Số 12 (2021)

					Xem Số 12 (2021)
Đã Xuất bản: 30-06-2021

Bài viết

  • ẢNH HƯỞNG CỦA UNICONAZOLE VÀ BIỆN PHÁP KÍCH THÍCH TRỔ HOA ĐẾN SỰ RA HOA XOÀI CÁT CHU (Mangifera indica L.)

    Abstract : 4 PDF: 5
    Trịnh Thanh Phúc, Trần Văn Hâu
    3-9

    Nghiên cứu nhằm xác định ảnh hưởng của nồng độ Uniconazole (UCZ) và biện pháp kích thích trổ hoa đến sự ra hoa giống xoài cát Chu với hai thí nghiệm thực hiện trên vườn của nông dân tại thành phố Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp và huyện Vũng Liêm, tỉnh Vĩnh Long từ tháng 12 năm 2019 đến tháng 11 năm 2020. Các thí nghiệm đồng ruộng bố trí theo khối ngẫu nhiên đầy đủ, 4 lần lặp lại, 4 nghiệm thức khác nhau về hoạt chất sử dụng trong đó ngoài đối chứng dùng PBZ1,5-T, 3 nghiệm thức còn lại sử dụng UCZ với chất phụ trợ khác nhau trong đó nghiệm thức 4 có kết hợp với biện pháp khoanh cành, thực hiện vào thời điểm 5-7 ngày sau khi xử lý UCZ. Kết quả cho thấy nghiệm thức UCZ1.500 -KKh cho tỷ lệ ra hoa, số quả/cây, khối lượng quả/cây và năng suất cao hơn đáng kể so với đối chứng (gấp 1,2 lần tại TP. Cao Lãnh và 1,9 lần tại huyện Vũng Liêm) trong khi chất lượng quả không thay đổi.

    DOI: https://doi.org/10.71254/bd9zef19
  • ĐẶC ĐIỂM NÔNG SINH HỌC CỦA GIỐNG BƯỞI THỒ TRỒNG TẠI PHÚ XUYÊN, HÀ NỘI

    Abstract : 6 PDF: 4
    Đoàn Thu Thủy, Đặng Thị Mỹ Linh, Phạm Thị Ngọc, Hoàng Đăng Dũng, Nguyễn Quỳnh Giang
    10-15

    Bưởi được trồng hầu khắp các tỉnh, thành trong cả nước với tên gọi thường gắn với địa danh từng vùng miền như: bưởi Đoan Hùng - Phú Thọ, bưởi Diễn - Từ Liêm - Hà Nội, bưởi Phúc Trạch - Hương Khê - Hà Tĩnh, bưởi Thanh Trà - Huế, bưởi Năm Roi - Vĩnh Long… Giống bưởi Thồ là nguồn gen cây ăn quả có múi quý, được phát hiện và phát triển tại vùng Bạch Hạ - Phú Xuyên – Hà Nội. Nghiên cứu đặc điểm nông sinh học các nguồn gen bản địa làm nền tảng cho việc xây dựng quy trình công nghệ có ý nghĩa quan trọng trong việc phát triển vùng sản xuất. Nghiên cứu được tiến hành trong 2 năm 2020 và 2021, trên các vườn bưởi gia đình 5 -6 năm tuổi. Kết quả cho thấy giống bưởi Thồ có tán cây dạng mâm xôi, cây tương đối cao (từ 3,3 đến 8,5 m tùy theo độ tuổi), bộ tán khá rộng và khỏe (đường kính tán trung bình 7,8 m), lá thuôn dài, đỉnh lá nhọn, màu xanh đậm, gần cuống lá xẻ 2 thùy, quả thuôn dài hình bầu dục, to vừa phải (1,1 – 1,3 kg), vỏ nhẵn, khi chín có màu vàng sáng, khá nhiều hạt (bình quân 45 hạt/quả), tỷ lệ phần ăn được ở mức trung bình (56,6%). Đáng chú ý là giống bưởi Thồ có vị ngọt thanh (độ Brix trên dưới 10,6%), múi tương đối ráo và dễ tách, tép màu vàng đậm và có vị thơm. 

    DOI: https://doi.org/10.71254/ky5rfc10
  • ẢNH HƯỞNG CỦA ĐỘ TUỔI VÀ CHIỀU CAO GỐC GHÉP ĐẾN MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM HÌNH THÁI CÂY ỚT CAY GHÉP TẠI TỈNH ĐỒNG THÁP

    Abstract : 10 PDF: 10
    Trần Ngọc Chi, Trương Trọng Ngôn
    16-23

    Thí nghiệm được thực hiện nhằm tìm hiểu ảnh hưởng của gốc ghép lên cành ghép cũng như sự thay đổi của cây ghép so với cành ghép đối chứng như thế nào. Hai giống ớt có kiểu hình tương phản gồm Sừng trái to và Ớt Cay trái nhỏ đã được ghép với nhau với giống Sừng được dùng làm gốc ghép và giống Ớt Cay dùng làm cành ghép. Thí nghiệm đã tiến hành ghép ở 3 độ tuổi gốc ghép 50 ngày với độ cao gốc ghép 15 cm và 20 cm, 60 ngày ở 20 cm và 25 cm và 70 ngày ở 25 cm và 30 cm. Kết quả khảo sát sự thay đổi ở cây ghép ở thế hệ T1 cho thấy rằng tuổi gốc ghép cho tỷ lệ thành công cao là 50 ngày và 60 ngày tuổi. Kết quả cho thấy các tính trạng như chiều dài lá, chiều rộng lá, chiều dài trái, chiều rộng trái, khối lượng trái, số hạt trên trái, khối lượng hạt trên trái ở độ tuổi ghép 60 ngày ở độ cao gốc ghép 20 cm cho kết quả có sự thay đổi trên nhiều tính trạng đã quan sát hơn ở các nghiệm thức ghép còn lại. Vì vậy để tạo ra cây ớt ghép có sự thay đổi và thay đổi theo hướng cải tiến các tính trạng năng suất của cành ghép có thể tiến hành ghép ở độ tuổi 60 ngày và độ cao của gốc ghép là 20 cm.

