Số 24 (2021)

					Xem Số 24 (2021)
Đã Xuất bản: 30-12-2021

Bài viết

  • NGHIÊN CỨU ẢNH HƯỞNG CỦA NỒNG ĐỘ BENZYLADENINE (BA) LÊN SINH TRƯỞNG VÀ NĂNG SUẤT CỦA GIỐNG LÚA OM6162 VÀ OM8017

    Abstract : 13 PDF: 11
    Cù Ngọc Quí
    3-8

    Nghiên cứu được thực hiện nhằm tìm ra nồng độ Benzyladenine (BA) thích hợp đến sinh trưởng, độ cứng cây và năng suất của hai giống lúa OM6162 và OM8017. Thí nghiệm được bố trí theo thể thức khối hoàn toàn ngẫu nhiên thừa số 2 nhân tố với 5 lần lặp lại. Nhân tố thứ nhất là hai giống lúa OM6162 và MO8017. Nhân tố thứ hai là 5 nồng độ BA: 0 (đối chứng), 20, 40, 60 và 90 mg/l. BA được xử lý phun qua lá ở thời điểm 40 ngày sau khi gieo. Kết quả thí nghiệm cho thấy, xử lý BA ở nồng độ 60 mg/l cho hiệu quả làm gia tăng số nhánh hữu hiệu, độ cứng lóng thân (lóng 1 là 1,34 N; lóng 2 là 2,21 N; lóng 3 là 3,20 N và lóng 4 là 4,27 N), tỷ lệ hạt chắc (77,7%), số hạt trên bông (96,4 hạt/bông) và năng suất tăng 21,7% so với đối chứng.

    DOI: https://doi.org/10.71254/j4svb613
  • KẾT QUẢ ĐIỀU TRA TUYỂN CHỌN CÂY ĐẦU DÒNG CAM TÂY GIANG (Citrus sinensis) TẠI QUẢNG NAM

    Abstract : 12 PDF: 11
    Phạm Thị Lý Thu, Văn Đình Hải, Ngô Văn Luận, Đồng Thị Kim Cúc, Nguyễn Thúy Điệp, Trần Đăng Khánh, Khuất Hữu Trung
    9-15

    Nhằm phát triển bền vững giống cam bản địa Tây Giang (thuộc loài cam chanh - Citrus sinensis) vốn được coi là cây ăn quả đặc sản, có đóng góp quan trọng trong đời sống người dân địa phương, công tác khảo sát, đánh giá và tuyển chọn cây đầu dòng đã được thực hiện trong các năm 2019 - 2020, tập trung vào các vườn hộ ở xã Gari và vùng lân cận thuộc huyện Tây Giang, tỉnh Quảng Nam. Kết quả thu được qua hai vòng đánh giá và thẩm định của hội đồng bình tuyển do Sở Nông nghiệp và PTNT tỉnh Quảng Nam thành lập, đã chọn được 14 cá thể ưu tú đáp ứng đầy đủ tiêu chuẩn cây đầu dòng với các tiêu chí cơ bản: sinh trưởng khỏe, năng suất ổn định, chất lượng tốt và không bị nhiễm bệnh hại nguy hiểm Greening và Tristeza.

    DOI: https://doi.org/10.71254/zhtz4438
  • ĐÁNH GIÁ SINH TRƯỞNG VÀ PHÁT TRIỂN CỦA MỘT SỐ MẪU GIỐNG NGƯU TẤT (Achyranthes bidentata Blume) NHẬP NỘI TẠI THANH TRÌ, HÀ NỘI

    Abstract : 9 PDF: 6
    Nhữ Thu Nga, Trần Thị Trang, Trịnh Văn Vượng, Trần Thị Kim Dung, Trần Ngọc Thanh, Trịnh Minh Vũ, Nguyễn Văn Khiêm
    16-21

    Nghiên cứu này được tiến hành nhằm đánh giá khả năng sinh trưởng, phát triển, năng suất và chất lượng của 2 mẫu giống ngưu tất nhập nội ký hiệu NTQ1 và NTQ2 so với mẫu giống ngưu tất địa phương (NT). Cả 2 mẫu giống NTQ1 và NTQ2 có thời gian sinh trưởng từ 120 - 128 ngày, có thể phù hợp với cơ cấu luân canh vụ thu đông ở miền Bắc Việt Nam. Năng suất và chất lượng dược liệu (rễ củ) của các mẫu giống NTQ1, NTQ2 đạt lần lượt là 1,67; 2,30 tấn/ha và 2,3 và 2,5% (hàm lượng axit oleanolic). Mẫu giống NTQ2 là mẫu giống triển vọng, có hàm lượng axit oleanolic đạt 2,5% (mẫu giống NT đối chứng chỉ đạt 2,25%), năng suất đạt 2,3 tấn/ha. Đây là kết quả nghiên cứu bước đầu trên mẫu giống ngưu tất nhập nội, vì vậy cần có những nghiên cứu tiếp theo trên mẫu giống NTQ2 để phục vụ công tác tuyển chọn nguồn gen nhập nội và chọn tạo giống ở nước ta.

