Số 17 (2021)

					Xem Số 17 (2021)
Đã Xuất bản: 15-09-2021

Bài viết

  • VAI TRÒ CỦA CÁC TỔ CHỨC TẬP THỂ TRONG XÂY DỰNG, QUẢN LÝ VÀ PHÁT TRIỂN CHỈ DẪN ĐỊA LÝ TẠI VIỆT NAM

    Abstract : 15 PDF: 10
    Đặng Thị Thanh Thủy, Nguyễn Văn Hiếu, Trần Minh Tiến, Oleg Nicetic
    3-12

    Nghiên cứu này nhằm tìm hiểu vai trò của các tổ chức tập thể trong xây dựng, quản lý và phát triển chỉ dẫn địa lý (CDĐL) tại Việt Nam thông qua nghiên cứu tài liệu và phỏng vấn sâu. Kết quả nghiên cứu cho thấy, Việt Nam đã có quy định về hoạt động xác lập quyền bảo hộ đối với CDĐL, quy định về chủ sở hữu CDĐL. Tuy nhiên, các quy định cụ thể về vai trò, trách nhiệm của các cơ quan quản lý nhà nước, các tổ chức tập thể, các chủ thể được trao quyền sử dụng CDĐL vẫn chưa được thể hiện trong hệ thống quy phạm pháp luật. Bên cạnh đó, nghiên cứu cũng chỉ ra rằng vai trò của các tổ chức tập thể trong quá trình xây dựng, quản lý và phát triển CDĐL còn hạn chế, chủ yếu mới ở mức tham gia hỗ trợ. Trên cơ sở các phát hiện, những khuyến nghị về quản lý và các chính sách hỗ trợ nhằm phát huy vai trò của các tổ chức trong xây dựng, quản lý và phát triển CDĐL cũng được đề cập trong nghiên cứu này.

    DOI: https://doi.org/10.71254/a5ecv653
  • ĐẶC ĐIỂM HÌNH THÁI VÀ TÍNH CHẤT LÝ - HÓA HỌC CỦA 3 BIỂU LOẠI ĐẤT PHÙ SA LÊN LIẾP Ở ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG

    Abstract : 14 PDF: 11
    Lê Văn Dang, Quách Trần Tiều Hưng, Ngô Phương Ngọc, Nguyễn Thị Kiều Linh, Ngô Ngọc Hưng
    13-22

    Nghiên cứu được thực hiện qua khảo sát hình thái và phân tích tính chất lý - hóa học trên các phẫu diện đất đại diện 3 biểu loại đất phù sa lên liếp ở ĐBSCL, bao gồm đất phù sa cổ, phù sa ven sông và phù sa xa sông với mục tiêu làm cơ sở cho sử dụng và quản lý đất một cách phù hợp. Thời gian thực hiện khảo sát và phân tích mẫu đất từ tháng 12/2020 đến 5/2021. Kết quả nghiên cứu cho thấy, trong 3 phẫu diện đất phù sa được khảo sát, đất được phân thành 4 tầng đất phát sinh, gồm: A, Ap, Bg và Cr ở độ sâu 200 cm kể từ lớp đất mặt, theo thứ tự. Nhóm đất phù sa cổ và phù sa ven sông có độ sâu tầng A trong khoảng 0-20 cm, đất phát triển cấu trúc ở các tầng A và Ap, cấu trúc đất phát triển trung bình ở tầng Bg. Trong khi nhóm đất phù sa xa sông có tầng A dày (0-50 cm) không có cấu trúc hoặc cấu trúc phát triển yếu. Xuyên suốt trong phẫu diện của đất phù sa cổ, các tầng phát sinh có chứa hàm lượng chất hữu cơ và sét thấp, đưa đến giá trị CEC trong đất thấp, thêm vào đó hàm lượng các dinh dưỡng có trong đất như: lân hữu dụng, Ca2+, K+ và Mg2+ trong đất nghèo, do đó đất phù sa cổ chứa lượng dinh dưỡng khoáng chỉ đạt khoảng 25% so với hai nhóm đất còn lại. Đất phù sa ven sông có hàm lượng sét khoảng 45%, tính chất vật lý này là yếu tố quan trọng vì nó tạo độ thông thoáng cho rễ cây trồng phát triển. Bên cạnh đó, hàm lượng chất hữu cơ, CEC và các cation trao đổi thể hiện độ phì cao, thuận lợi cho canh tác cây ăn trái.

    DOI: https://doi.org/10.71254/7byk7d04
  • PHÂN LẬP, ĐỊNH DANH VÀ ĐÁNH GIÁ KHẢ NĂNG GÂY HẠI CỦA CÁC CHỦNG NẤM FUSARIUM SPP. GÂY BỆNH HÉO RŨ TRÊN MÈ (Sesamum indicum L.) TẠI HUYỆN CHÂU PHÚ, TỈNH AN GIANG

    Abstract : 13 PDF: 10
    Cao Thị Thùy Trang, Lê Vĩnh Thúc, Lý Ngọc Thanh Xuân, Trần Ngọc Hữu, Nguyễn Quốc Khương
    23-30