    DOI: https://doi.org/10.71254/v5yb8889
  • ẢNH HƯỞNG CỦA VI KHUẨN CỐ ĐỊNH ĐẠM RHODOBACTER SPHAEROIDES ĐẾN NĂNG SUẤT LÚA TRỒNG TRÊN ĐẤT MẶN HUYỆN HỒNG DÂN, TỈNH BẠC LIÊU TRONG ĐIỀU KIỆN NHÀ LƯỚI

    Abstract : 6 PDF: 7
    Nguyễn Quốc Khương, Nguyễn Văn Đức, Trần Ngọc Hữu, Nguyễn Hồng Huế, Lê Vĩnh Thúc, Trần Chí Nhân, Phạm Duy Tiễn, Lý Ngọc Thanh Xuân
    24-29

    Nghiên cứu thực hiện nhằm mục tiêu (i) xác định được hiệu quả của vi khuẩn quang dưỡng không lưu huỳnh màu tía (PNSB) có khả năng cố định đạm đến sinh trưởng và năng suất lúa trong điều kiện mặn và (ii) xác định ảnh hưởng của dòng vi khuẩn bổ sung khi giảm lượng phân đạm vô cơ trên đất nhiễm mặn đến năng suất hạt lúa. Thí nghiệm hai nhân tố được bố trí khối hoàn toàn ngẫu nhiên với nhân tố thứ nhất là bốn mức độ bón đạm (0, 50, 75 và 100% đạm so với khuyến cáo) và nhân tố thứ hai là vi khuẩn quang dưỡng không lưu huỳnh màu tía có khả năng cố định đạm (không bổ sung vi khuẩn, bổ sung vi khuẩn dòng đơn vi khuẩn R. sphaeroides W22, bổ sung vi khuẩn dòng đơn vi khuẩn R. sphaeroides W32, hai dòng đơn vi khuẩn R. sphaeroides W22 và W32, với mật số 2,0394 x 105 CFU g-1 đất khô), với bốn lần lặp lại. Kết quả thí nghiệm cho thấy, giảm 25% phân đạm so với khuyến cáo đã dẫn đến giảm chiều cao cây, chiều dài bông, số bông chậu-1, số hạt bông-1, tỉ lệ hạt chắc và năng suất lúa trồng trên đất mặn. Sử dụng dòng đơn vi khuẩn W22, W32 hoặc hỗn hợp hai dòng vi khuẩn W22 và W32 giúp tăng chiều cao cây, chiều dài bông, số bông chậu-1, tỉ lệ hạt chắc. Ngoài ra, sử dụng dòng vi khuẩn W32 hoặc hỗn hợp hai dòng vi khuẩn W22 và W32 kết hợp giảm 25% N đạt năng suất cao tương đương so với bón 100% N theo khuyến cáo trên đất mặn Hồng Dân, Bạc Liêu. Hàm lượng proline của các nghiệm thức có bổ sung vi khuẩn đạt thấp hơn so với các nghiệm thức không chủng vi khuẩn.

    DOI: https://doi.org/10.71254/03kfq894
  • ẢNH HƯỞNG CỦA MỘT SỐ BIỆN PHÁP KỸ THUẬT ĐẾN SINH TRƯỞNG, PHÁT TRIỂN VÀ RA HOA CỦA MAI YÊN TỬ TẠI HÀ NỘI

    Abstract : 11 PDF: 11
    Bùi Hữu Chung, Đặng Văn Đông, Nguyễn Thị Kim Lý
    30-35

    Năm 2010, Viện Nghiên cứu Rau quả đã đưa cây mai Yên Tử từ vùng núi Yên Tử của tỉnh Quảng Ninh về trồng thử nghiệm ở Hà Nội, kết quả cho thấy cây có khả năng sinh trưởng tốt, thích ứng cao. Tuy nhiên, để nghiên cứu chất lượng hoa và hoa ra vào đúng dịp, cần phải nghiên cứu một số biện pháp kỹ thuật phù hợp với sinh trưởng, phát triển và ra hoa của cây mai Yên Tử. Kết quả nghiên cứu về giá thể trồng cho thấy giá thể: đất phù sa + vỏ trấu + xơ dừa + phân chuồng hoai mục tỷ lệ 6:2:1:1 cho cây sinh trưởng tốt nhất, thời gian hồi xanh là 13 ngày và độ bền hoa chậu là 17 ngày. Sử dụng phân bón NPK 30-10-10 – TE ở giai đoạn phát triển thân lá và hình thành mầm hoa đã thúc đẩy nhanh quá trình ra chồi lộc/cây với 18 chồi, làm tăng đường kính thân lên 5,31 cm và chiều cao cây là 117,7 cm. Ở giai đoạn phát triển nụ, ra hoa sử dụng phân NPK 10-60-10-TE cho  94,3 nụ/cây, tỷ lệ nở hoa là 92,5% và đường kính hoa là 3,77 cm.

