NGHIÊN CỨU ĐỊNH DANH VÀ KHẢ NĂNG SINH TRƯỞNG HỆ SỢI CỦA CÁC GIỐNG NẤM BÀO NGƯ THƯƠNG MẠI TRÊN MỘT SỐ MÔI TRƯỜNG DINH DƯỠNG
DOI:
https://doi.org/10.71254/y9bj4320Abstract
In Vietnam, oyster mushroom is one of edible mushrooms that is popularly cultured. Culturing mycelium has important role in mushroom cultivation. Nutrion media is a factor that effect mycelial growth. In this study, 12 strains of oyster mushrooms were collected from mushroom farms in Dong Nai, Vung Tau, HCMC, Long An, Ben Tre, Dong Thap, Vinh Long. Based on the analysis of ITS sequences, they were identified as Pleurotus cf. djamor, Pleurotus cf. citrinopileatus, Pleurotus cf. ostreatus and Pleurotus cf. pulmonarius. All strains were cultured on nutrion media. The survey results showed that mycelia of all strains could grow on broth and agar media of Sabouraud Dextrose, potato extract, carrot extract and green bean sprout extract. Most strains grew best on green bean sprout extract agar medium, with the mycelial area after 9 cultured days of 12.81 – 60.59 cm2. Only Pleurotus cf. citrinopileatus VTM1 strain had the best mycelium growth on SDA. Morever, the highest dry biomass of all strains were obtained on broth medium of green bean extract or SDB.
Keywords:
Mushroom cultivation, mycelial growth, oyster mushroom.Tóm tắt
Ở Việt Nam, nấm bào ngư là một trong những loại nấm ăn được nuôi trồng phổ biến. Trong quy trình nuôi trồng nấm, giai đoạn nuôi cấy hệ sợi có vai trò hết sức quan trọng. Môi trường dinh dưỡng là một yếu tố ảnh hưởng đến sự phát triển của hệ sợi. Nghiên cứu này đã thu thập và phân lập được 12 mẫu nấm bào ngư từ các trại trồng và sản xuất meo nấm ở Đồng Nai, Bà Rịa - Vũng Tàu, thành phố Hồ Chí Minh, Long An, Bến Tre, Đồng Tháp và Vĩnh Long. Dựa vào kết quả phân tích vùng trình tự ITS, các mẫu nấm được định danh là: Pleurotus cf. djamor, Pleurotus cf. citrinopileatus, Pleurotus cf. ostreatus, Pleurotus cf. pulmonarius. Kết quả khảo sát khả năng phát triển trên 4 môi trường dinh dưỡng bao gồm: khoai tây, cà rốt, giá đỗ và Sabouraud Dextrose cho thấy, hệ sợi của các mẫu nấm đều có thể sinh trưởng trên các môi trường đã chọn, ở dạng nuôi cấy lỏng hoặc thạch. Đối với môi trường rắn, hầu hết các mẫu nấm đều phát triển tốt nhất trên môi trường BGA, với diện tích khuẩn lạc sau 9 ngày nuôi cấy đạt 12,81 – 60,59 cm2. Riêng chủng Pleurotus cf. citrinopileatus VTM1 có hệ sợi lan tơ tốt nhất trên môi trường SDA. Trong khi đó, đối với môi trường lỏng, sinh khối của tất cả các chủng nấm đều đạt kết quả cao nhất khi nuôi cấy trên môi trường nước chiết giá đậu xanh hoặc SDB.








