Số 21 (2021)
Bài viết
-
ẢNH HƯỞNG CỦA BIỆN PHÁP CẮT TỈA ĐẾN SINH TRƯỞNG VÀ NĂNG SUẤT BƯỞI ĐỎ HÒA BÌNH TẠI HUYỆN TÂN LẠC, TỈNH HÒA BÌNH
Abstract : 10 PDF: 12Nghiên cứu biện pháp kỹ thuật cắt tỉa nhằm góp phần hoàn thiện quy trình canh tác tổng hợp, nâng cao năng suất và chất lượng quả của giống trong điều kiện sinh thái vùng trồng bưởi tập trung của Hòa Bình và các vùng sinh thái tương tự. Nghiên cứu được thực hiện trên vườn bưởi trồng sẵn 6 - 7 năm tuổi, trong thời gian 3 năm 2018 - 2020. Thí nghiệm gồm 3 công thức: công thức 1 - đối chứng theo canh tác của người dân; công thức 2 - cắt tạo tán hình cầu dẹp, định hướng khống chế chiều cao cây; công thức 3 - cắt theo kiểu khai tâm, được thiết kế theo khối ngẫu nhiên đầy đủ và 3 lần lặp lại. Kết quả nghiên cứu cho thấy, các công thức cắt tỉa có ảnh hưởng đến khả năng sinh trưởng của giống bưởi đỏ Hòa Bình, cải thiện kích thước các đợt lộc của cây xuất hiện trong năm nhưng không làm thay đổi thời gian xuất hiện các đợt lộc và thời gian ra hoa của giống. Các công thức cắt tỉa có tác dụng nâng cao tỷ lệ đậu quả, năng suất thu được của giống bưởi đỏ Hòa Bình nhưng không làm thay đổi một số chỉ tiêu về quả. Trong các công thức cắt tỉa, công thức cắt tỉa kiểu khai tâm có tỷ lệ đậu quả ổn định và năng suất thu được đạt được cao hơn ở cả 3 năm nghiên cứu với các giá trị tương ứng là 1,30 - 1,45% và 130,42 - 136,74 kg quả/cây. Công thức đối chứng có tỷ lệ đậu quả và năng suất đạt 1,00 - 1,06% và 103,57 - 108,62 kg quả/cây. Các công thức cắt tỉa có xu hướng cải thiện độ brix thịt quả.
-
ẢNH HƯỞNG CỦA BIỆN PHÁP CẮT TỈA ĐẾN SINH TRƯỞNG, PHÁT TRIỂN VÀ NĂNG SUẤT CỦA CAM THANH LÂN TẠI CÔ TÔ, QUẢNG NINH
Abstract : 12 PDF: 10Cam Thanh Lân được trồng lâu đời trên đảo Thanh Lân, huyện Cô Tô, tỉnh Quảng Ninh trong những năm gần đây trên đảo đã khôi phục và mở rộng diện tích trồng vì chất lượng ăn ngon và khả năng chống chịu tốt với điều kiện trên đảo. Tuy nhiên, việc sản xuất cam Thanh Lân trên đảo chủ yếu dựa vào kinh nghiệm, không áp dụng kỹ thuật như: bón phân, cắt tỉa, tỉa hoa… Hầu hết các vườn cam trên đảo Cô Tô có bộ tán không cân đối, cành vượt, cành già, sâu bệnh còn tồn tại nhiều trên cây đã ảnh hưởng không nhỏ đến sinh trưởng, phát triển, năng suất và chất lượng của vườn cam. Nghiên cứu các biện pháp cắt tỉa khác nhau đến sinh trưởng, phát triển và năng suất của giống cam Thanh Lân được tiến hành trên các vườn cam 9 năm tuổi, trong 2 năm 2018 và 2019 tại xã Thanh Lân, huyện Cô Tô. Kết quả nghiên cứu cho thấy cắt tỉa giúp tăng năng suất cam Thanh Lân. Các công thức cắt tỉa dạng khai tâm và dạng kim tự tháp đã có tác dụng rõ rệt trong việc tăng chiều dài lộc, đường kính lộc xuân và lộc thu của cam Thanh Lân so với công thức đối chứng không cắt tỉa. Ở các công thức cắt tỉa, cây sinh trưởng tốt, quả đồng đều, mã quả đẹp; tỷ lệ đậu quả ổn định đạt từ 1,40 - 1,50%; khối lượng quả trung bình đạt từ 133,0 - 138,1 g/quả; năng suất lý thuyết đạt từ 51,1 - 54,0 kg/cây; năng suất thực thu đạt 45,5-49,1 kg/cây và độ Brix đạt từ 9,3 - 9,6%. Trong 2 công thức cắt tỉa, công thức 3 (cắt tỉa dạng kim tự tháp) có cho năng suất cao hơn so với công thức 2 (cắt tỉa dạng khai tâm).