    DOI: https://doi.org/10.71254/zkrk5590
  • NGHIÊN CỨU ẢNH HƯỞNG CỦA LIỀU LƯỢNG ĐẠM VÀ KALI ĐẾN SINH TRƯỞNG, PHÁT TRIỂN VÀ NĂNG SUẤT GIỐNG DƯA LÊ HÀN QUỐC “GEUM JE” TẠI TỈNH THÁI NGUYÊN

    Abstract : 10 PDF: 12
    Lê Thị Kiều Oanh, Trần Đình Hà, Ngô Thị Hạnh
    36-42

    Nhằm xác định liều lượng bón đạm và kali cho giống dưa lê Hàn Quốc “Geum Je”, các thí nghiệm đồng ruộng với 16 công thức kết hợp 4 mức bón đạm (90, 120, 150, 180 kg N/ha) và 4 mức bón kali (90, 110, 130, 150 kg K2O/ha), kiểu bố trí khối ngẫu nhiên đầy đủ, 3 lần nhắc lại được tiến hành trên 2 vụ xuân hè và thu đông năm 2018 tại Trường Đại học Nông Lâm, Đại học Thái Nguyên. Kết quả nghiên cứu cho thấy: các công thức phân bón có ảnh hưởng khác nhau đến năng suất dưa lê ở các vụ trồng khác nhau. Vụ xuân hè, năng suất quả thực thu (NSTT) đạt từ 21,05 - 27,24 tấn/ha và sự tương tác giữa lượng bón phân đạm và kali có ý nghĩa đến năng suất ở mức dưới 5% (PN*K  <0,05), trong đó công thức N2K2 (120 kg N, 110 kg K2O/ha) và N2K3 (120 kg N, 130 kg K2O/ha) đạt NSTT đem lại hiệu quả cao nhất (27,24 và 27,11 tấn/ha). Ở vụ thu đông, NSTT đạt 19,36 - 23,81 tấn/ha và không có ảnh hưởng tương tác giữa hai nhân tố phân bón ảnh hưởng đến năng suất. Sự ảnh hưởng liều lượng phân bón do tác động riêng rẽ của từng nhân tố phân đạm (PN < 0,05) và phân kali (PK < 0,05), trong đó mức bón N1, K2 đạt năng suất cao nhất.

    DOI: https://doi.org/10.71254/wmvfry32
  • ẢNH HƯỞNG CỦA MỘT SỐ LOẠI MÔI TRƯỜNG ĐẾN QUÁ TRÌNH NHÂN GIỐNG NẤM BÀO NGƯ HỒNG (Pleurotus salmoneostramineus) TẠI HUYỆN CHÂU THÀNH, TỈNH KIÊN GIANG

    Abstract : 12 PDF: 15
    Nguyễn Văn Phước, Trần Hương Thảo
    43-47

    Hiện nay trên thị trường có rất nhiều loại thực phẩm, việc lựa chọn một loại thực phẩm vừa có giá trị dinh dưỡng vừa sạch là một trong những giải pháp mà người tiêu dùng lựa chọn. Trong đó nấm là một trong những thực phẩm được lựa chọn nhiều nhất. Bên cạnh nhiều loại nấm hiện nay được trồng tại Việt Nam và trên thế giới thì nấm bào ngư đang là sự lựa chọn hàng đầu, trong đó có nấm Bào Ngư Hồng (Pleurotus salmoneostramineus) - loại nấm mới giàu dinh dưỡng, dễ hấp thụ, hàm lượng protein cao là một trong những nấm có giá trị, tuy nhiên chưa được nghiên cứu và phát triển rộng rãi. Để tìm hiểu quy trình nuôi trồng, tạo giống các cấp và khảo sát tính thích nghi của loại nấm mới này, nghiên cứu được thực hiện và kết quả cho thấy: (1) Môi trường thích hợp để nhân giống cấp 1 là môi trường PGA, môi trường Raper, môi trường Misuno, môi trường Agaricus với điều kiện chiếu sáng xen kẽ 12 giờ sáng, 12 giờ tối ở thời điểm 5, 10, 15 và 20 ngày sau cấy (NSC); (2) Môi trường thích hợp để nhân giống cấp 2 là môi trường hạt kê khi có sự bổ sung của CaCO3 và cám gạo theo tỉ lệ 5000 g : 3 g : 7 g ở thời điểm 5, 10, 15 và 20 NSC cho tốc độ lan tơ nhanh và dày; (3) Môi trường que thích hợp để nhân giống cấp 3 là que khoai mỳ và que bắp ở thời điểm 15 NSC cùng với điều kiện chiếu sáng xen kẽ.

    DOI: https://doi.org/10.71254/rn7yp254
  • NGHIÊN CỨU ĐỊNH DANH VÀ KHẢ NĂNG SINH TRƯỞNG HỆ SỢI CỦA CÁC GIỐNG NẤM BÀO NGƯ THƯƠNG MẠI TRÊN MỘT SỐ MÔI TRƯỜNG DINH DƯỠNG

    Abstract : 5 PDF: 4
    Bùi Ngọc Trang, Ngô Thùy Trâm, Phạm Văn Lộc, Hồ Bảo Thùy Quyên
    48-56