    Nghiên cứu được thực hiện nhằm mục tiêu: (i) tuyển chọn các chủng nấm Fusarium spp. gây bệnh héo rũ trên cây mè trồng trên đất phù sa trong đê; (ii) tìm ra dòng nấm gây bệnh héo rũ trên cây mè. Hai mươi mẫu thân và đất vùng rễ cây mè bị nhiễm bệnh được thu tại huyện Châu Phú, tỉnh An Giang để phân lập nấm bệnh. Thí nghiệm hoàn toàn ngẫu nhiên gồm 12 nghiệm thức là 11 chủng nấm gây bệnh và nghiệm thức đối chứng, được chủng vào cây mè bằng hai cách là chủng nấm bệnh vào đất và áo trên hạt, với 4 lặp lại. Kết quả phân lập được 28 chủng Fusarium spp. từ mẫu thân và đất vùng rễ cây mè bị bệnh, trong đó tuyển chọn được 11 chủng nấm Fusarium spp. gây bệnh héo rũ trên mè, với kết quả định danh là nấm F. falciforme F12.1A, F. solani F16.3B và F. oxysporum F28.1A gây bệnh héo rũ trên mè khi bổ sung trực tiếp vào đất và phương pháp áo trên hạt, với tỷ lệ gây bệnh của các dòng lên đến 60 - 85%.

    DOI: https://doi.org/10.71254/qbj7x584
  • TUYỂN CHỌN VÀ XÁC ĐỊNH MẬT ĐỘ, LƯỢNG BÓN ĐẠM HỢP LÝ ĐỐI VỚI GIỐNG LÚA TRIỂN VỌNG TẠI THÁI BÌNH

    Abstract : 10 PDF: 12
    Phạm Thị Bích Liên, Lê Quý Tường, Hoàng Thị Thao
    31-37

    Nhằm mục tiêu tuyển chọn giống lúa thuần năng suất, chất lượng và xác định mật độ, lượng bón đạm hợp lý đối với giống lúa triển vọng tại Thái Bình. Thí nghiệm khảo nghiệm giống nhằm chọn các giống lúa triển vọng thực hiện trong vụ mùa 2020 và thí nghiệm kỹ thuật 2 nhân tố (mật độ và lượng đạm) được bố trí theo kiểu ô lớn ô nhỏ (Split - Plot Design), 3 lần lặp; gồm 9 công thức, mật độ: M30, M35, M40 (khóm/m2) và lượng bón đạm: N90, N110, N130 (kgN/ha) (Nền: 2 tấn phân HCVS Sông Gianh + 80 kg P2O5 + 80 kg K2O/ha) bố trí trong vụ xuân 2021. Kết quả xác định giống lúa triển vọng: giống Đông A2 có TGST 105 ngày (vụ mùa); năng suất TB cao (61,99  tạ/ha - vụ mùa), vượt giống BT7 là 16,7%; chất lượng gạo khá (tỷ lệ gạo nguyên 82,98%, hạt thon dài, ít bạc bụng), chất lượng cơm ngon khá (tổng điểm 14,1); cứng cây (điểm 5), ít nhiễm rầy nâu (điểm 1), không nhiễm bệnh đạo ôn cổ bông (điểm 0), ít nhiễm bệnh bạc lá (điểm 1). Mật độ cấy thích hợp cho giống Đông A2 là 40 cây/m2, lượng bón đạm 130 kgN/ha + nền bón: 2 tấn phân hữu cơ vi sinh + 80 kg P2O5 + 80 kg K2O/ha.

    DOI: https://doi.org/10.71254/fhc8y331
  • NGHIÊN CỨU ẢNH HƯỞNG CỦA PHÂN ĐẠM ĐẾN SINH TRƯỞNG, PHÁT TRIỂN VÀ NĂNG SUẤT CỦA GIỐNG LÚA TẢ CÙ TẠI PHONG THỔ, LAI CHÂU

    Abstract : 13 PDF: 11
    Hoàng Đăng Dũng, Nguyễn Thanh Tuấn, Nguyễn Văn Cương
    38-44

    Thí nghiệm được tiến hành tại xã Bản Lang, huyện Phong Thổ, tỉnh Lai Châu để xác định hiệu quả của phân đạm đến sinh trưởng, phát triển và năng suất của giống lúa Tả Cù trong vụ mùa 2018 và 2020. Thí nghiệm được tiến hành với 4 mức phân đạm khác nhau (0, 30, 60, 90 kg N/ha trên nền phân bón chung là 6 tấn phân chuồng, 60 kg P2O và 80 kg K2O). Thí nghiệm được bố trí theo khối ngẫu nhiên hoàn toàn (RCB) với 3 lần nhắc lại, diện tích ô thí nghiệm 18 m2. Kết quả cho thấy các đặc điểm sinh trưởng như: chiều cao cây, thời gian sinh trưởng, số nhánh tối đa, năng suất và các yếu tố cấu thành năng suất ở các mức bón đạm có sự khác nhau, trong đó mức bón 60 kg N/ha cho năng suất cao nhất (47,07 tạ/ha).