-
ẢNH HƯỞNG CỦA VI KHUẨN VÙNG RỄ VÀ NỘI SINH CỐ ĐỊNH ĐẠM ĐẾN SINH TRƯỞNG VÀ NĂNG SUẤT CÂY VỪNG (MÈ) (Sesamum indicum L.) TRỒNG TRÊN ĐẤT PHÙ SA TRONG ĐÊ THU TẠI HUYỆN CHÂU PHÚ, TỈNH AN GIANG
Abstract : 12 PDF: 12Nghiên cứu nhằm xác định hiệu quả của vi khuẩn vùng rễ và nội sinh cố định đạm kết hợp lượng phân đạm vô cơ phù hợp để cải thiện hàm lượng đạm hữu dụng trong đất, hấp thu đạm trong cây, sinh trưởng và năng suất hạt vừng. Thí nghiệm trong chậu được bố trí khối hoàn toàn ngẫu nhiên gồm có 10 nghiệm thức: (i) Bón 100% N, (ii) Bón 85% N, (iii) Bón 70% N, (iv) Bón 55% N, (v) Nghiệm thức ii và hỗn hợp ba dòng vi khuẩn vùng rễ cố định đạm gồm VR-N-03, VR-N-11 và VR-N-19 (HH-VR-N), (vi) Nghiệm thức iii và HH-VR-N, (vii) Nghiệm thức iv và HH-VR-N, (viii) Nghiệm thức ii và hỗn hợp ba dòng vi khuẩn nội sinh cố định đạm gồm NS-N-09, NS-N-10 và NS-N-19 (HH-NS-N), (ix) Nghiệm thức iii và HH-NS-N, (x) Nghiệm thức iv và HH-NS-N, với bốn lần lặp lại, mỗi lặp lại là một chậu trồng trên đất phù sa trong đê thu tại huyện Châu Phú, tỉnh An Giang, trong điều kiện nhà lưới. Kết quả cho thấy bổ sung vi khuẩn vùng rễ và nội sinh cố định đạm kết hợp mức đạm 85% N theo khuyến cáo giúp tăng hàm lượng đạm hữu dụng 10,9 - 12,2%, hấp thu N 19,7 - 35,1% mg N chậu-1, chiều cao cây 0,48 - 6,48% và số quả 34,3 - 50,9% so với nghiệm thức bón 85% N. Bổ sung vi khuẩn vùng rễ và nội sinh cố định đạm giúp giảm 15% phân đạm, nhưng năng suất hạt tăng 5,47 - 12,5% so với không bổ sung vi khuẩn. Hiệu quả tăng năng suất của vi khuẩn nội sinh cố định đạm cao hơn vi khuẩn vùng rễ cố định đạm trên cây vừng trồng trên đất phù sa trong đê.
-
ẢNH HƯỞNG CỦA MẬT ĐỘ VÀ LƯỢNG BÓN KALI, LÂN, KẼM ĐẾN SINH TRƯỞNG, NĂNG SUẤT GIỐNG ĐẬU XANH ĐX208 TRỒNG TRÊN ĐẤT PHÙ SA CỔ TẠI MỸ THO, TIỀN GIANG
Abstract : 4 PDF: 6Kết quả nghiên cứu ảnh hưởng của mật độ trồng và lượng bón kali, lân, kẽm đến sinh trưởng, năng suất giống đậu xanh ĐX208 trồng trên đất phù sa cổ tại Mỹ Tho, Tiền Giang trong vụ đông xuân và xuân hè cho thấy: (1) Mật độ trồng và lượng bón kali có ảnh hưởng đến chiều cao cây, số cành cấp 1, chỉ số diện tích lá, các yếu tố cấu thành năng suất của đậu xanh ĐX208; năng suất hạt thực thu đạt cao nhất 1,81 - 1,93 tấn/ha ở mật độ trồng 12,5 vạn cây/ha kết hợp với lượng bón 60 - 90 K2O/ha trên nền 7 tấn phân bò hoai mục + 40 kg N, 60 kg P2O5/ha; lãi thuần đạt 21,95 - 26,30 triệu đồng/ha/vụ cao hơn đối chứng 135,01 - 181,58%. (2) Lượng bón lân và kẽm có ảnh hưởng đến chiều cao cây, chỉ số diện tích lá, các yếu tố cấu thành năng suất của đậu xanh ĐX208; năng suất hạt thực thu đạt cao nhất 1,62 tấn/ha ở lượng bón 10 kg ZnSO4/ha kết hợp với bón 90 - 120 kg P2O5/ha trên nền 7 tấn phân bò hoai mục + 40 kg N + 60 kg K2O/ha; lãi thuần đạt 13,41 - 15,13 triệu đồng/ha/vụ cao hơn đối chứng 14,22 - 28,88%.