    Ở Việt Nam, nấm bào ngư là một trong những loại nấm ăn được nuôi trồng phổ biến. Trong quy trình nuôi trồng nấm, giai đoạn nuôi cấy hệ sợi có vai trò hết sức quan trọng. Môi trường dinh dưỡng là một yếu tố ảnh hưởng đến sự phát triển của hệ sợi. Nghiên cứu này đã thu thập và phân lập được 12 mẫu nấm bào ngư từ các trại trồng và sản xuất meo nấm ở Đồng Nai, Bà Rịa - Vũng Tàu, thành phố Hồ Chí Minh, Long An, Bến Tre, Đồng Tháp và Vĩnh Long. Dựa vào kết quả phân tích vùng trình tự ITS, các mẫu nấm được định danh là: Pleurotus cf. djamor, Pleurotus cf. citrinopileatus, Pleurotus cf. ostreatus, Pleurotus cf. pulmonarius. Kết quả khảo sát khả năng phát triển trên 4 môi trường dinh dưỡng bao gồm: khoai tây, cà rốt, giá đỗ và Sabouraud Dextrose cho thấy, hệ sợi của các mẫu nấm đều có thể sinh trưởng trên các môi trường đã chọn, ở dạng nuôi cấy lỏng hoặc thạch. Đối với môi trường rắn, hầu hết các mẫu nấm đều phát triển tốt nhất trên môi trường BGA, với diện tích khuẩn lạc sau 9 ngày nuôi cấy đạt 12,81 – 60,59 cm2. Riêng chủng Pleurotus cf. citrinopileatus VTM1 có hệ sợi lan tơ tốt nhất trên môi trường SDA. Trong khi đó, đối với môi trường lỏng, sinh khối của tất cả các chủng nấm đều đạt kết quả cao nhất khi nuôi cấy trên môi trường nước chiết giá đậu xanh hoặc SDB.

    DOI: https://doi.org/10.71254/y9bj4320
  • ẢNH HƯỞNG CỦA CHẾ ĐỘ CHẦN VÀ LƯỢNG GIẤM BỔ SUNG ĐẾN CHẤT LƯỢNG CỦA GỪNG DẦM GIẤM

    Abstract : 4 PDF: 7
    Võ Văn Quốc Bảo, Nguyễn Thị Thùy Vân, Nguyễn Hiền Trang, Nguyễn Thị Đan Huyền, Phan Thị Hiền, Trương Thị Phượng
    57-63

    Ảnh hưởng của chế độ chần và lượng giấm bổ sung cho quá trình dầm giấm và các thuộc tính chất lượng của gừng được khảo sát trong nghiên cứu này. Cụ thể các thông số cần khảo sát là nhiệt độ chần (75- 90oC), thời gian chần (1-3 phút), nồng độ giấm ăn bổ sung (0,6 - 1%). Củ gừng được cắt lát mỏng, chần và dầm giấm trong 5 ngày tiến hành phân tích chất lượng sản phẩm, đánh giá cảm quan và kết quả được xử lý bằng phần mềm phân tích thống kê. Kết quả cho thấy các yếu tố khảo sát đều ảnh hưởng đến chất lượng của sản phẩm. Kết quả thí nghiệm cho thấy giá trị dinh dưỡng và giá trị cảm quan của sản phẩm gừng dầm giấm được đánh giá cao khi nhiệt độ chần là 85oC trong 1,5 phút và bổ sung nồng độ giấm là 0,9%. Với các thông số kỹ thuật thích hợp được thực hiện, sản phẩm gừng dầm giấm giữ lại chất dinh dưỡng nhiều nhất đối với hàm lượng vitamin C và polyphenol so với nguyên liệu ban đầu. Đồng thời giá trị cảm quan cũng được cải thiện với cấu trúc giòn, màu sắc đặc trưng, mùi vị hài hòa. 

    DOI: https://doi.org/10.71254/3d057437
  • MỘT SỐ YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN BÁNH NƯỚNG CÓ SỬ DỤNG BỘT KHOAI LANG RUỘT VÀNG

    Abstract : 10 PDF: 9
    Đàm Thị Bích Phượng
    64-70

    Khoai lang ruột vàng có các chất dinh dưỡng chính như protein, glucid và chất béo; khoai còn chứa nhiều các hợp chất kháng oxy hóa có lợi cho sức khỏe như folate, carotenoid, vitamin B, C, E, K. Giá thành của khoai lang ở mức trung bình đặc biệt đối với những củ không đủ kích cỡ, bị gãy, vỡ trong quá trình thu hoạch thì không được chọn lọc. Ngoài ra, việc bảo quản cũng gặp nhiều khó khăn về diện tích chứa và chất lượng giảm do bị mất nước, mọc mầm... Hiện nay, tại Việt Nam các sản phẩm chế biến từ loại nông sản này chủ yếu là thủ công, phương pháp chế biến theo kiểu truyền thống do đó việc phát triển các dòng sản phẩm mới để giải quyết đầu ra cho sản phẩm nông nghiệp, ứng dụng công nghệ vào sản xuất thực tiễn là việc làm rất cần thiết. Nghiên cứu này đã được thực hiện nhằm sản xuất bột khoai lang và phát triển sản phẩm bánh nướng có bổ sung bột khoai lang ruột vàng có hàm lượng cao các chất dinh dưỡng và giá trị cảm quan. Kết quả nghiên cứu cho thấy khoai lang được sấy tại nhiệt độ 90°C bằng phương pháp sấy khí nóng cho bột khoai có hàm lượng β β - carotene cao và độ ẩm phù hợp để bảo quản. Bánh nướng được chế biến từ công thức có tỷ lệ phối trộn bột mì và bột khoai lang là 1: 0,5 với nhiệt độ nướng bánh là 180°C trong 20 phút cho thành phẩm có chất lượng cao, màu sắc, mùi vị hấp dẫn, bước đầu đã được người tiêu dùng chấp nhận. Sản phẩm đạt chỉ tiêu an toàn thực phẩm.