    DOI: https://doi.org/10.71254/dm0xvb59
  • ẢNH HƯỞNG CỦA PHÂN BÓN ĐẾN TÌNH TRẠNG DINH DƯỠNG VÀ NĂNG SUẤT ĐẬU PHỘNG (LẠC) TRÊN ĐẤT TRÀ VINH

    Abstract : 5 PDF: 7
    Nguyễn Thị Khánh Trân, Lê Hoàng Phương, Nguyễn Trọng Phước, Nguyễn Thị Lang
    45-53

    Mục tiêu nghiên cứu là đánh giá ảnh hưởng của phân bón đến tình trạng dinh dưỡng và năng suất đậu phộng. Thí nghiệm được thực hiện tại hai địa điểm: Cầu Ngang và Trà Cú, tỉnh Trà Vinh với hai giống đậu phộng MD7 và L14. Mỗi thí nghiệm có tám nghiệm thức, bao gồm: lượng phân bón (kg/ha) đang được áp dụng phổ biến (N, P, K, Ca, Mg); khuyết từng dưỡng chất N, P, K khi bón đủ Ca, Mg để đánh giá khả năng cung cấp N, P, K, Ca, Mg; bón phân N, P, K (30-60-40 kg/ha) thêm 100 kg canxi (Ca) hoặc magiê 35 kg (Mg), kiểm soát (không có bón phân) và bón theo công thức của nông dân (120-60-60 + 200 kg Ca). Thí nghiệm được bố trí theo các khối ngẫu nhiên đầy đủ với ba lần lặp lại. Các thông số được đánh giá là chiều cao, số lượng lá, các yếu tố cấu thành năng suất và năng suất hạt. Tình trạng dinh dưỡng N, P, K trong lá và hạt đậu phộng. Sử dụng phân bón đã tăng đáng kể số lượng lá, chiều cao cây, các yếu tố cấu thành năng suất và năng suất ở nghiệm thức F1 N, P, K (30-60-40 + 100 kg Ca/ha + 35 kg Mg/ha) ở cả hai địa điểm Trà Cú và Cầu Ngang. Ngoại trừ chỉ tiêu số lá/cây, hầu hết các yếu tố cấu thành năng suất còn lại và năng suất hạt của giống MD7 trội hơn L14.

    DOI: https://doi.org/10.71254/tynw2x10
  • NGHIÊN CỨU MỘT SỐ CHỈ TIÊU SINH LÝ, HÓA SINH LIÊN QUAN ĐẾN KHẢ NĂNG CHỊU HẠN CỦA MỘT SỐ GIỐNG NGÔ (Zea mays L.) Ở GIAI ĐOẠN CÂY CON

    Abstract : 5 PDF: 4
    Lê Văn Trọng, Lê Thị Lâm
    54-59

    Bài báo trình bày kết quả nghiên cứu một số chỉ tiêu sinh lý, hóa sinh liên quan đến khả năng chịu hạn của 4 giống ngô: KK17, LCH9, LCH07-2, LCH07-10 ở giai đoạn cây con. Kết quả thí nghiệm gây hạn nhân tạo cho thấy giống ngô LCH9 chịu hạn tốt nhất, có chỉ số chịu hạn tương đối đạt 3392,45, tiếp theo là giống KK17 đạt 3015,70, giống LCH07-10 đạt 2704,06, cuối cùng là giống LCH07-2 đạt 2562,71. Các giống ngô có khả năng chịu hạn tốt hơn là LCH9 và KK7 đều thể hiện sự vượt trội trong một số chỉ tiêu sinh lý, hóa sinh như khả năng giữ nước của lá, cường độ thoát hơi nước, hàm lượng nước trong lá, hàm lượng diệp lục tổng số, diệp lục liên kết, hàm lượng NH3, axit hữu cơ tổng số và vitamin C so với các giống ngô chịu hạn kém là LCH07-2, LCH07-10 ở cả công thức đối chứng và công thức thí nghiệm. Kết quả nghiên cứu này là cơ sở khoa học để đưa ra các giải pháp nhằm nâng cao khả năng chống chịu hạn của một số giống ngô trồng tại Việt Nam thông qua việc nâng cao các chỉ tiêu sinh lý, hóa sinh cho cây.

    DOI: https://doi.org/10.71254/kn1wrp63
  • PHÂN LẬP VÀ ĐÁNH GIÁ HIỆU LỰC ĐỐI KHÁNG CỦA VI KHUẨN Bacillus spp. ĐỐI VỚI NẤM Neoscytalidium dimidiatum GÂY BỆNH ĐỐM NÂU THANH LONG

    Abstract : 11 PDF: 10
    Nguyễn Thị Hai, Quách Hồng Thúy
    60-65

    Mục đích của nghiên cứu này là phân lập vi khuẩn Bacillus spp. và đánh giá khả năng đối kháng của các chủng phân lập được đối với nấm Neoscytalidium dimidiatum gây bệnh đốm nâu trên thanh long. Tám chủng Bacillus spp. phân lập từ 7 mẫu đất trồng thanh long đã được đánh giá khả năng phân giải chitin, cellulose và hiệu lực đối kháng với nấm N. dimidiatum trong điều kiện invitro. Kết quả cho thấy tám chủng Bacillus spp. phân lập được đều có khả năng phân giải chitin, cellulose và có hiệu lực đối kháng nấm N. dimidiatum từ 19,10% đến 76,9%. Trong đó, chủng BPS6, BTA7, BT06 và BTS5 đạt hiệu lực trên 70%. Kết quả định danh dựa trên tự trình tự gen 16S rRNA đã xác định BPS6 là B. subtilis và BTA7 là B. amyloliquefaciens.