-
ẢNH HƯỞNG CỦA MỨC BIOCHAR SẢN XUẤT TỪ RƠM LÚA BỔ SUNG VÀO KHẨU PHẦN ĐẾN LÊN MEN DẠ CỎ VÀ PHÁT THẢI KHÍ MÊTAN TRONG ĐIỀU KIỆN IN VITRO
Abstract : 16 PDF: 10Mục tiêu của nghiên cứu này nhằm đánh giá ảnh hưởng của mức bổ sung biochar vào khẩu phần đến khí mêtan phát thải, tỷ lệ tiêu hoá vật chất khô (DM), chất hữu cơ (OM), giá trị pH và nồng độ NH3-N trong điều kiện in vitro. Thí nghiệm được bố trí ngẫu nhiên hoàn toàn với 5 nghiệm thức tương ứng với 5 mức bổ sung biochar là 0, 1, 3, 5 và 7% (theo DM) trong khẩu phần, mỗi nghiệm thức lặp lại 5 lần. Biochar được sản xuất từ rơm lúa với nhiệt độ nhiệt phân 700oC. Lượng khí tổng số, khí mêtan sản sinh, tỷ lệ tiêu hoá DM và OM, giá trị pH và nồng độ NH3-N được xác định tại các thời điểm 4, 24 và 48 giờ sau khi ủ. Kết quả nghiên cứu cho thấy, mức biochar trong khẩu phần có ảnh hưởng đến tổng lượng khí và khí mêtan sản sinh (P<0,01), tổng lượng khí và khí mêtan sản sinh có xu hướng giảm khi tăng mức biochar trong khẩu phần. Các mức biochar trong khẩu phần đã không ảnh hưởng đến giá trị pH của khối ủ (P>0,05). Tăng mức biochar trong khẩu phần đã ảnh hưởng đến tỷ lệ tiêu hoá DM và OM cũng như nồng độ NH3-N (P<0,05). Nhìn chung, khi bổ sung biochar ở mức 1 hoặc 3% trong khẩu phần đã không ảnh hưởng đến tỷ lệ tiêu hoá DM, OM và nồng độ NH3-N so với không bổ sung biochar. Tuy nhiên, khi tăng mức bổ sung biochar lên 5 hoặc 7% trong khẩu phần đã làm giảm tỷ lệ tiêu hoá DM, OM và nồng độ NH3-N. Từ kết quả nghiên cứu có thể kết luận, bổ sung biochar ở mức 3% trong khẩu phần (theo DM) đã làm giảm phát thải khí mêtan mà không ảnh hưởng đến tỷ lệ tiêu hoá DM, OM và nồng độ NH3-N.
-
ẢNH HƯỞNG CỦA LOẠI VÀ HÀM LƯỢNG CARBOHYDRATE LÊN ĐẶC TÍNH CẢM QUAN, HÓA LÝ VÀ HOẠT TÍNH CHỐNG OXY HÓA CỦA VIÊN HOÀN POLYPHENOL/CHLOROPHYLL-ALGINATE
Abstract : 5 PDF: 6Bài báo trình bày ảnh hưởng loại carbohydrate (dextrin, pectin, CMC, guar gum, tinh bột khoai mì, tinh bột bắp, tinh bột lúa mì, đường mía) và hàm lượng (20, 25, 30, 35, 40%) của chúng lên đặc tính cảm quan, hóa lý (độ trương nở, khả năng tan rã, khả năng giải phóng hoạt chất (hàm lượng polyphenol, chlorophyll và hoạt tính chống oxy hóa (chống oxy hóa tổng, khử sắt và bắt gốc tự do DPPH), mật độ khối lượng và độ đồng đều khối lượng) của viên hoàn chứa dịch chiết cô đặc giàu polyphenol, chlorophyll chống oxy hóa từ cây ngô, vitamin C, alginate và carbohydrate. Kết quả cho thấy, điểm cảm quan và đặc tính hóa lý của viên hoàn bị ảnh hưởng bởi loại và hàm lượng carbohydrate. 40% tinh bột lúa mì, tinh bột khoai mì mang lại tổng điểm cảm quan (19,5 điểm) và guar gum tạo độ trương nở (350,00 ± 8,16%), cũng như 20% pectin đem lại khả năng bán rã (13,33 ± 0,58 phút) nhanh hơn cho viên hoàn khi so sánh với carbohydrate khác. Hàm lượng hoạt chất polyphenol, chlorophyll và hoạt tính chống oxy hóa được giải phóng 100%, ngoại trừ viên hoàn chứa guar gum và carboxymethyl cellulose chỉ giải phóng được 14,09 ± 0,89% tới 31,3 ± 1,37% và 71,91 ± 2,38% tới 100%. 40% carboxymethyl cellulose mang lại mật độ khối lượng (0,68 ± 0,01 g/cm3) và dextrin tạo ra độ đồng nhất khối lượng cao nhất cho viên hoàn. Kết quả này hữu ích cho việc nghiên cứu sản xuất các loại viên hoàn có đặc tính hóa lý và sinh học khác nhau ứng dụng trong thực phẩm chức năng và dược phẩm.
-
NGHIÊN CỨU CÔNG NGHỆ TÁCH SỢI TỪ LÁ DỨA BẰNG PHƯƠNG PHÁP CƠ HỌC
Abstract : 12 PDF: 10Bài báo trình bày kết quả nghiên cứu xác định một số thông số công nghệ tách sợi từ lá dứa bằng phương pháp cơ học trên thiết bị tách sợi TS.HĐ.HN.02. Xác định được ảnh hưởng khoảng cách giữa ru lô tách sợi và ru lô cuốn đến tỷ lệ tách sợi và khoảng cách hợp lý bằng 1,5 lần chiều dày lá dứa; xác định ảnh hưởng của độ ẩm lá dứa khi tách đến tỷ lệ tách sợi, khi lá dứa tươi, độ ẩm cao, đạt giá trị trung bình khoảng 82,20%, tương ứng với thời gian lưu giữ lá dứa sau khai thác quả từ 1 - 7 ngày, quá trình tách sợi trên thiết bị TS.HĐ.HN.02 thuận lợi hơn và tỷ lệ tách sợi cao hơn và đạt 2,61%. Xây dựng được quy trình công nghệ tách sợi từ lá dứa bằng phương pháp cơ học trên thiết bị TS.HĐ.HN.02 được chế tạo. Xác định tính chất của sợi dứa sau khi tách và làm sạch: đường kính sợi dứa 49,2 - 62,5 µm; độ mảnh sợi 2,65 tex, độ bền đứt trung bình 78,1 g/xơ, độ bền đứt tương đối trung bình 28,8 cN/tex. Xác định các tính chất của sợi xe dứa trong các trường hợp có đường kính từ 1 mm đến 2 mm và từ 3 mm đến 4 mm tương ứng là: chỉ số sợi 1053 tex, 6097 tex; độ săn sợi 116 x/m, 118 x/m; độ bền kéo đứt sợi 3044 cN, 25812 cN; độ giãn đứt sợi 2,5%, 5,5%; độ bền tương đối 5,5 cN/tex, 4.2 cN/tex.