    DOI: https://doi.org/10.71254/ev1kc467
  • ẢNH HƯỞNG CỦA Ca, Mg, K VÀ Si ĐẾN SINH TRƯỞNG VÀ PHÁT TRIỂN CÂY CÀ GAI LEO (Solanum procumbens Lour) TRONG ĐIỀU KIỆN MẶN NHÂN TẠO

    Abstract : 12 PDF: 14
    Bùi Thị Mỹ Hồng, Nguyễn Hoàng Minh, Phạm Thị Mai Linh, Nguyễn Hữu Thiện
    22-29

    Trong nghiên cứu này, ảnh hưởng của độ mặn và bổ sung phân dinh dưỡng có chứa Ca, Mg, K và Si qua lá đến sự sinh trưởng và phát triển của cây cà gai leo đã được tiến hành. Các thí nghiệm trồng chậu được thực hiện theo thể thức khối hoàn toàn ngẫu nhiên. Các chỉ tiêu về sinh trưởng, hàm lượng diệp lục, prolin được đánh giá ở những nồng độ mặn khác nhau (0, 2, 4, và 6‰ NaCl). Kết quả nghiên cứu cho thấy, chiều cao cây, số cành cấp một, khối lượng tươi của rễ, diện tích lá, khối lượng khô của cây, hàm lượng diệp lục giảm khi nồng độ NaCl tăng và đạt mức thấp nhất ở 6‰ NaCl. Hàm lượng prolin tăng lên khi tăng nồng độ NaCl. Bổ sung các chất dinh dưỡng Ca, Mg, K và Si qua lá đã làm giảm các tác động có hại của stress mặn đối với sự sinh trưởng và phát triển của cây cà gai leo. Bổ sung phân bón 1.200 mg/L CaO, 4 mL/L MgO, 5 mg/L K2SO4 và 400 mg/L K2SiO3 cho cây ở nồng độ 2‰ NaCl có tác dụng tăng khối lượng khô của cây so với chỉ xử lý muối 2‰ và tương đương với đối chứng không bổ sung muối.

    DOI: https://doi.org/10.71254/1fz73765
  • ẢNH HƯỞNG CỦA MỘT SỐ BIỆN PHÁP KỸ THUẬT ĐẾN NĂNG SUẤT VÀ CHẤT LƯỢNG TINH DẦU CỦA HƯƠNG NHU TÍA (Ocimum tenuiflorum L.) TẠI HÀ NỘI

    Abstract : 17 PDF: 14
    Nguyễn Đăng Minh Chánh, Lương Thị Hoan
    30-35

    Nghiên cứu này nhằm xác định biện pháp gieo hạt và thời vụ trồng thích hợp cho cây Hương nhu tía (Ocimum tenuiflorum L.) tại Hà Nội. Thí nghiệm 1 gồm 2 công thức: gieo trực tiếp trên luống sau đó đánh tỉa thưa cây và gieo trên giá thể cát vườn ươm cây đủ 3 tháng tuổi sử dụng để trồng thí nghiệm. Thí nghiệm 2 gồm 4 công thức: CT1 trồng tháng 2, CT2 trồng tháng 6, CT3 trồng tháng 8 và CT4 trồng tháng 10. Kết quả nghiên cứu cho thấy: công thức gieo hạt trên giá thể cát vườn ươm đến khi cây đủ 3 tháng tuổi sử dụng để trồng thí nghiệm, rút ngắn được thời gian nảy mầm (10,7 ngày) và tăng tỷ lệ nảy mầm (83,3%) có ý nghĩa thống kê (p ≤ 0,05) so với công thức gieo hạt trực tiếp trên luống sau đó đánh tỉa thưa cây tương ứng với 2 chỉ tiêu này lần lượt là 19,7 ngày và 74,7%. Thí nghiệm thời vụ trồng cho thấy năng suất và khối lượng hạt ở công thức 4 có giá trị cao nhất. Năng suất thân lá và hàm lượng tinh dầu toàn phần giữa các công thức không có sự khác biệt thống kê. Khối lượng tinh dầu được sắp xếp từ cao đến thấp là CT1 > CT4 > CT3 > CT2. Thành phần eugenol cao nhất ở CT4 (121,4 mg/mL), tiếp đến lần lượt là CT1, CT3 và CT2. Như vậy, thời vụ trồng tại Hà Nội vào tháng 2 và tháng 10 cây Hương nhu tía cho khối lượng tinh dầu tốt nhất.

    DOI: https://doi.org/10.71254/r5jsg873
  • HIỆU QUẢ ỨC CHẾ RA ĐỌT TRONG QUÁ TRÌNH RA HOA CỦA CHLORATE KALI VÀ MEPIQUATE CHLORIDE TRÊN CÂY NHÃN E-DOR (Dimocarpus longan Lour.) TẠI HUYỆN CÁI BÈ, TỈNH TIỀN GIANG

    Abstract : 16 PDF: 14
    Nguyễn Huỳnh Dương, Trần Minh Nhựt, Huỳnh Thiên Lý, Trần Văn Hâu
    36-43