    DOI: https://doi.org/10.71254/bxnzht58
  • NGHIÊN CỨU TỐI ƯU HÓA QUÁ TRÌNH LÀM KHÔ MỰC ỐNG BẰNG PHƯƠNG PHÁP SẤY BƠM NHIỆT KẾT HỢP BỨC XẠ HỒNG NGOẠI

    Abstract : 11 PDF: 11
    Lê Thị Hồng Ánh, Hoàng Thái Hà, Đặng Xuân Cường, Nguyễn Thị Thảo Minh, Nguyễn Thị Phượng, Lâm Thế Hải, Tiền Tiền Nam, Dương Hồng Quân, Đặng Văn Hải
    71-77

    Bài báo trình bày kết quả nghiên cứu về tối ưu hóa điều kiện sấy mực ống thu mua ở cảng cá Nha Trang bằng công nghệ bơm nhiệt kết hợp bức xạ hồng ngoại theo mô hình thực nghiệm đa nhân tố bậc 1 của Box-Wilson dựa trên hàm mục tiêu thời gian sấy. Các chỉ tiêu cảm quan, vật lý (khả năng tái hydrat, tạp chất, hoạt độ nước), hóa học (nitơ và protein tổng số) và vi sinh vật (tổng số vi sinh vật hiếu khí, E. coli, Coliforms, Samonella, V. cholerae, S. aureus) được đánh giá trên mực sấy bằng 3 phương pháp khác nhau (công nghệ bơm nhiệt kết hợp bức xạ hồng ngoại, công nghệ bơm nhiệt và sấy dưới mặt trời). Thực nghiệm chỉ ra phương trình Y= 4,1+0,34*X1+0,4*X2- 0,29*X3- 0,1* X1*X2 – 0,73* X1* X3+ 0,53* X2* X3 thể hiện mối tương quan giữa thời gian sấy (Y, giờ) và các nhân tố tác động (nồng độ sorbitol (X1), nhiệt độ sấy (X2), và tốc độ gió (X3), trong đó nhiệt độ sấy (X2) ảnh hưởng lên thời gian sấy mạnh hơn so với các yếu tố khác. Điều kiện sấy tối ưu là sorbitol 5,1%, nhiệt độ sấy 56oC, tốc độ gió 1,5 m/s, và thời gian sấy là 4,15 giờ. Mực ống khô đã sấy ở điều kiện tối ưu đạt chất lượng cảm quan và vệ sinh an toàn thực phẩm cao hơn so với các phương pháp sấy không khí và sấy dưới mặt trời.

    DOI: https://doi.org/10.71254/cfnwvy24
  • NGHIÊN CỨU BỆNH GAN TRÊN CHÓ VÀ SỬ DỤNG KỸ THUẬT CHẨN ĐOÁN HÌNH ẢNH PHÂN BIỆT CÁC TRƯỜNG HỢP BỆNH

    Abstract : 10 PDF: 11
    Nguyễn Thị Nở, Nguyễn Thị Lan Anh, Nguyễn Văn Phát
    78-83

    Nghiên cứu bệnh gan trên chó và sử dụng kỹ thuật chẩn đoán hình ảnh phân biệt các trường hợp bệnh gan được thực hiện trên 1440 ca chó bệnh (700 chó giống nội và 740 chó giống ngoại, trong đó có 609 chó đực và 831 chó cái) tại Phòng khám thú y Hương Nở, TP. Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương dựa vào chẩn đoán lâm sàng và hình ảnh siêu âm. Kết quả cho thấy bệnh gan trên chó chiếm tỷ lệ 2,5% tổng số ca khảo sát và bệnh gan không thay đổi theo giới tính và giống chó, nhưng gia tăng tỷ lệ thuận với độ tuổi từ dưới 1 tuổi đến 10 tuổi. Dựa vào triệu chứng lâm sàng các ca bệnh chia làm 3 dạng bệnh: vàng da niêm mạc 16 con chó (44,44%), báng bụng 14 con (38,9%) và vàng da niêm mạc + tích dịch xoang bụng  6 con (16,66%). Dựa vào kết quả siêu âm bệnh chia thành 6 dạng bệnh như sau: viêm gan cấp tính, mãn tính, và báng bụng (22,22%), viêm gan - thận (16,67%), viêm gan do viêm túi mật (13,89%) và xơ gan (2,78%). 

    DOI: https://doi.org/10.71254/t54tjc30
  • PHÂN LẬP VI KHUẨN TÍA QUANG HỢP TỪ BÙN ĐÁY AO NUÔI TÔM THẺ CHÂN TRẮNG (Litopenaeus vannamei, Boone, 1931) TẠI TỈNH THỪA THIÊN - HUẾ

    Abstract : 14 PDF: 14
    Nguyễn Ngọc Phước, Nguyễn Nam Quang, Nguyễn Đức Quỳnh Anh
    84-90

    Nghiên cứu nhằm đánh giá khả năng chuyển hoá sulfide của vi khuẩn tía quang hợp phân lập từ bùn đáy ao tôm. Kết quả đã phân lập được 8 chủng vi khuẩn tía quang hợp từ bùn các ao nuôi tôm thẻ chân trắng tại tỉnh Thừa Thiên - Huế. Trên môi trường DSMZ 27 lỏng, trong điều kiện kỵ khí đã tuyển chọn được 2 chủng có mức độ tích lũy sinh khối cao nhất, được ký hiệu DL11, PH21. Cả hai chủng này đều là vi khuẩn Gram âm, hình que, kết quả phân loại chủng DL11 là Allochromatium sp., và chủng PH21 là Marichromatium sp.. Các chủng này sinh trưởng và phát triển tốt ở nồng độ muối 10‰ - 20‰, pH: 6-7. Việc bổ sung cao nấm men vào môi trường nuôi cấy đã kích thích khả năng sinh trưởng của 2 chủng Allochromatium sp. và Marichromatium sp.. Ở điều kiện kỵ khí, cả 2 chủng đều có khả năng loại bỏ sulfide cao (94,4% sulfide khi nuôi ở môi trường chứa 10 - 20 mg/L sulfide). 