    DOI: https://doi.org/10.71254/0ywa2a04
  • NGHIÊN CỨU HOẠT TÍNH KHÁNG NẤM CỦA CHIẾT XUẤT ETANOL TỪ RỄ CAM THẢO (Glycyrrhiza uralensis)

    Abstract : 11 PDF: 13
    Nguyễn Đăng Minh Chánh
    66-71

    Trong nghiên cứu này, rễ cây cam thảo (Glycyrrhiza uralensis) đã được sử dụng để chiết xuất bằng dung môi etanol và đánh giá khả năng kháng nấm của Glycyrrhiza uralensis với các chủng nấm Phytophthora capsici, Fusarium oxysporum, Fusarium solani, Rhizoctonia solani nuôi cấy trên môi trường PDB và PDA. Tỷ lệ ức chế sinh trưởng nấm của cao chiết thu được từ phân đoạn n-butanol cao nhất so với phân đoạn các dung môi n-hexane, chloroform, ethyl acetate và nước. GE thu được từ n-butanol có tỷ lệ ức chế P. capsici, F. oxysporum, F. solani và R. solani lần lượt là 70,8%, 57,2%, 66,2% và 61,8%. Hình thái sợi nấm F. solani bị biến dạng, các đỉnh đầu sợi nấm bị sưng phồng, đứt gãy sau khi xử lý 1 ngày với GE nồng độ 2%. Kết quả này cho thấy cao chiết từ rễ cam thảo có tiềm năng để sử dụng làm thuốc bảo vệ thực vật tuy nhiên cần nhiều nghiên cứu khác sâu hơn. 

    DOI: https://doi.org/10.71254/381pkc34
  • NGHIÊN CỨU XÂY DỰNG PHẦN MỀM QUẢN LÝ CƠ SỞ DỮ LIỆU NGUỒN GEN CÂY TRỒNG NÔNG NGHIỆP

    Abstract : 13 PDF: 12
    Nguyễn Tiến Hưng, Đới Hồng Hạnh, Lê Đình Sơn
    72-76

    Đến năm 2020, hệ thống bảo tồn quỹ gen cây trồng nông nghiệp đang lưu giữ khoảng 34.500 nguồn gen được thu thập trên cả nước và nhập nội. Hoạt động bảo tồn quỹ gen cây trồng nông nghiệp sinh ra một lượng dữ liệu tương đối lớn và phân tán, đa thuộc tính. Vì vậy, việc quản lý, cập nhật, khai thác sử dụng dữ liệu này gặp nhiều khó khăn nếu không có phần mềm chuyên dụng. Triển khai nội dung nghiên cứu thuộc đề tài KHCN cấp Quốc gia, Trung tâm Tài nguyên thực vật đã xây dựng phần mềm “Phần mềm quản lý cơ sở dữ liệu (CSDL) nguồn gen cây trồng nông nghiệp” trên nền tảng web sử dụng công nghệ .NET và Angular framework đáp ứng nhu cầu quản lý, chia sẻ CSDL nguồn gen cây trồng nông nghiệp và có thể liên kết được với CSDL khác. Phần mềm có thể hoạt động tốt trên tất cả các thiết bị có cài đặt trình duyệt web nên rất thuận lợi cho việc tra cứu, khai thác sử dụng cũng như quản lý CSDL nguồn gen cây trồng nông nghiệp tại Việt Nam.

    DOI: https://doi.org/10.71254/czaz6083
  • NGHIÊN CỨU CÔNG NGHỆ TÁCH SỢI TỪ BẸ CHUỐI BẰNG PHƯƠNG PHÁP CƠ HỌC

    Abstract : 6 PDF: 6
    Vũ Huy Đại, Tạ Thị Phương Hoa, Nguyễn Thế Nghiệp, Lê Xuân Ngọc, Vũ Mạnh Hải
    77-83

    Bài báo trình bày kết quả nghiên cứu xác định một số thông số công nghệ tách sợi từ bẹ chuối bằng phương pháp cơ học trên thiết bị tách sợi TS.HĐ.HN.01; ảnh hưởng của tốc độ biến tần 25, 30, 35 Hz tương ứng với các cấp độ vòng quay của động cơ 750 vòng/phút; 900 vòng/phút; 1.050 vòng/phút đến tỷ lệ tách sợi. Kết quả cho thấy với tốc độ quay 900 vòng/phút tương ứng với tốc độ biến tần 30 Hz thì tỷ lệ tách sợi khô đạt giá trị cao nhất là 2,66%; xây dựng được quy trình công nghệ tách sợi bằng phương pháp cơ học. Xác định kích thước sợi chuối đơn sau khi tách sợi có chiều dài từ 200 mm đến 250 mm, đường kính từ 35 - 45 µm; xác định tính chất cơ lý sợi xe chuối bao gồm độ săn của sợi xe, độ bền sợi, độ giãn sợi xe, độ đều sợi xe đối với sợi xe chuối trong các trường hợp có đường kính 1 mm, 3 mm. Sợi chuối xe đáp ứng tốt yêu cầu làm nguyên liệu sản xuất hàng thủ công mỹ nghệ.