    Nghiên cứu được thực hiện nhằm xác định hiệu quả của Chlorate kali (CK) và Mepiquate chloride (MC) lên sự ức chế ra đọt sau khi xử lý ra hoa bằng CK lên sự ra hoa và năng suất nhãn E-Dor tại huyện Cái Bè, tỉnh Tiền Giang từ tháng 8/2020 đến tháng 7/2021. Những cây nhãn được chọn làm thí nghiệm có độ tuổi 6 - 7 năm. Thí nghiệm được bố trí theo thể thức khối hoàn toàn ngẫu nhiênvới 7 nghiệm thức và 3 lặp lại, mỗi đơn vị thí nghiệm một cây. Nghiệm thức của thí nghiệm là nồng độ các hóa chất ức chế sự ra đọt: (1) Đối chứng (phun nước); (2) KClO3 1.000 ppm; (3) KClO3 1.250 ppm; (4) KClO3 1.500 ppm; (5) MC 100 ppm; (6) MC 200 ppm; (7) MC 300 ppm. Thí nghiệm được thực hiện trong vụ thuận (xử lý hóa chất tháng 11/2020) và vụ nghịch (xử lý hóa chất vào tháng 8/2020), xử lý ra hoa bằng cách tưới KClO3 vào đất xung quanh tán cây với liều lượng 100 g/m đường kính tán, ở thời điểm lá 45 ngày tuổi khi cây có 3 cơi đọt. Hóa chất CK và MC được phun lên lá tại thời điểm 14 và 21 ngày sau khi xử lý CK, mỗi cây phun 10 lít. Kết quả cho thấy khi xử lý CK và MC sau khi xử lý ra hoa bằng KClO3 có ảnh hưởng đến tỷ lệ rụng mầm lá, tỷ lệ phát hoa không phát triển, tỷ lệ đậu quả và năng suất của nhãn E-Dor, nhưng không có ảnh hưởng đến tỷ lệ ra hoa, tỷ lệ rụng quả non, quá trình ra hoa và phẩm chất quả. Xử lý CK hay MC đều có tác dụng làm rụng mầm lá. Xử lý CK 1.250 ppm hay MC 200 ppm cho tỷ lệ đậu quả cao hơn đối chứng vụ thuận là 19% và vụ nghịch 28%, tỷ lệ phát hoa không phát triển so với đối chứng vụ thuận thấp hơn 82% và vụ nghịch 87%, đồng thời làm tăng năng suất cho cây nhãn E-Dor.

    DOI: https://doi.org/10.71254/jbxa5d17
  • ẢNH HƯỞNG CỦA BÓN N, P, K, Ca, Mg ĐẾN SINH TRƯỞNG VÀ NĂNG SUẤT KHÓM TƠ TRỒNG Ở ĐIỀU KIỆN GIẢM MẬT ĐỘ TRÊN ĐẤT PHÈN TẠI VỊ THANH - HẬU GIANG

    Abstract : 6 PDF: 6
    Đoàn Nguyễn Thiên Thư, Lý Ngọc Thanh Xuân, Trần Trọng Khôi Nguyên, Lê Vĩnh Thúc, Võ Thị Bích Thủy, Trần Ngọc Hữu, Nguyễn Quốc Khương
    44-52

    Mục tiêu của nghiên cứu là đánh giá ảnh hưởng của bón N, P, K, Ca, Mg đến sinh trưởng, năng suất và chất lượng khóm trồng trong điều kiện cải tiến mật độ trên đất phèn Vị Thanh - Hậu Giang. Thí nghiệm được bố trí khối hoàn toàn ngẫu nhiên gồm 8 nghiệm thức (i) Đối chứng: Không bón phân; (ii) NPKCaMg: Bón phân đạm, lân, kali, canxi và magie, (iii) PKCaMg: Bón phân lân, kali, canxi và magie; (iv) NKCaMg: Bón phân đạm, kali, canxi và magie; (v) NPCaMg: Bón phân đạm, lân, canxi và magie; (vi) NPKMg: Bón phân đạm, lân, kali và magie; (vii) NPKCa: Bón phân đạm, lân, kali và canxi; (viii) FFP: Thực tế bón phân của nông dân. Kết quả thí nghiệm cho thấy, không bón một trong các dưỡng chất N, P, K, Ca hoặc Mg giảm chiều cao cây, số lá trên cây, chiều dài lá, đường kính cuống trái và chiều dài chồi ngọn, nhưng chỉ có nghiệm thức không bón đạm giảm chiều rộng chồi ngọn. Ngoài ra, không bón dưỡng chất N, P, K, Ca hoặc Mg giảm chiều dài trái và năng suất khóm trong khi đó nghiệm thức không bón đạm giảm đường kính trái. Bên cạnh đó, nghiệm thức khuyết đạm hoặc kali dẫn đến giảm hàm lượng nước trong trái, độ Brix thấp, theo thứ tự. Tuy nhiên, màu sắc trái có độ biến động lớn giữa các nghiệm thức. Nghiệm thức bón đầy đủ NPKCaMg đạt năng suất 30,4 tấn/ha và độ Brix 10,5% cao hơn nghiệm thức bón phân theo nông dân, với 22,5 tấn/ha và 10,0%, theo cùng thứ tự.

