ẢNH HƯỞNG CỦA VI KHUẨN VÙNG RỄ VÀ NỘI SINH CỐ ĐỊNH ĐẠM ĐẾN SINH TRƯỞNG VÀ NĂNG SUẤT CÂY VỪNG (MÈ) (Sesamum indicum L.) TRỒNG TRÊN ĐẤT PHÙ SA TRONG ĐÊ THU TẠI HUYỆN CHÂU PHÚ, TỈNH AN GIANG
DOI:
https://doi.org/10.71254/0xqwvz96Abstract
Objective of this study was to determine the rhizospheric and endophytic bacteria possessing nitrogen fixation combined with the inorganic nitrogen fertilizer levels to improve the available nitrogen content in soil, nitrogen uptake in plant, sesame growth and yield. The experiment was carried out a randomized complete block design, with ten treatments: (i) Applied 100% N of recommendation fertilizer formula (RFF), (ii) Applied 85% N of RFF, (iii) Applied 70% N of RFF, (iv) Applied 55% N of RFF, (v) Treatment ii plus a mixture of three N2-fixing rhizospheric bacteria (NFRB) including VR-N-03, VR-N-11 and VR-N-19, (vi) Treatment iii plus NFRB, (vii) Treatment iv plus NFRB, (viii) Treatment ii plus a mixture of three N2-fixing endophytic bacteria (NFEB) involving NS-N-09, NS-N-10 and NS-N-19, (ix) Treatment iii plus NFEB, (x) Treatment iv plus NFEB, with four replications, each replicate being a pot on alluvial soil indyke in Chau Phu district, An Giang province, under greenhouse conditions. The results showed that the addition of a mixture of NFRB and NFEB combined with 85% N of RFF increased the available nitrogen content in soil 10.9 - 12.2%, N uptake 19.7 - 35.1% mg N pot-1, plant height 0.48 - 6.48% and number of capsules 34.3 - 50.9% compared to only 85% N of RFF. The supplement of a mixture NFRB and NFEB contributed to a reduction of 15% fertilizer of RFF, but increased sesame grain yield by 5.47 - 12.5% compared to treatment only 85% N of RFF. The efficiency of NFEB was higher than that of NFRB in sesame grain yield cultivated on alluvial soil in dyke.
Keywords:
Alluvial soil, endophytic bacteria, nitrogen fixing, rhizospheric bacteria, sesame.Tóm tắt
Nghiên cứu nhằm xác định hiệu quả của vi khuẩn vùng rễ và nội sinh cố định đạm kết hợp lượng phân đạm vô cơ phù hợp để cải thiện hàm lượng đạm hữu dụng trong đất, hấp thu đạm trong cây, sinh trưởng và năng suất hạt vừng. Thí nghiệm trong chậu được bố trí khối hoàn toàn ngẫu nhiên gồm có 10 nghiệm thức: (i) Bón 100% N, (ii) Bón 85% N, (iii) Bón 70% N, (iv) Bón 55% N, (v) Nghiệm thức ii và hỗn hợp ba dòng vi khuẩn vùng rễ cố định đạm gồm VR-N-03, VR-N-11 và VR-N-19 (HH-VR-N), (vi) Nghiệm thức iii và HH-VR-N, (vii) Nghiệm thức iv và HH-VR-N, (viii) Nghiệm thức ii và hỗn hợp ba dòng vi khuẩn nội sinh cố định đạm gồm NS-N-09, NS-N-10 và NS-N-19 (HH-NS-N), (ix) Nghiệm thức iii và HH-NS-N, (x) Nghiệm thức iv và HH-NS-N, với bốn lần lặp lại, mỗi lặp lại là một chậu trồng trên đất phù sa trong đê thu tại huyện Châu Phú, tỉnh An Giang, trong điều kiện nhà lưới. Kết quả cho thấy bổ sung vi khuẩn vùng rễ và nội sinh cố định đạm kết hợp mức đạm 85% N theo khuyến cáo giúp tăng hàm lượng đạm hữu dụng 10,9 - 12,2%, hấp thu N 19,7 - 35,1% mg N chậu-1, chiều cao cây 0,48 - 6,48% và số quả 34,3 - 50,9% so với nghiệm thức bón 85% N. Bổ sung vi khuẩn vùng rễ và nội sinh cố định đạm giúp giảm 15% phân đạm, nhưng năng suất hạt tăng 5,47 - 12,5% so với không bổ sung vi khuẩn. Hiệu quả tăng năng suất của vi khuẩn nội sinh cố định đạm cao hơn vi khuẩn vùng rễ cố định đạm trên cây vừng trồng trên đất phù sa trong đê.








