn nhất chỉ 3,20. Đối với hàm lượng dưỡng chất đạm tổng số và lân tổng số được đánh giá ở mức thấp, nhưng hàm lượng lân dễ tiêu được đánh giá ở mức cao, với giá trị trung bình 67,5 mg kg-1. Bên cạnh đó, hàm lượng của các dạng lân khó tan gồm Al-P, Fe-P và Ca-P được ghi nhận lên đến 114,9 mg kg-1, 586,9 mg kg-1 và 281,6 mg  kg-1, theo thứ tự. Hàm lượng đạm hữu dụng được xác định 5,60 mg NH4+ kg-1 - 66,8 mg NH4+ kg-1 và 3,51 mg NO3- kg-1 - 65,0 mg NO3- kg-1. Hàm lượng của độc chất nhôm và sắt cao nhất lần lượt là 2,55 meq Al3+ 100 g-1 và 23,7 mg  kg-1. Ngoài ra, khả năng trao đổi cation được đánh giá ở ngưỡng thấp (7,34 meq 100 g-1) và hàm lượng chất hữu cơ được đánh giá ở ngưỡng trung bình (4,59% C). Nhìn chung, độ phì nhiêu đất tầng mặt của đất canh tác khóm vụ gốc ở mức thấp.

    DOI: https://doi.org/10.71254/p4aefp28
  • ẢNH HƯỞNG QUÁ TRÌNH TRÍCH LY ĐẾN HÀM LƯỢNG CAROTENOID, TANNIN VÀ HIỆU SUẤT TRÍCH LY TỪ QUẢ LÊKIMA (Pouteria campechiana)

    Abstract : 1 PDF: 1
    Trần Xuân Hiển, Huỳnh Liên Hương, Nguyễn Trung Thành, Lê Thị Thúy Hằng
    78-85

    Các đặc tính dược liệu của quả lêkima (Pouteria campechiana) ở Việt Nam hiện nay vẫn chưa được nghiên cứu nhiều. Nghiên cứu này được thực hiện nhằm đánh giá ảnh hưởng của quá trình trích ly đến hàm lượng carotenoid, tannin và hiệu suất trích ly quả lêkima. Hiệu quả của quá trình trích ly được đánh giá thông qua hàm lượng carotenoid, tannin và hiệu suất trích ly. Kết quả thực nghiệm cho thấy ở nồng độ ethanol 70% (v/v), tỷ lệ paste lêkima/dung môi ethanol thích hợp là 1/7 g/ml, nhiệt độ trích ly 500C và thời gian trích ly 45 phút thu nhận hàm lượng carotenoid là 157,06 µg/g ± 1,81 µg/g, tannin là 69,35 mgTAE/g ± 3,02 mgTAE/g và hiệu suất trích ly đạt 78,56% ± 0,66%. Kết quả từ nghiên cứu này góp phần cung cấp dẫn liệu khoa học quý giá về quả lêkima, đặc biệt cho ngành công nghệ thực phẩm.

    DOI: https://doi.org/10.71254/26n3jx96
  • ẢNH HƯỞNG CỦA AXIT HUMIC ĐẾN SỰ SINH TRƯỞNG VÀ PHÁT TRIỂN HỆ SỢI KHUẨN TY NẤM RƠM (Volvariella volvacea) LY TRÍCH TỪ THAN BÙN

    Abstract : 1 PDF: 0
    Nguyễn Văn Lẹ, Trần Nhân Dũng, Hà Ngọc Bằng, Bùi Trọng Khang, Bùi Xuân Khanh
    86-95