    DOI: https://doi.org/10.71254/fxhjaq34
  • ẢNH HƯỞNG CỦA LƯỢNG PHÂN VÔ CƠ ĐẾN SINH TRƯỞNG, PHÁT TRIỂN, NĂNG SUẤT GIỐNG NGÔ SSC557 TRÊN ĐẤT NÂU ĐỎ TẠI PHƯỚC LONG, BÌNH PHƯỚC

    Abstract : 6 PDF: 7
    Mai Văn Hè, Nguyễn Văn Vượng, Hà Chí Trực
    53-62

    Kết quả nghiên cứu ảnh hưởng của lượng phân vô cơ đến sinh trưởng, phát triển, năng suất của giống ngô SSC557 trên đất nâu đỏ tại thị xã Phước Long, tỉnh Bình Phước năm 2021 cho thấy: (-) Lượng bón kali và đạm cho giống ngô SSC557 trồng vụ xuân - hè đã tạo ra sự khác biệt về chiều cao cây, chiều cao đóng bắp, số lá/cây, kích thước bắp, số hạt/hàng, khối lượng ngàn hạt và năng suất hạt khô; năng suất hạt khô đạt cao nhất 85,83 - 86,00 tạ/ha ở lượng bón 90 - 120 kg K2O/ha + 240 kg N/ha trên nền: 10 tấn phân bò hoai mục/ha + 80 kg P2O5/ha, cho lãi thuần đạt cao nhất 36,14 - 36,44 triệu đồng/ha/vụ, lãi thuần so với đối chứng (120 kg N+ 60 kg K2O/ha) tăng 133,8 - 135,7%. (-) Lượng bón đạm và lân cho giống ngô SSC557 vụ hè - thu đã tạo ra sự khác biệt về chiều cao cây, chiều cao đóng bắp, số lá/cây, số hạt/hàng, khối lượng ngàn hạt và năng suất hạt khô. Năng suất hạt khô đạt cao nhất 86,50 tạ/ha ở lượng bón 240 kg N/ha + 120 -140 kg P2O5/ha trên nền: 10 tấn phân bò hoai mục/ha + 90 kg K2O/ha, cho lãi thuần đạt cao nhất 35,66 - 36,09 triệu đồng/ha/vụ, lãi thuần tăng so với đối chứng (180 kg N/ha + 60 kg P2O5/ha) khoảng 139,9 - 142,8%. (-) Nên áp dụng lượng bón 240 kg N/ha + 100 - 140 kg P2O5/ha + 90 - 120 kg K2O/ha + 10 tấn phân bò hoai/ha + 300 kg vôi/ha trong thâm canh ngô SSC557 tại Phước Long, tỉnh Bình Phước.

    DOI: https://doi.org/10.71254/hwnknn38
  • PHÂN LẬP VÀ NHẬN DIỆN VI KHUẨN NỘI SINH TRONG CÂY BẮP CÓ KHẢ NĂNG CỐ ĐỊNH NITƠ Ở TỈNH AN GIANG

    Abstract : 8 PDF: 5
    Thái Thành Được, Nguyễn Hữu Hiệp, Trương Trọng Ngôn, Huỳnh Văn Tiền
    63-69

    Với mục đích xác định vi sinh vật nội sinh cây bắp có khả năng cố định nitơ, phục vụ sản xuất phân bón vi sinh, nội dung công trình nghiên cứu tập trung vào phân lập và nhận diện các dòng vi khuẩn nội sinh có khả năng cố định nitơ cao trong cây bắp dựa vào trình tự 16S rRNA. Kết quả phân lập được 120 dòng vi khuẩn từ 63 mẫu thu tại 7 huyện của tỉnh An Giang và chọn ra được 28 dòng có hiệu quả cố định nitơ cao bằng phương pháp so màu. Khả năng cố định nitơ sau 96 giờ của 28 dòng vi khuẩn dao động từ 0,92 đến 3,06 mg /L. Hai chủng vi khuẩn ký hiệu AMR1 và ADR3 có hiệu quả cố định nitơ cao đạt 2,750 và 3,064 mg /L. Thí nghiệm nhà lưới xác định nghiệm thức sử dụng các dòng vi khuẩn AMR1 và ADR3 cho năng suất bắp cao hơn đối chứng và tiết kiệm được 25% lượng phân đạm cần bón. Hai chủng vi khuẩn ký hiệu AMR1 và ADR3 được định danh là Bacillus megaterium AMR1 và Bacillus aryabhattai ADR3, thuộc nhóm vi khuẩn an toàn sinh học cấp độ 1.

    DOI: https://doi.org/10.71254/whstkm64
  • THÀNH PHẦN LOÀI VÀ DIỄN BIẾN MẬT ĐỘ QUẦN THỂ CHÂU CHẤU HẠI TRE Ở PHÚ THỌ

    Abstract : 15 PDF: 13
    Bùi Quang Tiếp, Trần Thanh Trăng
    70-76

    Kết quả điều tra từ tháng 1/2018 đến tháng 12/2019 đã xác định có 4 loài châu chấu hại tre ở Phú Thọ gồm: Châu chấu mía chày xanh (Hieroglyphus tonkinensis), Châu chấu cánh ngắn (Pseudoxya diminuta), Châu chấu mũ phật (Phlaeoba infumata) và Châu chấu mũ phật râu dài (Phlaeoba antennata). Loài Châu chấu mía chày xanh là loài có số lượng cá thể lớn nhất chiếm khoảng 83,75% so với tổng số ba loài châu chấu còn lại. Biến động mật độ quần thể của bốn loài châu chấu theo các tháng trong năm 2018 khác so với năm 2019 và phụ thuộc vào nhiệt độ và độ ẩm môi trường. Loài Châu chấu mía chày xanh mật độ tập trung nhiều nhất từ tháng 4 đến tháng 5. Ba loài gồm: Châu chấu cánh ngắn, Châu chấu mũ phật và Châu chấu mũ phật râu dài có hai giai đoạn tập trung mật độ nhiều nhất đó là từ tháng 4 đến tháng 5 và từ tháng 8 đến tháng 9.