    DOI: https://doi.org/10.71254/mdjd0887
  • ẢNH HƯỞNG CỦA NHIỆT ĐỘ VÀ THỜI GIAN ĐẾN QUÁ TRÌNH LÊN MEN HẠT CA CAO CHẤT LƯỢNG TẠI CHÂU THÀNH, BẾN TRE

    Abstract : 15 PDF: 10
    Lâm Thị Việt Hà, Phan Thị Bích Trâm, Trương Trọng Ngôn, Hà Thanh Toàn
    84-92

    Lên men hạt rất quan trọng cho quá trình tiền sinh hương vị thơm ngon của các sản phẩm ca cao. Sự lên men cũng làm giảm độ chua và axit béo tự do. Thí nghiệm khảo sát điều kiện tối ưu của yếu tố nhiệt độ và thời gian trong quá trình lên men hạt ca cao, trồng tại Châu Thành, Bến Tre. Nhiệt độ khoảng khảo sát 35oC; 40oC; 45oC; 50oC; thời gian lên men từ 0 đến 8 ngày. Thí nghiệm đồng thời khảo sát sự thay đổi các chỉ tiêu hóa lý - vi sinh vật đặc trưng trong quá trình lên men hạt ca cao. Các chỉ tiêu được ghi nhận theo phương pháp chuẩn AOAC, TCVN 7519 : 2005. Kết quả ghi nhận hạt ca cao đạt chất lượng tốt nhất trong điều kiện lên men nhiệt độ 40oC trong thời gian 6 ngày. Tương ứng với các chỉ tiêu lý hóa sau quá trình lên men đạt chất lượng hạt tốt nhất với độ ẩm 44,68%; pH hạt đạt 5,46; hàm lượng axit ở mức thấp 0,16%; hàm lượng axit béo tự do đạt mức cho phép 0,84%; hệ vi sinh vật (vi khuẩn, nấm men) phát triển mạnh, tạo điều kiện thuận lợi cho quá trình sinh hương cho hạt ca cao. Kết quả đề tài thúc đẩy sự phục hồi và phát triển ngành nông nghiệp trồng cây ca cao và xuất khẩu hạt ca cao chất lượng Việt Nam.   

    DOI: https://doi.org/10.71254/155nk975
  • TỐI ƯU HÓA CÁC ĐIỀU KIỆN SẤY PHUN DỊCH CHIẾT TỪ HÀNH ĐEN

    Abstract : 5 PDF: 4
    Trần Phương Chi, Nguyễn Tân Thành, Hoàng Thị Lệ Hằng
    93-99

    Tối ưu hóa điều kiện sấy phun dịch chiết từ hành đen bằng phương pháp bề mặt đáp ứng theo mô hình Box-behken, thực nghiệm quá trình sấy phun trên thiết bị Buchi B290 mini spray dryer. Nghiên cứu ảnh hưởng của ba yếu tố là tỷ lệ maltodextrin, nhiệt độ tác nhân sấy và tốc độ bơm dịch đến hàm lượng tổng flavonoid, hoạt tính kháng oxi hóa và độ ẩm của sản phẩm. Các thông số tối ưu cho quá trình sấy phun dịch chiết từ hành đen được xác định là nhiệt độ đầu vào của khí nóng 174oC, tỷ lệ maltodextrin 9,6% và tốc độ bơm dịch 20 ml/phút. Hàm lượng tổng flavonoid, hoạt tính kháng oxi hóa và độ ẩm sản phẩm khi tiến hành thực nghiệm tại điều kiện tối ưu đạt giá trị 3,12±0,08 mgQE/g, 52±0,1%, 5,25±0,1%.

    DOI: https://doi.org/10.71254/cq25cb03
  • CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN ÁP DỤNG NUÔI TRỒNG THỦY SẢN THÍCH ỨNG THÔNG MINH VỚI BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU KHU VỰC DUYÊN HẢI BẮC TRUNG BỘ

    Abstract : 14 PDF: 10
    Trịnh Quang Tú, Cao Lệ Quyên, Phan Phương Thanh, Nguyễn Đức Trung, Lê Thanh Nghị
    100-106

    Nghiên cứu này ứng dụng mô hình probit đánh giá mức độ ảnh hưởng của các yếu tố đến quyết định áp dụng mô hình nuôi trồng thủy sản thích ứng thông minh với BĐKH (CSAq) của hộ gia đình vùng Bắc Trung bộ. Dữ liệu nghiên cứu được thu thập thông qua phỏng vấn 88 và 94 hộ gia đình áp dụng và và chưa áp dụng mô hình CSAq tại 5 huyện ven biển tỉnh Thanh Hóa. Kết quả chỉ ra 6 yếu tố chính có ảnh hưởng đến quyết định áp dụng mô hình CSAq của hộ gia đình: (i) lao động gia đình sẵn có; (ii) khả năng tiếp cận thông tin về mô hình CSAq; (iii) giá bán sản phẩm; (iv) hiệu quả kinh tế; (v) khả năng cải thiện môi trường ao nuôi; và (vi) đảm bảo an ninh lương thực. Các yếu tố này giải thích được 69,41% việc ra quyết định áp dụng CSAq của hộ nuôi, trong đó, hiệu quả kinh tế, giá bán sản phẩm và khả năng tiếp cận thông tin về CSAq là những yếu tố quan trọng với mức độ ảnh hưởng tương ứng 30,2%, 16,0% và 14,9%. Kết quả hàm ý tăng cường thông tin về mô hình CSAq và nâng cao hiểu biết kỹ thuật CSAq là những giải pháp quan trọng thúc đẩy áp dụng nhân rộng mô hình CSAq khu vực ven biển Bắc Trung bộ.