    Nghiên cứu sản xuất chế phẩm sinh học với thành phần là axit humic ly trích từ than bùn thu tại tỉnh Kiên Giang với các mục tiêu nhằm khảo sát các nhân tố ảnh hưởng đến quá trình ly trích axit humic và xác định nồng độ tối ưu của axit humic ảnh hưởng đến sự sinh trưởng và phát triển của hệ sợi khuẩn ty nấm rơm (Volvariella volvacea) trong điều kiện phòng thí nghiệm. Nội dung nghiên cứu được triển khai thực hiện bao gồm: (i) Xác định lượng nước bão hòa và khảo sát ảnh hưởng của giá trị pH đến trạng thái kết tủa và hòa tan axit humic, (ii) Nghiên cứu sản xuất chế phẩm sinh học với thành phần là axit humic ly trích từ than bùn, (iii) Khảo sát ảnh hưởng của chế phẩm sinh học đến sự sinh trưởng và phát triển của hệ sợi nấm rơm. Các thí nghiệm được bố trí theo thể thức hoàn toàn ngẫu nhiên và được triển khai trong điều kiện phòng thí nghiệm thuộc Trường Đại học Kiên Giang. Kết quả nghiên cứu đã xác định được lượng nước bão hòa của than bùn với tỷ lệ nước: than bùn là 2,5: 1, pH tối ưu để hòa tan và kết tủa axit humic tương ứng giá trị là pH = 9 và pH = 2 và đã sản xuất thành công chế phẩm sinh học (axit humic) dạng bột với độ tinh khiết là 89,5%. Nghiên cứu đã xác định được ảnh hưởng của nồng độ chế phẩm sinh học (axit humic) đến sự sinh trưởng và phát triển của hệ khuẩn ty nấm rơm (Volvariella volvacea) tối ưu ở nồng độ 0,8 ppm trong điều kiện phòng thí nghiệm.

    DOI: https://doi.org/10.71254/q1gt3v90
  • ẢNH HƯỞNG CỦA LƯỢNG THỨC ĂN ĐẾN KHẢ NĂNG SINH SẢN CỦA GÀ CÁY CỦM

    Abstract : 1 PDF: 1
    Bùi Thị Thơm, Trần Văn Phùng, Trần Văn Thăng, Cù Thị Thúy Nga, Trần Thị Quỳnh Trang
    96-103

    Thí nghiệm được tiến hành nhằm xác định ảnh hưởng của lượng thức ăn đến khối lượng, tuổi thành thục và năng suất sinh sản của gà Cáy Củm. Thí nghiệm gồm ba nghiệm thức, nghiệm thức (TN1), nghiệm thức (TN2) và nghiệm thức (TN3) với lượng thức ăn tương ứng với các nghiệm thức kể trên lần lượt là 120%, 110% và 100% lượng thức ăn cho gà Ri của từng giai đoạn sản xuất. Khi bắt đầu thí nghiệm, tổng số 900 gà 1 ngày tuổi được bố trí ngẫu nhiên vào các nghiệm thức, mỗi nghiệm thức 300 con. Đến giai đoạn 8 tuần tuổi, tiến hành chọn mỗi nghiệm thức 100 gà mái để nuôi hậu bị và sinh sản. Thí nghiệm được lặp lại 3 lần. Kết quả nghiên cứu cho thấy, lượng thức ăn có ảnh hưởng đến khối lượng, tuổi thành thục sinh dục, năng suất trứng và hiệu quả sử dụng thức ăn của gà, nhưng không ảnh hưởng đến tỷ lệ trứng có phôi và tỷ lệ ấp nở. Khi tăng lượng thức ăn cho gà Cáy Củm từ 110% ở nghiệm thức (TN2) đến 120% ở nghiệm thức (TN1) so với mức ăn của gà Ri ở nghiệm thức (TN3), khối lượng gà mái lúc 20 tuần tuổi tăng cao dần. Cao nhất ở nghiệm thức (TN1) đạt  1834,0 g/con, nghiệm thức (TN2) đạt 1705,62 g/con và thấp nhất ở nghiệm thức (TN3) đạt 1577,70 g/con. Tuổi đẻ trứng đạt tỷ lệ 5% và tuổi đẻ đạt đỉnh cao sớm hơn khi cho gà ăn nhiều hơn (169,00 ngày tuổi và 225,33 ngày tuổi, nghiệm thức (TN1)), chậm nhất là ở nghiệm thức (TN3) (224,33 ngày tuổi và 306,67 ngày tuổi). Năng suất trứng đến 72 tuần tuổi của gà ở nghiệm thức (TN1) cũng đạt cao hơn (119,18 quả/mái so với 114,62 quả/mái và 105,02 quả/mái ở nghiệm thức (TN2) và nghiệm thức (TN3)). Tiêu tốn thức ăn/10 quả trứng của gà ở nghiệm thức (TN2) đạt thấp nhất (3,10 kg), tiếp theo là nghiệm thức (TN1) (3,26 kg) và cao nhất là nghiệm thức (TN3) (3,41 kg). Tỷ lệ trứng có phôi và tỷ lệ nở trên trứng có phôi của các nghiệm thức (TN1), nghiệm thức (TN2) và nghiệm thức (TN3) lần lượt là 81,56% và 93,47%; 80,89% và 93,44%; 80,11% và 93,77%.