    DOI: https://doi.org/10.71254/5x2y4581
  • PHÂN LẬP TUYỂN CHỌN VI KHUẨN NỘI SINH ĐỐI KHÁNG VỚI NẤM (Fusarium oxysporum) GÂY BỆNH THỐI RỄ TAM THẤT (Panax pseudoginseng Wall)

    Abstract : 6 PDF: 6
    Vũ Văn Định
    77-83

    Tam thất (Panax pseudoginseng Wall) là cây lâm sản ngoài gỗ có giá trị kinh tế cao, nấm Fusarium oxysporum gây bệnh thối rễ là những trở ngại chính để phát triển loài cây này trên diện rộng. Áp dụng biện pháp hóa học để phòng trừ bệnh hại cây Tam thất thường không đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm và ảnh hưởng đến môi trường sinh thái. Nghiên cứu vi khuẩn nội sinh trong cây Tam thất có khả năng đối kháng với nấm F. oxysporum gây bệnh thối rễ. Số lượng các chủng vi khuẩn nội sinh phân lập được từ các bộ phận của cây là khác nhau. Từ  27 chủng vi khuẩn nội sinh đã được phân lập từ lá, thân, rễ của cây Tam thất đã xác định có 22 chủng có hiệu lực kháng nấm F. oxysporum trong đó tuyển chọn được 3 chủng (PP16; PP18; PP23) có hiệu lực kháng nấm cao với đường kính vòng kháng nấm lần lượt là 21,2; 20,7; 20,8 mm. Phân tích di truyền phân tử dựa trên trình tự 16S rARN cho thấy chủng PP16 có tên khoa học là Bacillus subtilis và 2 chủng PP18; PP23 thuộc loài Bacillus aryabhattai.

    DOI: https://doi.org/10.71254/8cpt5h61
  • TỐI ƯU HÓA QUÁ TRÌNH THUỶ PHÂN TINH BỘT KHOAI LANG TÍM BẰNG ENZYME α-AMYLASE TRONG SẢN XUẤT NƯỚC KHOAI LANG TÍM LÊN MEN

    Abstract : 9 PDF: 6
    Nguyễn Hoàng Anh, Nguyễn Thị Diệp Lê Nguyên Đăng, Phan Đức Tài, Lê Huỳnh Anh Thư
    84-91

    Nghiên cứu nhằm xác định điều kiện tối ưu cho quá trình thủy phân tinh bột khoai lang tím. Tiến hành khảo sát ảnh hưởng của tỷ lệ khoai/nước 5 – 40%, pH 4,5 - 6,5, nhiệt độ 60 – 80oC, thời gian thủy phân 40 – 80 phút và nồng độ enzyme α-amylase 0,01 - 0,05% cho quá trình thủy phân đến hàm lượng đường khử đã được nghiên cứu. Thực hiện thiết kế thực nghiệm cấu trúc có tâm cho 4 nhân tố đã được áp dụng để tối ưu hóa quá trình thuỷ phân tinh bột, kết quả mô hình thống kê xác định dịch thủy phân có hàm lượng đường khử cao nhất là 25,934 g/kg tại các điều kiện tối ưu: pH = 5,5, nhiệt độ 71oC, thời gian thủy phân 61 phút và nồng độ enzyme α-amylase 0,03%. Kết quả thực nghiệm tương thích cao với mô hình, số liệu nghiên cứu là tiền đề để xây dựng quy trình sản xuất nước khoai lang tím lên men.

    DOI: https://doi.org/10.71254/4jc8hz44
  • NGHIÊN CỨU THỰC NGHIỆM XÁC ĐỊNH CHẾ ĐỘ SẤY THÍCH HỢP TRONG THIẾT BỊ SẤY SÂM BỐ CHÍNH BẰNG PHƯƠNG PHÁP BƠM NHIỆT KẾT HỢP SÓNG SIÊU ÂM

    Abstract : 8 PDF: 7
    Nguyễn Hay, Lê Quang Huy, Lê Thanh Đạt, Ngô Thị Minh Hiếu
    92-99

    Sâm Bố Chính (Abelmoschus sagittifolius) là một dược liệu quý, có giá trị cao, thành phần hóa học chính là saponin triterpen, coumarin, chất nhầy, acid béo, đường khử, polyphenol, các nguyên tố vi lượng, trong đó thành phần saponin được xem như là hoạt chất chính tạo nên những giá trị của nhân sâm. Hiện nay, ở Việt Nam các công trình nghiên cứu về sâm Bố Chính còn hạn chế, chủ yếu ở lĩnh vực bảo tồn, nhân giống phát triển hoặc về tính chất dược lý của sâm, số lượng nghiên cứu về bảo quản và sấy khô sâm sau thu hoạch hầu như rất ít. Vì vậy việc nghiên cứu phát triển kỹ thuật sấy sâm để đảm bảo chất lượng vốn quý và nâng cao giá trị kinh tế của sâm sau quá trình chế biến là thật sự cần thiết và có ý nghĩa khoa học. Kế thừa các công trình nghiên cứu về sấy khi có sự hỗ trợ của sóng siêu âm trong và ngoài nước, căn cứ vào đặc tính của sâm Bố Chính, bài báo này trình bày kết quả nghiên cứu chế tạo và phương pháp thực nghiệm xác định chế độ sấy thích hợp trên thiết bị sấy sâm Bố Chính bằng phương pháp bơm nhiệt kết hợp với sóng siêu âm.