    DOI: https://doi.org/10.71254/pj4rrm78
  • MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM SINH HỌC VÀ THỬ NGHIỆM PHÒNG TRỪ BỌ XÍT MUỖI (Helopeltis theivora Waterhouse) GÂY HẠI TRÀM LÁ DÀI (Melaleuca leucadendra) VÀ TRÀM CỪ (Melaleuca cajuputi) Ở ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG

    Abstract : 10 PDF: 16
    Lê Văn Bình, Nguyễn Văn Thành, Trần Viết Thắng, Nguyễn Hoài Thu, Nguyễn Quốc Thống, Trang A Tổng
    91-97

    Tràm lá dài và Tràm cừ được gây trồng chủ yếu tại đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL), trong đó có tỉnh Long An, Đồng Tháp, Kiên Giang và Cà Mau. Hiện nay rừng trồng Tràm lá dài và Tràm cừ bị Bọ xít muỗi gây hại. Loài. Bọ xít muỗi có tên khoa học Helopeltis theivora Waterhouse (Hemiptera: Miridae). Bọ xít muỗi trưởng thành cái dài trung bình 5,9 mm (± 0,2) mảnh lưng màu vàng cam đến vàng cam đậm, bụng màu xanh trắng; trưởng thành đực nhỏ hơn trưởng thành cái, dài trung bình 5,6 mm (± 0,1); thân mỏng hơn với mảnh lưng màu nâu đen và bụng màu xanh lam nhạt; trứng dài trung bình 0,95 mm (± 0,2); hình thuôn dài; ấu trùng khi mới nở màu vàng, sau chuyển dần sang màu xanh lục, có 5 tuổi; tuổi 1 dài trung bình 1,7 mm (± 0,1); tuổi 2 dài trung bình 2,4 mm (± 0,3); tuổi 3 dài trung bình 3,3 mm (± 0,2); tuổi 4 dài trung bình 4,1 mm (± 0,1) và tuổi 5 dài trung bình 5,4 mm (± 0,2). Thu được 4 loài thiên địch ăn thịt Bọ xít muỗi gồm có Bọ rùa (Cheilomenes sexmaculata), Nhện linh miêu vân xiên (Oxyopes javanus), Nhện linh miêu lưng trắng (Oxyopes shweta) và Kiến vồng (Oecophylla smaragdina). Chọn được 1 loại thuốc sinh học Dipel 6.4WG (Bacillus thuringiensis var. kurstaki) phòng trừ Bọ xít muỗi ở trong phòng sau 5 ngày hiệu lực đạt 100%.

    DOI: https://doi.org/10.71254/excj3z18
  • TRỮ LƯỢNG CÁC BON TRÊN MẶT ĐẤT CỦA RỪNG TRỒNG KEO TAI TƯỢNG (Acacia mangium) TẠI THÀNH PHỐ THÁI NGUYÊN

    Abstract : 10 PDF: 20
    Đỗ Hoàng Chung, Nguyễn Đăng Cường, Trần Trọng Bằng
    98-105

    Nghiên cứu được thực hiện đối với rừng trồng Keo tai tượng (Acacia mangium) trên địa bàn thành phố Thái Nguyên. Phương pháp đánh giá nhanh trữ lượng các bon của ICRAF được sử dụng để thu thập dữ liệu trên 40 ô tiêu chuẩn tại 8 xã có rừng trồng Keo tai tượng. Sinh khối và tổng trữ lượng các bon trong lâm phần rừng trồng Keo tai tượng tỷ lệ thuận với tuổi rừng. Trữ lượng các bon tầng cây gỗ phía trên mặt đất chiếm tỷ lệ lớn nhất (chiếm 64,18% ở rừng tuổi 3 tăng đến 79,61% ở rừng tuổi 7), tiếp đến là tầng thảm mục và cuối cùng là tầng thảm tươi. Tổng trữ lượng các bon  rừng trồng tăng dần từ 12,31 tấn/ha ở tuổi 3 tăng đến 24,23 tấn/ha ở tuổi 7. Năng lực hấp thụ CO2 của rừng trồng Keo tai tượng giảm dần khi tuổi rừng tăng (rừng 3 tuổi đạt 15,06 tấn CO2 e/ha/năm, rừng 4 tuổi đạt 14,19 tấn CO2 e/ha/năm, rừng 5 tuổi đạt 13,67 tấn CO2 e/ha/năm, rừng 6 tuổi đạt 13,11 tấn CO2 e/ha/năm, rừng 7 tuổi đạt 12,70 tấn CO2 e/ha/năm). Toàn bộ diện tích rừng trồng Keo tai tượng trên địa bàn thành phố Thái Nguyên ước tính hàng năm có thể hấp thụ 23.326,97 tấn CO2 tương đương, trong đó rừng 3 tuổi đóng góp 27,12%; rừng 4 tuổi chiếm 26,42%; rừng 5 tuổi đóng góp 22,98%; rừng 6 tuổi với 15,23% và rừng 7 tuổi với tỷ lệ là 8,25%. Ước tính tổng giá trị về hấp thụ CO2 của rừng trồng Keo tai tượng trên địa bàn thành phố Thái Nguyên đạt 69.980,88 USD/năm, tương đương với 1.614.458.902,0 VNĐ/năm. 