    DOI: https://doi.org/10.71254/mx020z55
  • PHÂN LẬP, TUYỂN CHỌN VÀ ĐỊNH DANH NẤM MEN LÊN MEN ETHANOL TỪ TRÁI CHÙM RUỘT (Phyllanthus acidus (L.) Skeels)

    Abstract : 1 PDF: 0
    Lâm Thảo Nhi, Nguyễn Ngọc Phương Trang, Trần Thị Mai Thi, Nguyễn Thanh Thảo Nguyên, Huỳnh Ngọc Thanh Tâm
    104-111

    Nghiên cứu được thực hiện trên cơ sở phân lập và tuyển chọn nấm men có hoạt lực lên men ethanol cao từ trái chùm ruột tại các tỉnh/thành phố: Cần Thơ, An Giang, Bạc Liêu. Từ nguồn trái chùm ruột ban đầu, 35 chủng nấm men đã được phân lập xếp thành 7 nhóm: hình cầu lớn, hình cầu nhỏ, hình oval lớn, hình oval nhỏ, hình elip dài, hình elip ngắn, hình elip nhọn dựa vào khóa phân loại nấm men (hình thái, sinh lý, sinh hóa) đã xác định các dòng nấm men phân lập được bao gồm 3 giống Sacccharomyces, PichiaHanseniaspora. Trong đó, dòng nấm men GX2 hình cầu lớn được phân lập từ trái chùm ruột tại Giai Xuân (Phong Điền, Cần Thơ) đã được tuyển chọn do có khả năng lên men cho nồng độ ethanol cao. Với điều kiện lên men ban đầu pH 4,5, độ Brix 20 và số lượng tế bào nấm men 106 tế bào/mL, hàm lượng ethanol đạt 5,74% v/v và độ Brix biểu kiến đo bằng khúc xạ kế còn thấp (độ Brix 6,83) sau 14 ngày lên men. Kết quả của phương pháp giải trình tự ADN đã xác định được nấm men GX2 thuộc loài Candida, ứng dụng cho lên men sản xuất cồn công nghiệp.

    DOI: https://doi.org/10.71254/n47mz910
  • MỘT SỐ YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN CHẤT LƯỢNG BÁNH KHOAI LANG TÍM LÀM PHỒNG BẰNG XỬ LÝ VI SÓNG

    Abstract : 1 PDF: 0
    Hoàng Quang Bình, Trần Thị Lệ, Katleen Raes, Lê Trung Thiên
    112-118

    Khoai lang tím chứa nhiều các hợp chất kháng oxy hóa có lợi cho sức khỏe như polyphenol, anthocyanin. Nghiên cứu đã được thực hiện nhằm phát triển quy trình chế biến sản phẩm bánh phồng (snack) khoai lang tím, sản phẩm tạo thành đạt được giá trị cảm quan tốt cũng như khắc phục được những nhược điểm vốn có của các sản phẩm bánh phồng truyền thống là chứa ít các hợp chất chống oxy hóa. Kết quả nghiên cứu cho thấy công thức chế biến sử dụng 20% khoai lang tím hấp cho sản phẩm có màu sắc hấp dẫn với màu tím đặc trưng của khoai lang, sản phẩm có mùi vị và độ giòn xốp được yêu thích. Nhiệt độ sấy 700C giúp sản phẩm tiết kiệm thời gian sấy (210 phút) và duy trì tốt hàm lượng các hợp chất kháng oxy hóa. Mẫu được làm phồng bằng vi sóng với công suất 630 W trong thời gian 30 giây hoặc 495 W trong 60 giây cho sản phẩm sau vi sóng có chất lượng tốt về độ giòn xốp và mùi vị; hàm lượng polypheonol tổng 102,26 mg GAE/100 g chất khô và hàm lượng anthocyanin là 20,09 mg/100 g chất khô. Áp dụng công nghệ vi sóng có nhiều tiềm năng trong chế biến sản phẩm bánh phồng.