    DOI: https://doi.org/10.71254/qtnmyk60
  • HIỆN TRẠNG, TIỀM NĂNG VÀ THÁCH THỨC CỦA NGHỀ NUÔI TÔM Ở HUYỆN CẦN GIỜ, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

    Abstract : 12 PDF: 11
    Nguyễn Văn Tú, Trần Văn Tiến, Võ Văn Phẳng
    107-117

    Nghề nuôi tôm ở huyện Cần Giờ khởi phát từ những năm 1980 và luôn đóng vai trò quan trọng trong hoạt động sản xuất nông nghiệp – thủy sản của TP Hồ Chí Minh. Nghiên cứu thực hiện từ tháng 12/2019 đến tháng 12/2020 nhằm đánh giá hiện trạng nuôi tôm, tiềm năng và thách thức của hoạt động nuôi tôm ở huyện Cần Giờ thông qua thu thập dữ liệu thứ cấp, sơ cấp dựa trên phỏng vấn các nhà quản lý và các hộ dân. Kết quả nghiên cứu cho thấy nghề nuôi tôm ở huyện Cần Giờ có xu hướng chuyển dịch từ nuôi tôm sú sang tôm thẻ chân trắng; từ nuôi tôm sú thâm canh, bán thâm canh, quảng canh cải tiến sang nuôi sinh thái; từ nuôi tôm thẻ chân trắng thâm canh sang siêu thâm canh và bán thâm canh. Năng suất trung bình nuôi tôm thẻ chân trắng theo các hình thức nuôi từ 4,56 – 19,29 tấn/ha và tôm sú dao động từ 0,25 – 2,72 tấn/ha. Tỷ suất lợi nhuận trung bình của các mô hình nuôi tôm thẻ chân trắng là 0,36 – 0,75 lần và tôm sú là 0,68 – 2,19 lần. Nghề nuôi tôm trên địa bàn huyện Cần Giờ có nhiều điều kiện thuận lợi để phát triển, bao gồm các điều kiện tự nhiên, thị trường tiêu thụ sản phẩm, các chính sách quản lý ưu tiên phát triển thủy sản của TP Hồ Chí Minh. Tuy nhiên, nghề nuôi tôm tại Cần Giờ cũng phải đối mặt với nhiều thách thức về cơ sở hạ tầng nuôi, môi trường nuôi, biến động giá nguyên liệu đầu vào cho quá trình nuôi, dịch bệnh và cả vấn đề cơ cấu sử dụng đất. Để nghề nuôi tôm ở Cần Giờ duy trì và phát triển, cần có các nghiên cứu sâu hơn đề xuất các giải pháp quản lý dịch bệnh trên tôm, quản lý diện tích đất nuôi trồng thủy sản. Ngoài ra, việc tìm kiếm và tối ưu hóa quy trình nuôi tôm nhằm đảm bảo tính bền vững của mô hình và mang tới lợi nhuận ổn định cho người nuôi tôm cần được tiếp tục thúc đẩy.

    DOI: https://doi.org/10.71254/arfdmr27
  • CHẤT LƯỢNG MÔI TRƯỜNG NƯỚC AO NUÔI THÂM CANH VÀ BÁN THÂM CANH TÔM THẺ CHÂN TRẮNG (Litopenaeus vannamei) Ở HUYỆN TRẦN ĐỀ, TỈNH SÓC TRĂNG

    Abstract : 8 PDF: 6
    Trần Đình Duy, Trịnh Phước Toàn, Nguyễn Thị Ngọc Diệu, Trần Sỹ Nam, Ngô Thụy Diễm Trang
    118-128

    Diễn biến môi trường nước trong các ao nuôi thâm canh (TC) và bán thâm canh (BTC) tôm thẻ chân trắng (Litopenaeus vannamei) ở huyện Trần Đề, tỉnh Sóc Trăng được đánh giá nhằm làm cơ sở giúp cho người nuôi và các nhà quản lý đề ra những giải pháp thích hợp quản lý môi trường ao nuôi được thành công và bền vững. Mẫu nước được thu và đánh giá từ đầu đến cuối vụ nuôi với tần suất thu mẫu 1 tuần/1 lần trong thời gian 12/2020-4/2021. Chất lượng nước trong các ao đều được người nuôi duy trì ở ngưỡng thích hợp cho tôm thẻ chân trắng sinh trưởng và nằm trong quy định của QCVN 02-19:2014/BNNPTNT. Giá trị trung bình trong môi trường nước ao TC và BTC tương ứng: nhiệt độ (27,2 và 27,5°C), pH (8,3 và 8,2), DO (5,5 và 5,0 mg/L), EC (19,1 và 8,2 mS/cm), độ mặn (12,4 và 5,9‰), độ kiềm (227,7 và 160,7 mg CaCO3/L), COD (14,1 và 16,6 mg/L), N-NO2- (2,29 và 0,95 mg/L), N-NO3- (0,15 mg/L), N-NH4+ (1,3 và 0,63 mg/L), P-PO43- (0,19 và 0,11 mg/L), TP (0,61 và 0,75 mg/L) và TKN (3,78 và 3,47 mg/L). Trong đó, chỉ có giá trị EC, độ mặn, độ kiềm, DO và N-NO2- trong ao nuôi thâm canh cao hơn so với ao nuôi bán thâm canh. Việc sử dụng thức ăn hiệu quả tránh tình trạng dư thừa và sử dụng các loại men vi sinh định kỳ để kiểm soát nồng độ N-NO2- luôn ở mức phù hợp cho tôm nuôi là thực sự cần thiết.