    DOI: https://doi.org/10.71254/ve52pj19
  • NGHIÊN CỨU ĐỀ XUẤT THÔNG SỐ CÔNG NGHỆ TẠO VÁN LVL TỪ TỔ HỢP VÁN BÓC GỖ KEO TAI TƯỢNG, BẠCH ĐÀN URO, MỠ, THÔNG CARIBÊ ĐỂ SẢN XUẤT GỖ KHỐI

    Abstract : 5 PDF: 7
    Hà Tiến Mạnh, Nguyễn Thị Phượng, Trần Đức Trung, Tạ Thị Thanh Hương, Nguyễn Văn Định
    106-114

    Nghiên cứu này đã xác định được thông số công nghệ (cấu trúc xếp lớp, lượng keo tráng và chế độ ép) tạo ván LVL (Laminated veneer lumber) từ ván bóc của các loài cây Keo tai tượng (Acacia mangium Willd.), Bạch đàn Uro (Eucalyptus urophylla), Mỡ (Manglietia conifera Dandy) và Thông Caribê (Pinus caribaea Morelet) làm nguyên liệu cho gỗ khối. Đối với từng cặp gỗ Keo tai tượng (K) - Mỡ (M), Bạch đàn Uro (BĐ) - Mỡ (M) và Thông Caribê (T) - Bạch đàn Uro (BĐ), cấu trúc xếp lớp phù hợp đã được lựa chọn lần lượt là: cấu trúc 1 (K-M-K-M-K-M-K-M-K-M-K-M-K-M), cấu trúc 3 (M-M-BĐ-BĐ-M-M-BĐ-M-BĐ-BĐ-M-M-BĐ-BĐ) và cấu trúc 1 (T-BĐ-T-BĐ-T-BĐ-T-BĐ-T-BĐ-T-BĐ-T-BĐ). Lượng keo tráng 180 g/m2, áp lực ép 1,2 MPa đối với cặp gỗ Thông Caribê - Bạch đàn Uro và lượng keo tráng 160 g/m2, áp lực ép 1,2 MPa đối với 2 cặp gỗ còn lại cho chất lượng dán dính và tính chất cơ học phù hợp nhất nên được lựa chọn để tạo ván LVL.

    DOI: https://doi.org/10.71254/gj5tg212
  • ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG CÁC LOẠI HÌNH SỬ DỤNG ĐẤT TRỒNG CÀ PHÊ TỈNH ĐẮK LẮK

    Abstract : 5 PDF: 6
    Phạm Thế Trịnh
    115-123

    Đắk Lắk là tỉnh nằm ở trung tâm cao nguyên Trung bộ, nổi tiếng với dải đất đỏ bazan màu mỡ, thích hợp với nhiều loại cây trồng cho hiệu quả kinh tế cao như cà phê, tiêu, điều…  với diện tích cà phê năm 2018 là 203.063 ha được phân bố ở tất cả các huyện, thị xã và thành phố trong tỉnh. Với 5 loại hình sử dụng đất (LUT) trồng cà phê chính là trồng thuần chiếm 80,51% diện tích, xen tiêu chiếm 9,47%, xen mắc ca 3,35%, xen bơ chiếm 4,12%, xen sầu riêng chiếm 2,36% diện tích cà phê. Hiệu quả kinh tế 5 loại sử dụng đất trồng cà phê cho thấy loại hình trồng xen cho hiệu quả cao hơn trồng thuần, có giá trị gia tăng từ 78,38 - 313,02 triệu đồng/ha, hiệu quả đồng vốn từ 0,83 - 2,56 lần. Hiệu quả xã hội: các cây trồng xen tạo ra thêm sản phẩm cho địa phương ngoài sản phẩm cà phê, giải quyết được nguồn lao động nhàn rỗi, phù hợp với tập quán của người dân, đầu tư ít hơn các cây trồng khác nhưng cho thu nhập cao trong thời kỳ kinh doanh. Hiệu quả môi trường: làm tăng độ che phủ đất. Loại hình sử dụng đất cà phê xen bơ có độ che phủ 71,73%, thấp hơn so với LUT3 xen tiêu 75,64%, LUT 5 xen sầu riêng 82,53% và LUT2 xen mắc ca 85,95%. Riêng đối với loại hình cà phê xen mắc ca có độ che phủ đạt 85,95% cao nhất so với các loại hình trồng xen, cà phê thuần có độ che phủ 72,15% thấp hơn so với loại hình sử dụng đất trồng xen. Trong thời gian tới tiếp tục nhân rộng các loại hình sử dụng sử dụng đất trồng xen (mắc ca, tiêu, sầu riêng, bơ) có hiệu quả ra các vùng trồng cà phê trồng thuần góp phần nâng cao hiệu quả sử dụng đất trồng cà phê toàn tỉnh.