    DOI: https://doi.org/10.71254/y5bdm927
  • NGHIÊN CỨU HOÀN THIỆN QUY TRÌNH CÔNG NGHỆ SẤY QUẢ THẢO QUẢ HÀ GIANG

    Abstract : 13 PDF: 14
    Nguyễn Văn Lợi
    100-106

    Quả thảo quả là loại quả có giá trị kinh tế cao, được sử dụng làm thuốc đông y và làm gia vị thực phẩm. Mục tiêu của nghiên cứu này là tối ưu hóa các thông số công nghệ và hoàn thiện quy trình công nghệ sấy quả thảo quả. Các kết quả nghiên cứu thực nghiệm đơn yếu tố đã xác định được các yếu tố: độ dày lớp nguyên liệu trên khay sấy, nhiệt độ và vận tốc gió đều ảnh hưởng đến thời gian sấy. Kết quả nghiên cứu thực nghiệm đa yếu tố đã xây dựng được phương trình hồi quy tuyến tính có dạng: Y= 6,93 + 0,45X1 - 0,53X2 - 0,48X3 - 0,098X1X2 - 0,39X1X3 + 0,125X2X3. Từ đó đã hoàn thiện được quy trình sấy khô quả thảo quả Hà Giang với các thông số công nghệ tối ưu là: độ dày của lớp quả thảo quả trên khay sấy là 4,62 cm, tương ứng với hai lớp quả thảo quả, nhiệt độ sấy 67,5oC và vận tốc gió là 1,3 m/s. Với điều kiện sấy như trên thì thời gian sấy mỗi mẻ quả thảo quả là 6,33 giờ và độ ẩm đạt 12-13%.

    DOI: https://doi.org/10.71254/68mwng96
  • ỨNG DỤNG ENZYME TRONG HỖ TRỢ TRÍCH LY NARINGIN VÀ POLYPHENOL TỪ VỎ BƯỞI

    Abstract : 12 PDF: 14
    Nguyễn Lê Hoàng Thái, Hoàng Quang Bình, Hồ Thị Thảo My, Katleen Raes, Lê Trung Thiên
    107-111

    Trong công nghiệp chế biến sản phẩm từ quả bưởi, phần lớn phụ phẩm là vỏ trái bị bỏ đi; tuy nhiên theo nhiều nghiên cứu phần lớn polyphenol tập trung ở phụ phẩm. Hiện nay, trích ly bằng enzyme được xem là phương pháp thân thiện, giúp cải thiện hiệu quả quá trình trích ly các hợp chất sinh học từ vỏ bưởi. Nghiên cứu này đã xác định ảnh hưởng của các yếu tố như tỷ lệ enzyme Celluclast 1,5L bổ sung, nhiệt độ thủy phân và thời gian thủy phân đến hiệu quả của dịch trích ly các hợp chất kháng oxy hóa từ phần vỏ bưởi trắng. Kết quả nghiên cứu cho thấy tất cả các yếu tố được nghiên cứu đều có ảnh hưởng đến trích ly hàm lượng polyphenol, hàm lượng naringin và khả năng chống oxy hóa của dịch trích tại p<0,05. Điều kiện trích ly là tỷ lệ enzyme bổ sung 1%; nhiệt độ thủy phân 500C trong 1 giờ cho mẫu có hàm lượng polyphenol tổng cao nhất 19,025 mg GAE/g chất khô, khả năng chống oxy hóa 2,04 mg AAE/g chất khô và hàm lượng naringin cao nhất 5,77 mg NE/g chất khô. Kết quả nghiên cứu này cho thấy tiềm năng ứng dụng enzyme trong hỗ trợ trích ly các hợp chất có giá trị như polyphenol từ nguồn nguyên liệu phụ phẩm nông nghiệp.

    DOI: https://doi.org/10.71254/zwm1c904
  • NGHIÊN CỨU XÁC ĐỊNH LƯU LƯỢNG NƯỚC THẢI XẢ VÀO CÔNG TRÌNH THỦY LỢI

    Abstract : 13 PDF: 13
    Vũ Thị Thanh Hương, Phạm Thị Phương Thảo, Nguyễn Đức Phong
    112-120