    DOI: https://doi.org/10.71254/jcfbf294
  • NGHIÊN CỨU KHẢ NĂNG HẤP PHỤ AMONI TRONG MÔI TRƯỜNG NƯỚC CỦA THAN SINH HỌC TỪ TRÀM

    Abstract : 5 PDF: 6
    Phạm Ngọc Thoa, Tăng Lê Hoài Ngân, Đặng Thị Minh Thùy, Nguyễn Đạt Phương, Đỗ Thị Mỹ Phượng, Nguyễn Xuân Lộc, Nguyễn Hữu Chiếm
    129-136

    Mục tiêu của nghiên cứu này là loại bỏ ion amoni khỏi dung dịch bằng cách sử dụng than sinh học tràm (than tràm). Một số tính chất vật lý của than tràm được xác định bằng cách chụp ảnh SEM và đo diện tích bề mặt (BET). Ảnh hưởng của các yếu tố như pH dung dịch, liều lượng chất hấp phụ, thời gian tiếp xúc và nồng độ amoni ban đầu đến sự hấp phụ amoni của than tràm đã được nghiên cứu. Số liệu thực nghiệm phù hợp với hai mô hình hấp phụ đẳng nhiệt là Langmuir và Freundlich. Đường đẳng nhiệt Langmuir có sự tương ứng tốt hơn so với đường đẳng nhiệt Freundlich. Kết quả nghiên cứu cho thấy các điều kiện tối ưu cho sự hấp phụ ion amoni đạt hiệu quả là pH 7, thời gian tiếp xúc 120 phút với liều lượng chất hấp phụ là 1 g/L. Khả năng hấp phụ amoni tối đa của than sinh học tràm là 3,24 mg/g.

    DOI: https://doi.org/10.71254/ycb1n418
  • MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM LÂM HỌC CỦA LÂM PHẦN NƠI LOÀI MẠY CHẢ (Arundinaria sp.) PHÂN BỐ TẠI TỈNH ĐIỆN BIÊN

    Abstract : 11 PDF: 12
    Nguyễn Văn Diện, Lê Xuân Trường, Lê Hồng Liên
    137-143

    Nghiên cứu tiến hành trên 8 ô tiêu chuẩn bố trí tại 2 trạng thái rừng có Mạy chả phân bố tại huyện Điện Biên và Điện Biên Đông, tỉnh Điện Biên. Kết quả cho thấy tầng cây cao có các giá trị bình quân D1,3 dao động từ  11,95 cm  đến 23,51 cm; Hvn từ 9,25 m đến 24,07 m; Hdc từ 4,72 m đến 15,81 m và Dt từ 2,70 m đến 7,42 m; mật độ tầng cây cao dao động từ 200 cây/ha đến 380 cây/ha. Chất lượng cây rừng có số cây tốt chiếm tỷ lệ khá cao. Rừng tái sinh sau nương rẫy cây sinh trưởng tốt hơn ở rừng phục hồi thường xanh. Tổ thành tầng cây cao khá đa dạng và phong phú, đa số là các loài cây ưa sáng với các loài cây phổ biến như Dẻ trắng, Vối thuốc, Hu đay và Ba soi. Độ tàn che tầng cây cao dao động từ 0,3 đến 0,9 trong đó độ tàn che của tầng cây cao của trạng thái rừng tái sinh sau nương rẫy thấp chỉ từ 0,3 đến 0,4 còn độ tàn che ở trạng thái rừng thường xanh khá cao, đạt từ 0,8 đến 0,9. Tổng tiết diện ngang tầng cây cao dao động từ 9,0 m2/ha đến 52,0 m2/ha và có sự khác nhau giữa hai địa điểm nghiên cứu. Các trạng thái rừng có trữ lượng dao động từ 37,3 m3/ha đến 563,33 m3/ha. Các trạng thái rừng có trữ lượng rất đa dạng, từ rừng nghèo kiệt đến rừng giàu. Tại huyện Điện Biên tổng tiết diện ngang và trữ lượng rừng ở cả hai trạng thái rừng đều cao hơn các giá trị này tại huyện Điện Biên Đông.

    DOI: https://doi.org/10.71254/9twp5h11
  • HIỆN TRẠNG QUẦN THỂ VOI CHÂU Á (Elephas maximus Linnaeus, 1758) Ở HUYỆN BẮC TRÀ MY VÀ HIỆP ĐỨC, TỈNH QUẢNG NAM

    Abstract : 12 PDF: 12
    Nguyễn Đình Duy, Đặng Huy Phương, Phạm Thế Cường, Nguyễn Thế Cường, Lý Ngọc Tú, Vũ Thùy Dương, Phan Quang Tiến, Nguyễn Thị Hồng Mai, Từ Văn Khánh
    144-149

    Nghiên cứu điều tra hiện trạng loài Voi châu Á ở hai huyện Bắc Trà My và Hiệp Đức, tỉnh Quảng Nam được thực hiện trong năm 2020 - 2021. Kết quả nghiên cứu đã xác định ở khu vực nghiên cứu hiện có 1 quần thể với 2 cá thể Voi cái, trong đó 1 Voi cái trưởng thành khoảng 40 - 45 tuổi và 1 Voi cái bán trưởng thành khoảng 20 - 25 tuổi. Khu vực sinh sống và hoạt động của đàn Voi có diện tích khoảng 3.500 ha, sinh cảnh chủ yếu là rừng tự nhiên nghèo kiệt bị tác động mạnh và rừng trồng. Đàn Voi đang bị suy thoái nghiêm trọng do không có khả năng sinh sản, sinh cảnh sống đang bị tác động và xung đột với người dân địa phương.