    DOI: https://doi.org/10.71254/zm6whx07
  • ĐÁNH GIÁ TÁC ĐỘNG NGẬP DO LŨ TRÊN HIỆN TRẠNG SỬ DỤNG ĐẤT TỈNH AN GIANG NĂM 2019 SỬ DỤNG ẢNH VIỄN THÁM CHỦ ĐỘNG SENTINEL-1A

    Abstract : 11 PDF: 12
    Nguyễn Thị Hồng Điệp, Nguyễn Thị Ngọc Trân, Đinh Thị Cẩm Nhung
    124-130

    Nghiên cứu thực hiện ứng dụng ảnh viễn thám chủ động Sentinel-1A theo dõi phân bố hiện trạng ngập lũ tác động đến hiện trạng sử dụng đất trên địa bàn tỉnh An Giang trong năm 2019. Nghiên cứu áp dụng phương pháp phân tích hồi quy tương quan và phân ngưỡng giá trị tán xạ trên ảnh Sentinel 1. Mô hình hồi quy được lựa chọn phù hợp nhất là hàm mũ (exponential) cho phân cực VV với hệ số tương quan (r) trong 3 tháng (8, 9 và 10) dao động từ 0,84 đến 0,98 và hệ số xác định R2 dao động từ 0,79 đến 0,95. Kết quả bản đồ phân bố hiện trạng ngập lũ tăng dần từ tháng 8 đến tháng 10 ngập nhiều nhất với diện tích ngập 89.606,82 ha (chiếm 26,15%) chủ yếu ngập nhiều trên đất lúa với 66,88% tổng diện tích ngập, trên khu dân cư chiếm 10,94% và trên đất loại khác chiếm 22,18% vào tháng 10/2019 và phân bố chủ yếu tại 8 huyện, thị gồm: An Phú, Tịnh Biên, Châu Thành, Châu Phú, Phú Tân, Tri Tôn, TP. Châu Đốc và TP. Long Xuyên. Phân bố không gian ngập lũ chủ yếu trên hiện trạng đất khác với thời gian ngập 1 tháng và độ sâu ngập từ 10 – 50 cm, diện tích phân bố lần lượt chiếm 80,6% và 66,31% tổng diện tích ngập lũ tại tỉnh An Giang.

    DOI: https://doi.org/10.71254/b3jg6m85
  • KHẢO SÁT CHẤT LƯỢNG ĐẤT VÀO MÙA KHÔ TẠI VƯỜN QUỐC GIA TRÀM CHIM, HUYỆN TAM NÔNG, TỈNH ĐỒNG THÁP

    Abstract : 5 PDF: 4
    Nguyễn Thanh Giao, Dương Văn Ni, Trương Hoàng Đan
    131-137

    Nghiên cứu được tiến hành nhằm đánh giá hiện trạng chất lượng môi trường đất tại Vườn Quốc gia Tràm Chim, huyện Tam Nông, tỉnh Đồng Tháp thông qua các chỉ tiêu pH, tổng đạm (TN), tổng lân (TP), axit tổng, chất hữu cơ (CHC), sắt tổng (Fe) và nhôm trao đổi (Al3+), tại 2 tầng đất A (0-20 cm) và B (20-40 cm) của 7 sinh cảnh vào mùa khô. Kết quả phân tích cho thấy môi trường đất có pH đất thấp 3,55- 4,57 (tầng A) và 3,18-4,40 (tầng B). Tầng đất A các chỉ tiêu sắt tổng (0,76-1,45%), nhôm trao đổi (7,24-15,06 meqAl3+/100 g) tương đối cao và giảm theo độ sâu. Ở tầng B các giá trị này lần lượt dao động từ 0,45-1,74%; 5,23-13,41 meqAl3+/100 g. Axit tổng dao động từ 12,69-16,58 meq H+/100 g (tầng A) và 12,83-19,37 meq H+/100 g (tầng B). Hàm lượng CHC, TP và TN trong đất thấp ở tầng A (5,03-8,28%; 0,016-0,028 %P2O5; 0,078-0,188 %N) và tầng B (3,81-6,73%; 0,008-0,022 %P2O5; 0,043-0,099 %N). Kết quả nghiên cứu cho thấy môi trường đất tại Vườn Quốc gia Tràm Chim được đặc trưng bởi pH thấp và hàm lượng các chất dinh dưỡng thấp, rất có thể ảnh hưởng đến đa dạng sinh học của Vườn Quốc gia Tràm Chim. Cần có biện pháp quản lý chu trình dinh dưỡng trong Vườn để đảm bảo phát triển bền vững khu vực đất ngập nước quan trọng này.

    DOI: https://doi.org/10.71254/a4rkek07
  • CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN SỬ DỤNG INTERNET TRONG SẢN XUẤT VÀ KINH DOANH NÔNG NGHIỆP CỦA CÁC NÔNG HỘ TẠI THÀNH PHỐ BẢO LỘC, TỈNH LÂM ĐỒNG

    Abstract : 12 PDF: 11
    Hoàng Hà Anh, Hồ Hữu Kỳ, Nguyễn Ngọc Thùy
    138-145

    Nghiên cứu được thực hiện nhằm xác định các yếu tố ảnh hưởng đến sử dụng Internet trong sản xuất và kinh doanh nông nghiệp của các nông hộ tại thành phố Bảo Lộc và đề xuất giải pháp để nâng cao khả năng sử dụng Internet của các nông hộ trong sản xuất nông nghiệp. Số liệu phân tích được thu thập thông qua khảo sát 183 hộ nông dân. Kết quả nghiên cứu cho thấy mức độ và hiệu quả sử dụng internet trong sản xuất và kinh doanh nông nghiệp ngày càng được nâng cao, xu thế các hộ nông dân xây dựng và sử dụng các trang web để quảng bá hình ảnh cho sản phẩm của họ ngày càng được quan tâm. Ngoài ra, có 4 yếu tố ảnh hưởng đến sử dụng Internet trong sản xuất và kinh doanh nông nghiệp của các nông hộ tại thành phố Bảo Lộc đó là: Nỗ lực mong đợi, thói quen, hiệu quả và động lực thụ hưởng.  

    DOI: https://doi.org/10.71254/sxgzeq72