-
NGHIÊN CỨU ẢNH HƯỞNG CỦA MỘT SỐ YẾU TỐ CÔNG NGHỆ ĐẾN CHẤT LƯỢNG NƯỚC UỐNG TỪ QUẢ THANH LONG RUỘT ĐỎ (Hylocereus polyrhizus)
Abstract : 19 PDF: 16Nghiên cứu thực hiện trên nguyên liệu thanh long ruột đỏ (Hylocereus polyrhizus) được trồng tại huyện Càng Long, tỉnh Trà Vinh. Nghiên cứu thực hiện thông qua việc khảo sát các thông số: (1) nhiệt độ thủy phân (45oC, 50oC, 55oC) và tỉ lệ enzyme pectinase (0%; 0,1%; 0,2%; 0,3%); (2) độ Brix (14, 16, 18) và pH (3,5; 4,0; 4,5) của nước ép thanh long sau khi phối chế; (3) nhiệt độ thanh trùng (80oC, 85oC, 90oC) và thời gian thanh trùng (10 phút, 20 phút, 30 phút). Kết quả cho thấy điều kiện tối ưu của quá trình thủy phân là nhiệt độ 50oC và tỉ lệ enzyme pectinase 0,2%. So với mẫu đối chứng, hiệu suất thu hồi tăng 32,874%. Chất lượng sản phẩm đạt giá trị cảm quan cao nhất ở độ Brix 16 và pH 4,5. Để sản phẩm ổn định màu betacyanin, giữ được hoạt chất chống oxy hóa và đảm bảo an toàn vệ sinh thực phẩm cần chọn nhiệt độ thanh trùng 85oC, thời gian thanh trùng 10 phút.
-
NGHIÊN CỨU ẢNH HƯỞNG CỦA MỘT SỐ THÔNG SỐ ĐẾN KHẢ NĂNG TÁI HYDRAT HÓA KHI SẤY RONG LỤC (Ulva lactuca) BẰNG BƠM NHIỆT KẾT HỢP BỨC XẠ HỒNG NGOẠI
Abstract : 13 PDF: 10Nghiên cứu tập trung về tối ưu hóa điều kiện sấy rong lục Ulva lactuca thu mua tại vịnh Cam Ranh – Khánh Hòa bằng công nghệ bơm nhiệt kết hợp bức xạ hồng ngoại theo mô hình thực nghiệm đa nhân tố bậc 1 của Box-Wilson dựa trên hàm mục tiêu tỷ lệ tái hydrat hóa sản phẩm sau sấy. Các chỉ tiêu cảm quan, vật lý (tạp chất, hoạt độ nước), hóa học (chất xơ tổng số và protein tổng số) và vi sinh vật (tổng số vi sinh vật hiếu khí, E. coli, Coliforms, Samonella, V. cholerae, S. aureus) được đánh giá trên rong lục sấy bằng 3 phương pháp khác nhau (công nghệ bơm nhiệt kết hợp bức xạ hồng ngoại, công nghệ bơm nhiệt và sấy dưới mặt trời). Thực nghiệm cho ra phương trình hồi quy Y = 81,21 + 0,95X1 + 0,15X2 + 1,37X3 - 0,55X4 + 0,305X1X2 - 0,21X1X3 + 0,42X1X4+ 0,64X2X3+ 0,75X2X4- 0,22X3X4 thể hiện mối tương quan giữa tỷ lệ tái hydrat hóa rong sấy (Y, %) và các nhân tố tác động: nhiệt độ sấy (X1), nồng độ sorbitol (X2), chiều dày nguyên liệu sấy (X3) và tốc độ gió (X4), trong đó chiều dày nguyên liệu sấy (X3) ảnh hưởng lên tỷ lệ tái hydrat hóa nhiều hơn so với các yếu tố khác. Điều kiện sấy tối ưu là sorbitol 11%, nhiệt độ sấy 47,5oC, tốc độ gió 1,8 m/s và thời gian sấy là 3,55 giờ. Rong lục khô đã sấy ở điều kiện tối ưu có tỷ lệ tái hydrat hóa là 83,55% và đạt chất lượng cảm quan và vệ sinh an toàn thực phẩm cao hơn so với các phương pháp sấy không khí và sấy dưới ánh nắng mặt trời.