    DOI: https://doi.org/10.71254/hac7qj85
  • THÀNH PHẦN HÓA HỌC VÀ ĐẶC TÍNH CHỨC NĂNG CỦA SẢN PHẨM THUỶ PHÂN PROTEIN TỪ THỊT VỤN CÁ NGỪ VÂY VÀNG (Thunnus albacares)

    Abstract : 0 PDF: 1
    Nguyễn Thị Mỹ Hương
    119-125

    Thành phần hóa học và đặc tính chức năng của sản phẩm thủy phân protein từ thịt vụn cá ngừ vây vàng đã được nghiên cứu. Bốn sản phẩm thủy phân protein thu được bằng cách thủy phân thịt vụn cá ngừ vây vàng bởi enzyme flavourzyme 0,5% ở nhiệt độ 50oC và thời gian thủy phân khác nhau (1 giờ, 2 giờ, 3 giờ và 4 giờ). Các kết quả nghiên cứu cho thấy, sản phẩm thủy phân protein thu được sau 4 giờ thủy phân có hàm lượng nước 6,1%, protein 63,6%, lipit 0,7%, tro 8,8%, tổng axit amin 35,36 g/100 g và tỉ lệ axit amin không thay thế so với tổng axit amin 37,84%. Các axit amin có hàm lượng cao là glycine, glutamic, aspartic, alanine, proline và leucine. Sau 1, 2, 3 giờ và 4 giờ thủy phân thịt vụn cá ngừ vây vàng, độ thủy phân đạt được lần lượt là 15,3%, 20,8%, 23,7% và 25,4%. Độ hòa tan của sản phẩm thủy phân protein tăng lên cùng với thời gian thủy phân và dao động từ 86,5% đến 98,6%. Khả năng tạo bọt của sản phẩm thủy phân protein đạt giá trị cao nhất (30,2%) ứng thời gian thủy phân 2 giờ và độ thủy phân 20,8%. Khả năng nhũ hóa của sản phẩm thủy phân protein trong khoảng 15,6 ml/g - 23,4 ml/g. Nghiên cứu này đã chỉ ra rằng sản phẩm thủy phân protein từ thịt vụn cá ngừ vây vàng có giá trị dinh dưỡng cao với đặc tính chức năng tốt và có thể được sử dụng làm nguồn protein trong thực phẩm cho con người.

    DOI: https://doi.org/10.71254/zp5gw213
  • HIỆU QUẢ CHI PHÍ TỐI ƯU TRONG QUẢN LÝ VẬN HÀNH HỆ THỐNG TƯỚI BẰNG ĐỘNG LỰC QUY MÔ NHỎ VÙNG ĐỒNG BẰNG SÔNG HỒNG

    Abstract : 1 PDF: 1
    Đinh Văn Đạo, Nguyễn Tùng Phong, Trần Văn Đạt, Tôn Nữ Hải Âu
    126-134

    Nghiên cứu sử dụng phương pháp phi tham số DEA theo giả thiết hiệu quả không đổi theo quy mô CRS và hiệu quả thay đổi theo quy mô VRS. Dữ liệu trung bình 3 năm của 7 yếu tố đầu vào được sử dụng để phân tích chỉ số hiệu quả phân phối và hiệu quả chi phí tối ưu của các hệ thống tưới bằng động lực quy mô nhỏ. Kết quả chỉ ra chỉ số hiệu quả phân phối theo giả thiết CRS và VRS lần lượt là 0,79 và 0,856; chỉ số hiệu quả chi phí tối ưu theo giả thiết CRS và VRS lần lượt là 0,73 và 0,81. Tương ứng với mức sử dụng lãng phí chi phí đầu vào chung lần lượt là 27% và 19%. Trong số 48 hệ thống nghiên cứu, có 1 hệ thống được quản lý vận hành hệ đạt chỉ số hiệu quả chi phí tối ưu theo giả thiết CRS bằng 1 và 7 hệ thống đạt chỉ số hiệu quả chi phí tối ưu theo giả thiết VRS bằng 1, mức tối ưu. Suất chi phí tối ưu theo hai giả thiết CRS và VRS đề xuất lần lượt là 1,982 triệu đồng/ha và 2,167 triệu đồng/ha, thấp hơn so với mức hiệu quả thực tế lần lượt là 24,91% và 17,9%. Đây là cơ sở để gợi ý chính sách hỗ trợ kinh phí phù hợp mà có thể đảm bảo rằng với mức giá đầu vào như hiện tại thì các đơn vị quản lý vận hành có thể thực hiện quản lý vận hành hệ thống tưới bền vững và hiệu quả nhất.  