    Xác định lưu lượng nước thải là nội dung quan trọng trong công tác quản lý nguồn thải xả vào công trình thủy lợi (CTTL). Theo báo cáo của các địa phương, hiện có khoảng 70 - 90% nguồn thải xả vào CTTL nhưng chưa thống kê được lưu lượng nước thải gây khó khăn cho công tác kiểm soát, xử lý nguồn thải. Nội dung bài viết về đề xuất các định mức xác định lưu lượng nước thải xả vào CTTL dựa trên các văn bản pháp luật, tiêu chuẩn, quy chuẩn Việt Nam và các kết quả nghiên cứu liên quan. Kết quả áp dụng trên địa bàn huyện Khoái Châu, tỉnh Hưng Yên cho thấy, các định mức lưu lượng nước thải là phù hợp với thực tế. Kết quả nghiên cứu đã xác định các tuyến kênh có tải lượng nước thải ở mức cao cần được ưu tiên quản lý. Tổng lượng nước thải xả vào CTTL huyện Khoái Châu ước tính 24.159,86 m3/ngày đêm, trong đó, lượng nước thải thuộc diện phải cấp phép chỉ chiếm 6,67%. Lượng nước thải thuộc diện không phải cấp phép chiếm 93,33% và chủ yếu là nước thải sinh hoạt (68,42%) và nước thải chăn nuôi (22,14%). Do vậy, để đạt được mục tiêu về bảo vệ chất lượng nước trong CTTL cần phải có biện pháp quản lý các nguồn thải thuộc diện không phải cấp phép xả thải, đặc biệt là nước thải sinh hoạt và chăn nuôi.

    DOI: https://doi.org/10.71254/3cr0y353
  • ĐẶC ĐIỂM SINH TRƯỞNG CỦA CỎ BÀNG (Lepironia articulata) TẠI MỘT SỐ SINH CẢNH Ở ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG

    Abstract : 14 PDF: 13
    Nguyễn Thị Thanh Thảo, Nguyễn Quốc Anh, Nguyễn Duy Thanh, Nguyễn Thị Ngọc Diệu, Võ Hoàng Việt, Phạm Việt Nữ, Ngô Thụy Diễm Trang
    121-131

    Nghiên cứu được thực hiện nhằm đánh giá đặc điểm sinh trưởng của cỏ bàng tại một số sinh cảnh khác nhau ở đồng bằng sông Cửu Long góp phần cung cấp các dữ liệu khoa học cần thiết cho công tác bảo tồn đa dạng sinh học và phát triển các vùng đất ngập nước nội địa, cụ thể là đồng cỏ bàng. Các sinh cảnh bao gồm tự nhiên và canh tác được chọn khảo sát dựa vào thông tin thu thập từ Ban quản lý Khu Bảo tồn loài và sinh cảnh Phú Mỹ và vùng trồng cỏ bàng ở Long An. Mỗi điểm khảo sát thiết lập 5 ô tiêu chuẩn (1 m2) ngẫu nhiên. Mẫu đất được thu 2 tầng 0-20 và 20-50 cm, mẫu thực vật được thu và đánh giá trong từng ô tiêu chuẩn nhằm xác định sinh trưởng, sinh khối cỏ bàng. Cỏ bàng có mật độ thấp (562,4±119,05 cây/m2) tại khu vực trồng canh tác ở Long An nhưng lại có chiều cao cây (155,2 cm), sinh khối tươi (3,47 kg/m2 thân và 1,42 kg/m2 rễ) và tích lũy sinh khối khô (1,36 kg/m2 thân và 0,296 kg/m2 rễ) cao hơn cỏ bàng tại các sinh cảnh tự nhiên. Giá trị trung bình của sinh trưởng và sinh khối cỏ bàng tại các sinh cảnh tự nhiên với mật độ 1.055,9 cây/m2; chiều cao cây 90,7 cm; sinh khối tươi thân 1,41 kg/m2 và rễ 0,87 kg/m2; sinh khối khô thân 0,69 kg/m2 và rễ 0,25 kg/m2. Cỏ bàng có thể sinh sống được ở những vùng pHe chua (2,34±0,38) phèn nặng, ECe thấp (3,99±1,12 mS/cm) và giàu chất hữu cơ.

    DOI: https://doi.org/10.71254/p2p0pg95
  • NGHIÊN CỨU XÁC ĐỊNH TẬP ĐOÀN CÂY TRỒNG CÓ TIỀM NĂNG GIẢM THIỂU Ô NHIỄM MÔI TRƯỜNG CHO KHU VỰC BÃI RÁC KHÁNH SƠN, THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG

    Abstract : 7 PDF: 7
    Phạm Thị Kim Thoa, Mai Thị Thùy Dương, Vương Duy Hưng, Phan Thu Thảo
    132-142

    Hiện nay, xử lý chất thải rắn bằng phương pháp chôn lấp vẫn là phương pháp chủ yếu ở nước ta cũng như nhiều nơi trên thế giới. Trong thời gian qua, hoạt động của bãi chôn lấp rác Khánh Sơn, thành phố Đà Nẵng đã gây ảnh hưởng không nhỏ đến đời sống người dân xung quanh khu vực vì khoảng cách quá gần nhưng lại thiếu vùng đệm cây xanh cách ly. Vì vậy, nghiên cứu này được tiến hành nhằm xác định tập đoàn cây trồng có triển vọng giảm thiểu ô nhiễm môi trường khu vực bãi rác, làm tiền đề thiết kế và xây dựng thảm thực vật trong tương lai. Sử dụng các phương pháp phỏng vấn tri thức cộng đồng của 125 người dân, phân tích 5 chỉ tiêu định lượng tại phòng thí nghiệm, tham vấn 15 chuyên gia về 8 chỉ tiêu định tính và phân tích đa tiêu chí để tìm ra danh sách thứ tự các loài cây trồng ưu tiên cho bãi rác. Kết quả nghiên cứu cho thấy có 26/41 loài cần được ưu tiên cho những nghiên cứu tiếp theo, bao gồm: Dướng, Đa lông, Sung, Lát hoa, Bộp lông, Sữa, Sảng nhung, Lộc vừng, Trứng cá, Ngái, Bời lời nhớt, Sao đen, La, Thẩu tấu, Cà dại hoa trắng, Muồng đen, Hu đay, Long não, Chò đen, Sẻn gai, Sấu, Bằng lăng nước, Bùng bục, Muồng hoàng yến, Muồng trâu và Keo lai.