-
NGHIÊN CỨU THỬ NGHIỆM SẢN XUẤT NƯỚC ĐÁ NANO UFB (ULTRA FINE BUBBLE) ĐỂ ỨNG DỤNG TRONG BẢO QUẢN THỦY SẢN
Abstract : 15 PDF: 13Nước đá Nano UFB là nước đá được sản xuất từ nước Nano UFB ở đó hàm lượng ôxi hoà tan (DO) dưới 1,0 mg/l. Sử dụng phương pháp thực nghiệm đo trực tiếp chỉ số DO trong khi sản xuất nước đá và đo gián tiếp chỉ số DO của nước đá Nano UFB khi tan trong khay tạo đá. Kết quả nghiên cứu cho thấy, thời gian sản xuất nước đá Nano UFB 9 giờ, tương ứng với nhiệt độ tâm đá ở - 100C nhằm đảm bảo nước đá Nano UFB có chỉ số DO<1 mg/l và phù hợp với đặc điểm công nghệ sản xuất nước đá của cơ sở thử nghiệm. Chỉ số DO của nước đá Nano UFB không có sự sai khác giữa phương thức sản xuất ở dạng kín và dạng hở. Nước Nano UFB trong khi sản xuất nước đá Nano UFB hạ xuống nhiệt độ 00C và bắt đầu kết tinh thành đá có chỉ số DO dưới 1,0 mg/l. Chất lượng của nước đá Nano UFB đảm bảo QCVN 02: 2009/BYT và chỉ số DO nước đá Nano UFB tan bằng khoảng 20% so với nước đá đối chứng, TCVN 7325: 2016. Nước đá Nano UFB và nước đá đối chứng có thời gian sản xuất, nhiệt độ tâm đá không khác nhau.
-
MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM CẤU TRÚC VÀ TÁI SINH CỦA RỪNG THỨ SINH NGHÈO TẠI CÔNG TY TNHH MTV LÂM NGHIỆP NAM TÂY NGUYÊN, HUYỆN TUY ĐỨC, TỈNH ĐẮK NÔNG
Abstract : 11 PDF: 10Bài báo này giới thiệu kết quả nghiên cứu cấu trúc tổ thành và tái sinh tự nhiên của rừng thứ sinh nghèo tại Công ty TNHH MTV Lâm nghiệp Nam Tây Nguyên, huyện Tuy Đức, Đắk Nông. Mục tiêu nghiên cứu là xác định được đặc điểm cấu trúc tổ thành tầng cây gỗ lớn và tình trạng tái sinh tự nhiên của rừng thứ sinh nghèo phân bố tại 3 vị trí chân, sườn, đỉnh núi. Kết quả nghiên cứu dựa trên 12 ô mẫu điển hình với kích thước 0,2 ha (50 m x 40 m). Kết quả nghiên cứu cho thấy có sự khác nhau về số loài và mật độ cây cá thể ở tầng cây gỗ lớn, vị trí chân núi có 60 loài, có 17 loài tham gia tổ thành, mật độ 231 cây/ha, độ tàn che 0,68, vị trí sườn núi có 54 loài, tổ thành gồm 15 loài, mật độ 228 cây/ha, độ tàn che 0,66 và đỉnh núi có 53 loài, tổ thành có 14 loài, đạt mật độ 221 cây/ha, độ tàn che tán rừng chỉ đạt 0,64. Về loài ưu thế theo chỉ số IV% càng lên cao số loài ưu thế của tầng cây cao có dấu hiệu tăng và có thay đổi rõ rệt. Độ giàu loài của lớp cây tái sinh giao động từ 40 - 45 loài. Mật độ cây tái sinh khá cao và biến động theo đai độ cao, từ 4.250 cây/ha đến 4.625 cây/ha. Số loài tham gia công thức tổ thành dao động từ 4 - 5 loài, trong đó những loài chiếm ưu thế gồm: Lòng máng, Bời lời, Dẻ, Bằng lăng, Bứa và Kơ nia. Số loài cây tái sinh xuất hiện mới so với tầng cây cao từ 3 đến 8 loài. Trong khi đó, có 15 đến 21 loài của tầng cây cao không xuất hiện ở lớp cây tái sinh. Tỷ lệ cây tái sinh triển vọng tăng theo chiều tăng của đai độ cao biến động từ 50,27 - 60,59% tương ứng. Hình thái phân bố theo mặt phẳng nằm ngang có sự khác biệt ở các đai độ cao, phân bố đều xuất hiện ở vị trí chân núi, trong khi sườn và đỉnh núi phân bố ngẫu nhiên. Hàm phân bố khoảng cách và Weyer phù hợp để mô phỏng phân bố số cây tái sinh theo chiều cao tại khu vực nghiên cứu.