    DOI: https://doi.org/10.71254/fys0tm91
  • ĐÁNH GIÁ MỨC ĐỘ SUY GIẢM MỰC NƯỚC DƯỚI ĐẤT VÀ KHẢ NĂNG BỔ CẬP CHO TẦNG Holocene (qh): TRƯỜNG HỢP NGHIÊN CỨU TẠI VÙNG THƯỢNG NGUỒN ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG

    Abstract : 1 PDF: 1
    Phạm Thị Cẩm Vân, Trần Dương Minh Trung, Huỳnh Văn Hiệp, Nguyễn Đình Giang Nam, Trần Văn Tỷ, Lê Hữu Phú, Huỳnh Vương Thu Minh
    135-143

    Mục tiêu của nghiên cứu này là đánh giá xu thế biến động mực nước dưới đất (NDĐ) tầng Holocene (qh), Pleistocene thượng (qp3), Pleistocene trung thượng (qp2-3) và khả năng bổ cập NDĐ tầng qh từ nước mưa tại vùng thượng nguồn đồng bằng sông Cửu Long. Các phương pháp được sử dụng gồm: (i) kiểm định Mann - Kendall và xu thế Sen’s Slope cho mực NDĐ; (ii) phân tích và đánh giá đặc điểm phân bố mưa; (iii) tính toán lượng nước mưa bổ cập theo Bindeman (1963). Kết quả nghiên cứu cho thấy, ở giai đoạn năm 1995 - 2020, mực NDĐ có xu thế giảm dần theo thời gian và lượng mưa có xu hướng tăng vào mùa mưa, giảm vào mùa khô nhưng không đáng kể, nhiệt độ trung bình giai đoạn năm 1995 - 2015 có xu hướng tăng. Kết quả kiểm định Mann - Kendall và xu thế Sen’s Slope cho thấy biến động mực NDĐ có xu thế giảm. Sự biến động (giảm/tăng) mực NDĐ cho thấy được mức độ sử dụng nước ở các tầng chứa nước và nguyên nhân có thể là do sự phân bố mưa (tập trung vào những tháng mùa mưa, mặc dù số ngày mưa ở mùa khô tăng lên nhưng không đáng kể). Mực nước tầng Holocene (qh) có khả năng được bổ cập từ nước mưa.

    DOI: https://doi.org/10.71254/b9fssb52
  • XÁC ĐỊNH GIÁ TRỊ VÀ SỰ PHÂN BỐ CỦA NẤM LỚN TẠI KHU BẢO TỒN THIÊN NHIÊN ĐẤT NGẬP NƯỚC LUNG NGỌC HOÀNG

    Abstract : 1 PDF: 0
    Dương Minh Truyền, Trương Hoàng Đan, Lý Văn Lợi
    144-151

    Nghiên cứu nhằm xác định các loài nấm có giá trị cũng như các yếu tố ảnh hưởng đến sự phân bố của các loài nấm lớn tại Khu Bảo tồn Thiên nhiên đất ngập nước (KBTTNĐNN) Lung Ngọc Hoàng, thuộc xã Phương Bình, huyện Phụng Hiệp, tỉnh Hậu Giang. Kết quả nghiên cứu sẽ giúp ban quản lý đưa ra các chính sách bảo tồn - khai thác hợp lý, đặc biệt khai thác các giá trị dược liệu mang lại hiệu quả cao cho cộng đồng. Nghiên cứu đã khảo sát thực địa tại 35 vị trí thu mẫu trải đều trên các sinh cảnh chính của KBTTNĐNN Lung Ngọc Hoàng. Tại mỗi vị trí thu mẫu tiến hành khảo sát theo tuyến với bán kính quan sát 10 m, ghi nhận và chụp hình lại tất cả các loài phát hiện được, thu mẫu mang về phòng thí nghiệm đối với các loài không định danh được tại chỗ. Kết quả phát hiện 87 loài nấm, trong đó 29 loài nấm có thể ăn được, 16 loài nấm làm dược liệu, 13 loài nấm phá hủy gỗ, 23 loài nấm độc và 17 loài nấm nhóm khác. Những hoạt động của người dân trên sinh cảnh đất nông nghiệp đã làm cho chất lượng đất giảm dẫn đến nấm ít sinh trưởng và phát triển cũng như sự phân bố nấm ở sinh cảnh đất nông nghiệp ít hơn sinh cảnh đất rừng.

