ẢNH HƯỞNG CỦA LƯỢNG THỨC ĂN ĐẾN KHẢ NĂNG SINH SẢN CỦA GÀ CÁY CỦM
DOI:
https://doi.org/10.71254/mx020z55Abstract
This study was aimed to evaluate the effect of feed intake on the bodyweight, age at sexual maturity and egg performance of Cay Cum hens. The experiments included 3 treatments (TN1, TN2 and TN3) with 3 levels of feed intake based on respectively 120%, 110% and 100% of feed intake for Ri hens at each production period. At the beginning of experiments, a total of 900 chickens at one day old were randomly assigned into 3 treatments, each treatment included 300 chickens. Up to 8 weeks of age, 100 hens were selected in each treatment to observe the growth and egg production. The experiments were replicated 3 times. The results showed that, the feed intake affected the bodyweight, age at sexual maturity, egg performance and feed conversion ratio of Cay Cum hens, but did not affect the hatchability. When increasing the feed intake for Cay Cum hens from 110% (TN2) to 120% (TN1) in compared with feed intake of TN3, the bodyweight of hens was increased, with the highest value in the TN1 (1834.0 g/hen), following in TN2 (1705.62 g/hen) and the lowest value in TN3 (1577.70 g/hen). The age of hens at 5% of laying rate and the peak laying rate was sooner for treatment TN1 (169.00 day of age and 225.33 day of age) than for treatment TN3 (224.33 day of age and 306.67 day of age). The egg performance up to 72 weeks of age was higher for treatment TN1 (119.18 eggs/hen) compared with treatment TN2 (114.62 eggs/hen) and treatment TN3 (105.02 eggs/hen). The FCR (kg feed/10 eggs) in TN2 was the lowest (3.1 kg), following increasing in order in TN1 (3.26 kg) and TN3 (3.41 kg). The embryo egg rate and the hatchability rate of TN1, TN2 and TN3 were 81.56% and 93.47%, 80.89% and 93.44% and 80.11% and 93.77%, respectively.
Keywords:
Feed intake, laying performance, Cay Cum hens.Tóm tắt
Thí nghiệm được tiến hành nhằm xác định ảnh hưởng của lượng thức ăn đến khối lượng, tuổi thành thục và năng suất sinh sản của gà Cáy Củm. Thí nghiệm gồm ba nghiệm thức, nghiệm thức (TN1), nghiệm thức (TN2) và nghiệm thức (TN3) với lượng thức ăn tương ứng với các nghiệm thức kể trên lần lượt là 120%, 110% và 100% lượng thức ăn cho gà Ri của từng giai đoạn sản xuất. Khi bắt đầu thí nghiệm, tổng số 900 gà 1 ngày tuổi được bố trí ngẫu nhiên vào các nghiệm thức, mỗi nghiệm thức 300 con. Đến giai đoạn 8 tuần tuổi, tiến hành chọn mỗi nghiệm thức 100 gà mái để nuôi hậu bị và sinh sản. Thí nghiệm được lặp lại 3 lần. Kết quả nghiên cứu cho thấy, lượng thức ăn có ảnh hưởng đến khối lượng, tuổi thành thục sinh dục, năng suất trứng và hiệu quả sử dụng thức ăn của gà, nhưng không ảnh hưởng đến tỷ lệ trứng có phôi và tỷ lệ ấp nở. Khi tăng lượng thức ăn cho gà Cáy Củm từ 110% ở nghiệm thức (TN2) đến 120% ở nghiệm thức (TN1) so với mức ăn của gà Ri ở nghiệm thức (TN3), khối lượng gà mái lúc 20 tuần tuổi tăng cao dần. Cao nhất ở nghiệm thức (TN1) đạt 1834,0 g/con, nghiệm thức (TN2) đạt 1705,62 g/con và thấp nhất ở nghiệm thức (TN3) đạt 1577,70 g/con. Tuổi đẻ trứng đạt tỷ lệ 5% và tuổi đẻ đạt đỉnh cao sớm hơn khi cho gà ăn nhiều hơn (169,00 ngày tuổi và 225,33 ngày tuổi, nghiệm thức (TN1)), chậm nhất là ở nghiệm thức (TN3) (224,33 ngày tuổi và 306,67 ngày tuổi). Năng suất trứng đến 72 tuần tuổi của gà ở nghiệm thức (TN1) cũng đạt cao hơn (119,18 quả/mái so với 114,62 quả/mái và 105,02 quả/mái ở nghiệm thức (TN2) và nghiệm thức (TN3)). Tiêu tốn thức ăn/10 quả trứng của gà ở nghiệm thức (TN2) đạt thấp nhất (3,10 kg), tiếp theo là nghiệm thức (TN1) (3,26 kg) và cao nhất là nghiệm thức (TN3) (3,41 kg). Tỷ lệ trứng có phôi và tỷ lệ nở trên trứng có phôi của các nghiệm thức (TN1), nghiệm thức (TN2) và nghiệm thức (TN3) lần lượt là 81,56% và 93,47%; 80,89% và 93,44%; 80,11% và 93,77%.