-
ĐA DẠNG THỰC VẬT THÂN GỖ VÀ TRỮ LƯỢNG CÁC BON TRÊN MẶT ĐẤT CỦA MỘT SỐ QUẦN XÃ ƯU THẾ HỌ DẦU (DIPTEROCARPACEAE) Ở TÂN PHÚ, ĐỒNG NAI
Abstract : 11 PDF: 10Đa dạng sinh học thực vật và trữ lượng các bon trên mặt đất có vai trò quan trọng trong bối cảnh biến đổi khí hậu diễn biến ngày càng phức tạp trên phạm vi toàn cầu. Do đó, nghiên cứu đã được thực hiện nhằm xác định tính đa dạng thực vật thân gỗ và trữ lượng các bon trên mặt đất của các quần xã thực vật (QXTV) ưu thế họ Dầu (Dipterocarpaceae) trong kiểu rừng kín thường xanh ẩm nhiệt đới ở Tân Phú, Đồng Nai. Phương pháp phân tích định lượng đa dạng thực vật và phương trình hồi quy đã được sử dụng để phân tích dữ liệu từ 25 ô tiêu chuẩn (OTC) (50 m x 50 m) (5 OTC/mỗi quần xã). Nghiên cứu cho thấy, tổng số 120 loài của 78 chi thuộc 42 họ thực vật đã được ghi nhận, trong đó 29 loài thực vật bị đe dọa được liệt kê trong danh lục IUCN (2020), Sách Đỏ Việt Nam (2007) và Nghị định 06/2019/NĐ - CP của Chính phủ. Các chỉ số định lượng đa dạng thực vật ở mỗi QXTV đã được xác định bao gồm: số loài ưu thế và đồng ưu thế từ 4 - 7 loài, Margalef (d) từ 4,6 - 6,5, Shannon - Wiener (H’) trung bình là 2,87, Simpson (Cd) từ 0,06 - 0,14, chỉ số (β) từ 3,73 - 5,00, chỉ số tương đồng (SI) từ 0,39 - 0,62, cho thấy tính đa dạng thực vật thân gỗ của những QXTV ưu thế họ Dầu (Dipterocarpaceae) ở mức độ trung bình. Nghiên cứu cũng xác định được tổng sinh khối và trữ lượng các bon của những QXTV là 6.693,30 tấn/ha và 3.346,65 tấn/ha. Tổng sinh khối và trữ lượng các bon giữa các QXTV biến động từ 1088,91 tấn/ha và 554,46 tấn/ha ở QXTV Sến mủ đến 1746,11 tấn/ha và 873,06 tấn/ha ở QXTV Dầu song nàng.
-
ĐA DẠNG HỌ SIM (MYRTACEAE JUSS. 1789) TẠI KHU BẢO TỒN ĐA DẠNG SINH HỌC ĐẦU NGUỒN SÔNG NGÀN PHỐ, TỈNH HÀ TĨNH
Abstract : 10 PDF: 11Kết quả nghiên cứu họ Sim (Myrtaceae) ở Khu Bảo tồn Đa dạng sinh học (BTĐDSH) đầu nguồn sông Ngàn Phố, tỉnh Hà Tĩnh đã xác định được 33 loài thuộc 7 chi. Họ Sim ở nơi đây có nhiều loài cây có giá trị sử dụng khác nhau, cây cho tinh dầu với 33 loài, cây lấy gỗ 25 loài, cây làm thuốc 16 loài, cây cho quả ăn được 14 loài, cây làm cảnh 4 loài, cây có công dụng khác 4 loài và cây cho tanin, thuốc nhuộm với 4 loài. Có 4 dạng thân chính, thân gỗ lớn 5 loài, thân gỗ trung bình 9 loài, thân gỗ nhỏ 14 loài và thân cây bụi với 5 loài. Trong các môi trường sống thì ở rừng nguyên sinh với 28 loài; ở rừng thứ sinh với 24 loài; ở trảng cây bụi, ven rừng với 21 loài và ở ven đường, ưa sáng, ven suối với 10 loài. Trong các yếu tố địa lý thì yếu tố lục địa Đông Nam Á 6 loài (chiếm 18,19%); yếu tố Đông Dương - Nam Trung Hoa 5 loài (chiếm 15,15%); yếu tố nhiệt đới châu Á và châu Úc, Đông Dương-Ấn Độ hay lục địa châu Á nhiệt đới và yếu tố cây trồng mỗi yếu tố có 4 loài (chiếm 12,12%); yếu tố gần đặc hữu và yếu tố đặc hữu mỗi yếu tố 3 loài (chiếm 9,09%); yếu tố Đông Dương 2 loài (chiếm 6,06%); yếu tố thế giới và yếu tố Đông Dương-Malêzi mỗi yếu tố 1 loài (cùng chiếm 3,03%).
-
CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN MỨC SẴN LÒNG CHI TRẢ CỦA NGƯỜI SỬ DỤNG DỊCH VỤ NƯỚC SẠCH TẠI NÔNG THÔN: NGHIÊN CỨU TRƯỜNG HỢP HUYỆN NGA SƠN, TỈNH THANH HÓA
Abstract : 12 PDF: 11Bài viết trình bày kết quả nghiên cứu các yếu tố gây ảnh hưởng và tìm ra mức sẵn lòng chi trả (WTP) của người dân cho dịch vụ nước sạch tại nông thôn. Số liệu thu thập từ phỏng vấn ngẫu nhiên theo phương pháp Double Bounced tại 27 xã và thị trấn Nga Sơn, tỉnh Thanh Hóa trong năm 2019. Mô hình Đánh giá ngẫu nhiên (Contingent Valuation Method – CVM) dưới dạng Probit được sử dụng với sự hỗ trợ của phần mềm SPSS-10 để xác định các yếu tố ảnh hưởng và mức độ ảnh hưởng tới mức sẵn lòng chi trả nước sạch. Kết quả cho thấy, nhu cầu của người dân về dịch vụ nước sạch hiện tại đạt mức WTP trung bình 9.216 đồng/m3, hàm ý dân cư có khả năng chi trả trung bình thấp, là trở ngại cho các dự án cung cấp nước sạch tại khu vực, nhưng trở ngại này không lớn. Các yếu tố ảnh hưởng đến mức sẵn lòng chi trả là tuổi, trình độ học vấn, thu nhập và giới tính. Cụ thể, cứ tăng một tuổi, mức WTP trung bình giảm 62 đồng/m3; cứ tăng một cấp học thì mức WTP trung bình tăng lên 970 đồng/m3; cứ tăng thu nhập thêm một triệu đồng thì WTP tăng trung bình 1.200 đồng/m3; mức WTP trung bình của nam cao hơn so với của nữ là 1.906 đồng/m3. Tuy nhiên, có 3 yếu tố không tác động đáng kể tới mức WTP gồm: số nhân khẩu, khu vực sống và nghề nghiệp. Kết quả này giúp cho các nhà hoạch định chính sách về nước sạch nông thôn tập trung nguồn lực tài chính có hạn vào những yếu tố quan trọng để cung cấp nước sạch tại nông thôn Nga Sơn. Việc đầu tư cung cấp nước sạch có thể hiệu quả và bền vững nhưng các chính sách phát triển kinh tế hộ gia đình và an sinh xã hội cần được triển khai như là một biện pháp hỗ trợ quan trọng để nâng mức WTP.