    DOI: https://doi.org/10.71254/2hc9h660
  • ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ SỬ DỤNG ĐẤT SẢN XUẤT NÔNG NGHIỆP Ở KHU VỰC MIỀN NÚI HUYỆN HƯỚNG HÓA, TỈNH QUẢNG TRỊ

    Abstract : 8 PDF: 6
    Nguyễn Phúc Khoa, Nguyễn Hữu Ngữ, Hồ Thị Diệu Thanh, Trần Quốc Hùng
    143-152

    Nghiên cứu được thực hiện ở huyện Hướng Hóa, tỉnh Quảng Trị nhằm đánh giá hiệu quả sử dụng đất sản xuất nông nghiệp. Phương pháp thu thập số liệu, tài liệu, xử lý thống kê bằng Excel và SPSS 20 được sử dụng để làm rõ các nội dung nghiên cứu. Kết quả nghiên cứu cho thấy, hiệu quả kinh tế của các loại hình sử dụng đất chanh dây, khoai lang, nghệ, cà phê và hồ tiêu cao hơn các loại hình sử dụng đất trồng lúa và sắn. Cụ thể, tỷ suất giá trị theo chi phí (TGO) và giá trị tăng thêm (TVA) loại hình sử dụng đất trồng khoai lang cao nhất khoảng hơn 4 lần. Các loại hình sử dụng đất trồng cà phê thu hút được nhiều công lao động nhất (180 lao động) và thấp nhất là loại hình sử dụng đất trồng sắn (70 lao động). Giá trị ngày công mang lại cao khi canh tác khoai lang, chanh dây, nghệ và hồ tiêu cao hơn lúa, cà phê và sắn. Hầu hết các loại hình sử dụng đất có hiệu quả môi trường thấp do sử dụng nhiều phân bón hóa học và thuốc trừ sâu. Như vậy, các loại hình sử dụng đất ở huyện Hướng Hóa có hiệu quả kinh tế và xã hội ở mức cao, hiệu quả môi trường ở mức trung bình.

    DOI: https://doi.org/10.71254/ybp0x133
  • ĐÁNH GIÁ VIỆC CẤP GIẤY CHỨNG NHẬN QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT, QUYỀN SỞ HỮU NHÀ Ở VÀ TÀI SẢN KHÁC GẮN LIỀN VỚI ĐẤT LẦN ĐẦU GIAI ĐOẠN 2016 - 2019 TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN KRÔNG BÚK, TỈNH ĐẮK LẮK

    Abstract : 10 PDF: 6
    Phạm Thanh Quế, Đặng Thị Thuý Kiều
    153-161

    Nghiên cứu được thực hiện tại huyện Krông Búk, tỉnh Đắk Lắk nhằm đánh giá kết quả công tác cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất (công tác cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất) lần đầu cho hộ gia đình, cá nhân giai đoạn 2016 - 2019 và đánh giá một số yếu tố ảnh hưởng đến kết quả cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (GCN). Nghiên cứu sử dụng phương pháp nhân tố khám khá (EFA) và mô hình hồi quy đa biến với 90 hộ được phỏng vấn trực tiếp. Kết quả nghiên cứu cho thấy, giai đoạn 2016 - 2019 huyện Krông Búk đã cấp được 5.171 GCN cho hộ gia đình, cá nhân, trong đó chủ yếu là đất nông nghiệp với 4.248 GCN; đất ở chỉ có 923 GCN. Đến nay, công tác cấp GCN lần đầu đạt tỷ lệ 93,1%, còn 1.719,2 ha đất của hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng nhưng chưa được cấp GCN. Đồng thời, kết quả nghiên cứu đã xác định 15 yếu tố, được chia làm 4 nhóm có ảnh hưởng đáng kể đến kết quả cấp GCN bao gồm: nhóm yếu tố liên quan đến pháp lý của thửa đất có ảnh hưởng lớn nhất với hệ số b = 0,364, sau đó đến nhóm yếu tố liên quan đến điều kiện kinh tế - xã hội với hệ số b = 0,311, tiếp đến là nhóm yếu tố liên quan đến cơ sở vật chất với hệ số b = 0,226 và ảnh hưởng ít nhất là nhóm yếu tố những quy định của pháp luật với hệ số b = 0,074. Nghiên cứu đã đề xuất một số giải pháp nhằm hoàn thiện công tác cấp GCN bao gồm: hoàn thiện những quy định của pháp luật liên quan đến công tác cấp GCN; tăng cường các giải pháp hoàn thiện pháp lý liên quan đến thửa đất; hoàn thiện và đồng bộ hệ thống cơ sở vật chất phục vụ công tác cấp GCN và tăng cường công tác tuyên truyền, nâng cao nhận thức cũng như cải thiện kinh tế của các hộ, nhất là các hộ đồng bào dân tộc thiểu số.

    DOI: https://doi.org/10.71254/spt4ka15