    DOI: https://doi.org/10.71254/446aav41
  • ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ THỰC HIỆN QUY HOẠCH SỬ DỤNG ĐẤT THỜI KỲ 2010-2020 LƯU VỰC SÔNG NHẬT LỆ, TỈNH QUẢNG BÌNH

    Abstract : 5 PDF: 4
    Nguyễn Đức Cường, Nguyễn Quang Học
    150-160

    Nghiên cứu nhằm đánh giá kết quả và đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả thực hiện quy hoạch sử dụng đất (QHSDĐ) huyện: Lệ Thủy, Quảng Ninh và TP. Đồng Hới thuộc lưu vực sông Nhật Lệ, Quảng Bình. Các phương pháp nghiên cứu sử dụng là: điều tra số liệu thứ cấp, điều tra sơ cấp, đánh giá theo thang đo 5 cấp của Likert, đánh giá theo độ lệch giữa quy hoạch và thực hiện. Kết quả cho thấy (i) giai đoạn 2011-2015, trong số 36 chỉ tiêu sử dụng đất (SDĐ) có 11 chỉ tiêu (chiếm 30,56%) đạt mức thực hiện rất tốt, gồm 2 chỉ tiêu đất nông nghiệp, 9 chỉ tiêu đất phi nông nghiệp. Có 7 chỉ tiêu (chiếm 19,14%) đạt mức thực hiện tốt, gồm 6 chỉ tiêu đất nông nghiệp, 1 chỉ tiêu đất phi nông nghiệp. Có 15 chỉ tiêu SDĐ (chiếm 41,67%) thực hiện ở mức rất kém, trong đó có tới 12 chỉ tiêu đất phi nông nghiệp, đất nông nghiệp 3 chỉ tiêu. Số lượng công trình bị hủy bỏ là 169/1460, chiếm 11,58%. (ii) Giai đoạn 2016-2020, trong 35 chỉ tiêu SDĐ có 10 chỉ tiêu (chiếm 28,57%) đạt mức thực hiện rất tốt, gồm 4 chỉ tiêu đất nông nghiệp, 5 chỉ tiêu đất phi nông nghiệp và đất chưa sử dụng 1 chỉ tiêu. Có 4 chỉ tiêu (chiếm 11,43%) đạt mức thực hiện tốt, gồm 2 chỉ tiêu đất nông nghiệp, 2 chỉ tiêu đất phi nông nghiệp. Có 13 chỉ tiêu SDĐ (chiếm 37,14%) thực hiện ở mức rất kém, trong đó 12 chỉ tiêu đất phi nông nghiệp, đất nông nghiệp 1 chỉ tiêu. Số lượng công trình bị hủy bỏ là 142/1376, chiếm 10,32%. Kết quả điều tra 90 cán bộ công chức, viên chức cho thấy: trong 16 tiêu chí có 5 tiêu chí được đánh giá ở mức độ rất tốt, 2 tiêu chí được đánh giá ở mức độ trung bình và 1 tiêu chí ở mức độ thấp. Có 8 tiêu chí được đánh giá ở mức tốt. Để nâng cao hiệu quả thực hiện QHSDĐ cần thực hiện đồng bộ các giải pháp sau: Nâng cao chất lượng phương án QHSDĐ; giải pháp về đầu tư; khai thác và sử dụng hiệu quả quỹ đất; tăng cường quản lý việc thực hiện QHSDĐ.

    DOI: https://doi.org/10.71254/gf6nfd23
  • RỦI RO SỨC KHỎE CON NGƯỜI DO Ô NHIỄM CÁC DẠNG ION VÔ CƠ CỦA NITƠ TRONG NƯỚC DƯỚI ĐẤT TẠI HUYỆN NAM TRỰC, TỈNH NAM ĐỊNH

    Abstract : 6 PDF: 6
    Trịnh Thị Thắm, Nguyễn Thị Nguyệt, Nguyễn Thị Quyên, Lê Thị Trinh
    161-168

    Theo kết quả điều tra của Trung tâm Quy hoạch Điều tra tài nguyên nước Quốc gia, trữ lượng và chất lượng nước dưới đất tại tỉnh Nam Định đang có xu hướng suy giảm trong những năm gần đây. Nghiên cứu này tập trung đánh giá mức độ ô nhiễm một số chỉ tiêu cơ bản trong nước dưới đất tầng Holocen cũng như các tác động đến sức khỏe của người dân tại vùng ven sông Hồng thuộc huyện Nam Trực, tỉnh Nam Định. Kết quả nghiên cứu chỉ ra hàm lượng amoni, nitrit trong nước dưới đất tầng Holocen tại hầu hết các điểm lấy mẫu đều vượt giá trị giới hạn cho phép quy định tại QCVN 09 - MT: 2015/BTNMT. Giá trị độ cứng tổng cũng cho biết nước dưới đất tại Nam Trực thuộc loại nước cứng và nước cứng mức độ cao. Bên cạnh đó, nghiên cứu đã tính toán liều lượng phơi nhiễm qua da nhằm đánh giá rủi ro sức khỏe con người thông qua chỉ số độc hại HQ của các ion NH4+, NO2-, NO3-. Kết quả là chỉ số HQ của các ion N trong nước dưới đất dao động từ 10-5 đến nhỏ hơn 10-1, tương ứng với mức rủi ro thấp, chưa gây ảnh hưởng đáng kể đến sức khỏe con người.

    DOI: https://doi.org/10.71254/jcbcjn50