-
ƯỚC TÍNH LƯỢNG BỐC THOÁT HƠI NƯỚC THỰC TẾ THEO MÔ HÌNH PRIESLEY - TAYLOR VỚI DỮ LIỆU ĐƯỢC CHIẾT XUẤT TỪ ẢNH VỆ TINH LANDSAT 8 VÀ MÔ HÌNH SỐ ĐỘ CAO KHU VỰC TỈNH HÒA BÌNH
Abstract : 11 PDF: 9Bốc thoát hơi nước thực tế (ETa) là tham số quan trọng trong việc tính lượng nước tiêu thụ của cây trồng. Đặc biệt, trong công tác quản lý và sử dụng nước sinh hoạt, sản xuất nông, lâm nghiệp. Bài báo trình bày kết quả tính lượng bốc thoát hơi nước thực tế theo mô hình Priestley - Taylor với dữ liệu được chiết xuất từ ảnh vệ tinh Landsat 8 và mô hình số độ cao tại tỉnh Hòa Bình. Kết quả tính được so sánh với lượng bốc thoát hơi nước đo trực tiếp tại các trạm khí tượng thủy văn tỉnh Hòa Bình cho thấy chênh lệch trung bình giữa ETa_PT và ETa_Đo là 0,7 mm/ngày tương ứng 9,62%. Trong đó, vị trí có chênh lệch lớn nhất là 1,3 mm/ngày tương ứng 16,25% tại Trạm khí tượng Chi Nê và vị trí có chênh lệch nhỏ nhất là 0,2 mm/ngày tương ứng 2,74% tại Trạm thủy văn Hưng Thi. Sai số trung phương tại 8 trạm quan trắc khí tượng thủy văn Hòa Bình là 0,79 mm/ngày. Giá trị chênh lệch trong khoảng 0 - 5% là 1/8 trạm chiếm 12,5%; khoảng 5 - 10% là 4/8 trạm chiếm 50,0%; khoảng 10 - 15% là 1/8 trạm chiếm 12,5%; khoảng 15 - 20% là 2/8 trạm chiếm 25,0%.
-
ƯỚC LƯỢNG GIÁ TRỊ GIẢI TRÍ KHU DU LỊCH SINH THÁI HANG PHƯỢNG HOÀNG, HUYỆN VÕ NHAI, TỈNH THÁI NGUYÊN
Abstract : 15 PDF: 11Bài báo này trình bày kết quả nghiên cứu xác định giá trị giải trí khu du lịch sinh thái hang Phượng Hoàng, huyện Võ Nhai, tỉnh Thái Nguyên. Phương pháp chi phí du hành theo vùng và phương pháp hồi qui tuyến tính được sử dụng để xác định giá trị giải trí khu du lịch và đường cầu du lịch của du khách. Dữ liệu sơ cấp thu thập được từ việc điều tra phỏng vấn trực tiếp du khách, các dữ liệu thứ cấp thu thập từ các nguồn tài liệu là nghiên cứu khoa học đã được công bố, giáo trình liên quan, báo cáo của cơ quan nhà nước, cơ quan quản lý… Kết quả cho thấy giá trị giải trí khu du lịch sinh thái hang Phượng Hoàng đối với toàn xã hội và nền kinh tế huyện khoảng 902,515 tỷ đồng, tổng giá trị thặng dư du khách có được từ đi du lịch đến hang Phượng Hoàng là khoảng 55,036 tỷ đồng, đường cầu du lịch có dạng: VRi = -5,336x10-5 TCi + 86,415. Nghiên cứu là căn cứ tham khảo cho các cơ quan nhà nước, nhà điều hành du lịch trong việc quản lý, phát triển bền vững khu du lịch.