    DOI: https://doi.org/10.71254/t7zgwy21
  • HIỆN TRẠNG QUẦN THỂ CÁC LOÀI LINH TRƯỞNG THUỘC HỌ KHỈ (Cercopithecidae) TẠI VƯỜN QUỐC GIA PÙ MÁT, TỈNH NGHỆ AN

    Abstract : 1 PDF: 1
    Trần Xuân Cường, Lưu Trung Kiên, Lê Anh Tuấn, Võ Công Anh Tuấn, Nguyễn Văn Mạnh, Nguyễn Sỹ Quốc, Nguyễn Thị Nga, Nguyễn Thị Long, Nguyễn Mạnh Hùng, Nguyễn Xuân Nghĩa
    152-158

    Nghiên cứu được thực hiện trong năm 2020, sử dụng các phương pháp phỏng vấn và điều tra theo tuyến để thu thập số liệu. Kết quả nghiên cứu đã ghi nhận sự có mặt của 6 loài linh trưởng thuộc họ Khỉ (Cercopithecidae) đang sinh sống tại Vườn Quốc gia Pù Mát (VQG) gồm: Khỉ mặt đỏ (Macaca arctoides), Khỉ mốc (Macaca assamensis), Khỉ đuôi lợn (Macaca leonina), Khỉ vàng (Macaca mulatta), Voọc xám (Trachypithecus phayrei) và Chà vá chân nâu (Pygathrix nemaeus). Loài có chỉ số phong phú cao nhất là Khỉ mặt đỏ (0,040 đàn/km, 0,179 cá thể/km), tiếp đến là Khỉ vàng (0,013 đàn/km, 0,112 cá thể/km), Khỉ đuôi lợn (0,015 đàn/km, 0,057 cá thể/km), Chà vá chân nâu (0,011 đàn/km, 0,044 cá thể/km), Khỉ mốc (0,008 đàn/km, 0,038 cá thể/km) và thấp nhất Voọc xám (0,006 đàn/km, 0,065 cá thể/km). Số loài nghiên cứu ghi nhận được nhiều nhất ở khu vực Khe Choăng (5 loài), tiếp đến là các khu vực Khe Nghẹn, Pù Xám Liệm và Tam Hợp (mỗi khu vực có 4 loài), Khe Bu, Khe Thơi, Khe Búng, Khe Chát - Khe Ngọa (mỗi khu vực có 3 loài), Cao Vều và Khe Kèm (mỗi khu vực có 1 loài). Không ghi nhận được loài nào ở Khe Yên. Các loài linh trưởng họ Khỉ phân bố ở 5 dạng sinh cảnh khác nhau, tập trung nhiều nhất là ở các sinh cảnh rừng thường xanh ít bị tác động ở độ cao dưới 800 m (6 loài), rừng thường xanh ít bị tác động ở độ cao trên 800 m (5 loài) và rừng hỗn giao cây gỗ - tre nứa (3 loài). Có 5 mối đe dọa ảnh hưởng đến các loài linh trưởng, gồm: săn bắt các loài động vật hoang dã, khai thác lâm sản ngoài gỗ, làm đường giao thông, cháy rừng và chăn thả gia súc.

    DOI: https://doi.org/10.71254/nvy0kg68
  • GIẢI PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG ĐỘI NGŨ GIÁO VIÊN VÀ CƠ SỞ VẬT CHẤT TẠI CÁC CƠ SỞ GIÁO DỤC NGHỀ NGHIỆP TỈNH THÁI BÌNH

    Abstract : 1 PDF: 1
    Nguyễn Văn Lượng, Nguyễn Văn Song, Nguyễn Thị Cẩm Tú
    159-167

    Nghiên cứu dựa trên các số liệu thứ cấp, thông qua phương pháp so sánh và thống kê mô tả để đánh giá thực trạng chất lượng đội ngũ giáo viên và cơ sở vật chất dạy nghề của các cơ sở giáo dục nghề nghiệp tại tỉnh Thái Bình. Tỉnh Thái Bình có 27 cơ sở với kết quả tuyển sinh hàng năm đều đạt trên 33.000 người và tăng dần qua các năm. Tuy nhiên, các cơ sở này đều có quy mô nhỏ, hơn 70% số lượng tuyển sinh là đào tạo sơ cấp và dưới 3 tháng, trình độ cao đẳng chỉ chiếm khoảng 9%. Đội ngũ giáo viên cơ bản đáp ứng được với những nghề hiện tại đang được tổ chức đào tạo nhưng số lượng giáo viên cơ hữu còn ít, trình độ chuyên môn chủ yếu là tốt nghiệp đại học (chiếm hơn 50%), tỷ lệ giáo viên đạt chuẩn tin học và ngoại ngữ thấp. Cơ sở vật chất mới chỉ tạm đảm bảo các điều kiện cơ bản, không có trang thiết bị thực hành hiện đại. Chương trình giáo trình còn chậm đổi mới; cơ cấu ngành nghề đào tạo chưa hợp lý. Từ kết quả nghiên cứu, đã đưa ra một số giải pháp nhằm tăng cường trình độ giáo viên và cơ sở vật chất cho các cơ sở giáo dục dạy nghề của tỉnh Thái Bình.

    DOI: https://doi.org/10.71254/s3v4t642
  • GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ CÔNG TÁC ĐĂNG KÝ THẾ CHẤP QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT, QUYỀN SỞ HỮU NHÀ Ở VÀ TÀI SẢN GẮN LIỀN VỚI ĐẤT TẠI HUYỆN HOA LƯ, TỈNH NINH BÌNH

    Abstract : 1 PDF: 1
    Trần Trọng Phương, Trần Văn Khải , Ngô Thanh Sơn, Nguyễn Đình Trung, Bùi Thị Thu, Trần Thị Bình, Nguyễn Thị Tâm
    168-178

    Nghiên cứu thực trạng công tác đăng ký thế chấp quyền sử dụng đất (QSDĐ), quyền sở hữu nhà ở (QSHNƠ) và tài sản khác gắn liền với đất tại huyện Hoa Lư, tỉnh Ninh Bình cho thấy: Giai đoạn 2016 - 2020 công tác đăng ký thế chấp QSDĐ, QSHNƠ và tài sản khác gắn liền với đất đã đăng ký 4.341 hồ sơ. Các biện pháp bảo đảm về thế chấp bằng QSDĐ, QSHNƠ và tài sản khác gắn liền với đất được người sử dụng đất thực hiện và đăng ký thường xuyên tại Chi nhánh Văn phòng Đăng ký QSDĐ huyện Hoa Lư do các quy định của pháp luật về đăng ký biện pháp bảo đảm phù hợp với người sử dụng đất và được chấp hành theo quy định. Tuy nhiên, cơ sở vật chất và nguồn nhân lực làm việc tại Chi nhánh Văn phòng Đăng ký QSDĐ huyện Hoa Lư và Phòng Tài nguyên và Môi trường huyện Hoa Lư chưa đáp ứng nhu cầu trong quản lý đất đai hiện nay. Để nâng cao hiệu quả trong công tác đăng ký giao dịch bảo đảm bằng QSDĐ, QSHNƠ và tài sản khác gắn liền với đất, cần thực hiện đồng bộ một số nhóm giải pháp như: Giải pháp bồi dưỡng đội ngũ cán bộ thực hiện đăng ký biện pháp bảo đảm; giải pháp tuyên truyền, phổ biến pháp luật về đăng ký biện pháp bảo đảm; giải pháp trong thực hiện công tác đăng ký biện pháp bảo đảm; giải pháp xây dựng cơ chế trao đổi thông tin về tình trạng pháp lý của tài sản bảo đảm giữa cơ quan đăng ký giao dịch bảo đảm và các cơ quan có liên quan.

    DOI: https://doi.org/10.71254/s8zhs116