-
ĐÁNH GIÁ VIỆC THỰC HIỆN MỘT SỐ QUYỀN CỦA NGƯỜI SỬ DỤNG ĐẤT TẠI THÀNH PHỐ VINH, TỈNH NGHỆ AN
Abstract : 6 PDF: 5Nghiên cứu nhằm đánh giá thực trạng và đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả thực hiện các quyền của người sử dụng đất (NSDĐ) tại thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An. Sử dụng phương pháp lấy mẫu ngẫu nhiên để chọn 240 NSDĐ đến làm việc tại Chi nhánh Văn phòng Đăng ký đất đai và 30 cán bộ công chức, viên chức có liên quan đến việc thực hiện các quyền của NSDĐ. Sử dụng thang đo 5 mức của Likert để đánh giá việc thực hiện các quyền của NSDĐ. Kết quả nghiên cứu cho thấy trong giai đoạn 2017 - 2020 tại thành phố Vinh có 62.588 giao dịch thế chấp quyền sử dụng đất (QSDĐ), 31.057 giao dịch chuyển nhượng QSDĐ, 2.058 giao dịch tặng cho QSDĐ, 1.829 giao dịch thừa kế QSDĐ và 24 giao dịch cho thuê QSDĐ. Việc thực hiện QSDĐ chủ yếu đối với đất ở. Mục đích của chuyển nhượng và thế chấp QSDĐ là đầu tư sản xuất kinh doanh và trả nợ. Kết quả điều tra NSDĐ cho thấy khả năng tiếp cận dịch vụ trong thực hiện quyền của NSDĐ được đánh giá ở mức rất dễ. Thủ tục thực hiện tại văn phòng đăng ký đất đai (VPĐKĐĐ), thời gian hoàn thành các thủ tục; việc thu phí, lệ phí; khả năng thực hiện các quy định liên quan đến QSDĐ được đánh giá ở mức cao. Kết quả điều tra cán bộ cho thấy chất lượng hệ thống hồ sơ địa chính được đánh giá ở mức tốt. Các văn bản hướng dẫn thực hiện QSDĐ được đánh giá ở mức đầy đủ. Mức độ công khai thủ tục hành chính (TTHC); cơ sở vật chất; sự phối hợp giữa các bên liên quan; sự hiểu biết pháp luật đất đai của người dân; số lượng và chất lượng của cán bộ được đánh giá ở mức rất tốt. Để nâng cao hiệu quả thực hiện quyền của NSDĐ cần thực hiện các giải pháp sau: giải pháp về cơ chế, chính sách; hoàn thiện hệ thống hồ sơ địa chính, trang thiết bị kỹ thuật; nâng cao chất lượng nguồn nhân lực; giải pháp về tuyên truyền, tổ chức và hướng dẫn thực hiện.
-
PHÂN TÍCH CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN HÀNH VI TUÂN THỦ NGUYÊN TẮC SỬ DỤNG THUỐC BẢO VỆ THỰC VẬT TRONG SẢN XUẤT LÚA TẠI TỈNH ĐỒNG THÁP
Abstract : 11 PDF: 10Nghiên cứu thực hiện phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến hành vi tuân thủ sử dụng thuốc bảo vệ thực vật (BVTV) trong sản xuất lúa của các nông hộ tại tỉnh Đồng Tháp. Thông qua điều tra 120 hộ trồng lúa trong vụ hè thu năm 2020, nghiên cứu nhằm cho thấy thực trạng sử dụng thuốc BVTV; các yếu tố ảnh hưởng đến việc tuân thủ sử dụng thuốc BVTV và tác động của sử dụng thuốc đến sản xuất, sức khỏe nông hộ sản xuất lúa trên địa bàn. Cơ sở phân tích dựa theo nguyên tắc 4 đúng trong sử dụng thuốc BVTV là: i) đúng thuốc; ii) đúng liều lượng, nồng độ; iii) đúng lúc; iv) đúng cách. Kết quả nghiên cứu cho thấy, đa số nông hộ vi phạm trong việc sử dụng thuốc BVTV theo nguyên tắc đúng cách. Kết quả mô hình hồi quy logistic đa thức cho thấy trình độ, giới tính của người quyết định sản xuất, việc tham gia tập huấn sử dụng thuốc BVTV và người sản xuất có bệnh mãn tính ảnh hưởng đến việc tuân thủ sử dụng thuốc BVTV. Bên cạnh đó, thuốc BVTV làm suy giảm thiên địch, hệ sinh thái thủy sinh xung quanh đồng ruộng; làm ô nhiễm nguồn nước sinh hoạt; ảnh hưởng sức khỏe của người phun thuốc.
-
TRÁCH NHIỆM XÃ HỘI TRONG CÁC DOANH NGHIỆP KINH DOANH THỦY SẢN Ở ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG
Abstract : 12 PDF: 11Nghiên cứu được thực hiện thông qua điều tra 61 doanh nghiệp, bao gồm doanh nghiệp chế biến thủy sản, doanh nghiệp sản xuất giống, kinh doanh thức ăn, thú y thủy sản, thu mua thủy sản nhằm tìm hiểu thực trạng thực hành trách nhiệm xã hội của các doanh nghiệp trong ngành thủy sản. Kết quả nghiên cứu cho thấy, doanh nghiệp thủy sản đã có sự sẵn sàng nhất định để áp dụng trách nhiệm xã hội thông qua xây dựng kế hoạch phát triển bền vững và đưa trách nhiệm xã hội vào kế hoạch kinh doanh. Doanh nghiệp thủy sản ngày càng quan tâm tới lợi ích khách hàng thông qua việc cung cấp đầy đủ thông tin sản phẩm trên bao bì và quảng cáo không quá khuếch trương. Doanh nghiệp đã có ý thức nhất định đối với môi trường và hệ sinh thái tự nhiên thông qua báo cáo đánh giá tác động môi trường cùng với phần lớn doanh nghiệp có chính sách sử dụng nguồn nguyên liệu bền vững. Bên cạnh đó, đa số doanh nghiệp thủy sản có chính sách lao động hợp lý. Tuy nhiên, thực hành trách nhiệm xã hội trong các doanh nghiệp nhỏ còn nhiều hạn chế; số ít doanh nghiệp né tránh việc trao đổi thông tin với người lao động và sự bất bình đẳng về tiền lương giữa lao động thời vụ và lao động toàn thời gian.








