Số 5 (2021)
Bài viết
-
ỨNG DỤNG CHỈ THỊ PHÂN TỬ TRONG CHỌN GIỐNG LÚA CHỐNG CHỊU MẶN (ORYZA SATIVA. L)
Abstract : 32 PDF: 11Nghiên cứu này nhằm mục tiêu áp dụng bản đồ GGT từ quần thể BC3F3 trên tổ hợp lai OM 1490/ Pokkali, mang gen chịu mặn thông qua ứng dụng chỉ thị phân tử để cải tiến giống lúa chống chịu mặn. Trong quần thể OM 1490/Pokkali có sự đa hình với hai chỉ thị RM3252-S1-1 trên nhiễm sắc thể số 1 và RM223 trên nhiễm sắc thể số 8. Kết quả này có được nhờ sử dụng 31 chỉ thị trên nhiễm sắc thể số 1 với khoảng cách di truyền 1-97cM và 21 chỉ thị phân tử trên nhiễm sắc thể số 8, khoảng cách di truyền từ 0-56 cM. Các cá thể con lai được lựa chọn phải mang gen đồng hợp trội trên vùng nhiễm sắc thể với 4 dòng BC3F3-11, BC3F3-40, BC3F3-51 và BC3F3-52 có 100% vùng gen trùng hợp với cá thể bố (Pokkali), mang gen mục tiêu mặn nhờ GGT trên nhiễm sắc thể số 1 và năm dòng BC3F3-16, BC3F3-18, BC3F3-34, BC3F3-48 và BC3F3-51 trên nhiễm sắc thể số 8. Các cá thể được chọn có mang gen mặn và ghi nhận có dòng BC3F3-40, BC3F3-52 và BC3F3-51 cho năng suất cao nhất có ý nghĩa so với đối chứng. Do đó, kết quả này là những tài liệu tham khảo quan trọng phục vụ cho việc chọn tạo giống lúa chịu mặn.
-
NGHIÊN CỨU ĐẶC ĐIỂM HÌNH THÁI VÀ MỐI QUAN HỆ DI TRUYỀN CỦA DƯA GANG THU THẬP Ở MIỀN TRUNG VÀ NAM VIỆT NAM
Abstract : 9 PDF: 8Bảy giống dưa gang được thu thập ở 6 tỉnh/thành phố: Thừa Thiên - Huế, Quảng Nam, Phú Yên, Gia Lai, Đắk Lắk và thành phố Hồ Chí Minh. Đây là các giống bản địa do người dân tự để giống và trồng qua ít nhất 5 vụ. Các chỉ tiêu hình thái được đánh giá dựa trên bộ chỉ tiêu đánh giá melon (Descriptor for melon – Cucumis melo L) của IPGRI (International Plant Genetic Resources Institute nay là Biodiversity International, 2003) với một số điều chỉnh nhỏ. Kết quả đánh giá hình thái cho thấy có sự đa dạng giữa các giống dưa gang ở các khu vực khác nhau, đặc biệt là đặc điểm hình thái quả và kiểu hình hoa. Dựa trên phương pháp phân tích phân cụm, các giống dưa gang thu thập được phân thành 2 nhóm với sự khác nhau chủ yếu về kiểu hình hoa và một số đặc trưng cơ bản của quả.
-
NGHIÊN CỨU NÂNG CAO TỶ LỆ TẠO CÂY HOÀN CHỈNH IN VITRO TRONG QUÁ TRÌNH NUÔI CẤY PHÔI DỪA SÁP (Makapuno coconuts)
Abstract : 21 PDF: 15Dừa Sáp (Makapuno coconuts) là cây trồng có giá trị kinh tế cao không chỉ ở Việt Nam mà còn ở nhiều nước trên thế giới. Tính trạng sáp được kiểm soát bởi một gen lặn (m) ở dạng đồng hợp tử của cây dừa sáp, các phôi mang cặp gen lặn (mm) không thể nảy mầm trong tự nhiên. Một số nghiên cứu đã tiến hành cứu phôi dừa sáp trong điều kiện in vitro để tăng tỷ lệ tạo quả sáp trên cây. Tuy nhiên, tỷ lệ cứu phôi dừa sáp thành công vẫn còn thấp. Chính vì vậy, nghiên cứu này được thực hiện nhằm khắc phục hạn chế trên đồng thời nâng cao tỷ lệ cứu phôi, tạo cây in vitro hoàn chỉnh và rút ngắn thời gian tạo cây thông qua công nghệ nuôi cấy phôi. Cụ thể, phôi dừa Sáp được cấy trên môi trường Y3 có bổ sung 2,4,5T nồng độ 1 mg/L đạt tỷ lệ nảy mầm 91,11%. Chiều dài chồi đạt 10,90 cm sau 5 tuần nuôi cấy trên môi trường MS bổ sung GA3 nồng độ 0,5 mg/L. Môi trường tạo rễ thứ cấp thích hợp là môi trường MS có chứa IBA nồng độ 4 mg/L. Môi trường MS có bổ sung Sitto Fopro 10-52-10 nồng độ 20 mg/L cho số lá mở hoàn chỉnh đạt 2,64 sau 15 tuần nuôi cấy; đồng thời có thể duy trì và bảo quản cây từ 3-4 tháng để cung cấp vật liệu cho nghiên cứu sau này mà không cần chuyển sang môi trường mới. Cuối cùng, thời gian tạo cây dừa Sáp hoàn chỉnh thông qua cứu phôi ở điều kiện in vitro đã được rút ngắn xuống chỉ còn 6-7 tháng.
-
HIỆU QUẢ CỦA CHẾ PHẨM VI SINH ĐẾN CẢI THIỆN SINH TRƯỞNG VÀ NĂNG SUẤT BẮP LAI TRỒNG TRÊN ĐẤT PHÙ SA KHÔNG ĐƯỢC BỒI TẠI HUYỆN CHÂU PHÚ, TỈNH AN GIANG
Abstract : 20 PDF: 9Nghiên cứu được thực hiện nhằm mục tiêu xác định hiệu quả của ba chế phẩm vi sinh đến sinh trưởng và năng suất bắp lai trồng trên đất phù sa không được bồi tại huyện Châu Phú, tỉnh An Giang. Thí nghiệm được bố trí theo khối hoàn toàn ngẫu nhiên với 13 nghiệm thức, 4 lần lặp lại, mỗi lần lặp lại tương ứng một chậu. Các nghiệm thức bao gồm: (i) 100% N, (ii) 85% N, (iii) 70% N, (iv) 55% N, (v) 85% N + CPVS-BL-1, (vi) 70% N + CPVS-BL-1, (vii) 55% N+ CPVS-BL-1, (viii) 85% N + CPVS-BL-2, (ix) 70% N + CPVS-BL-2, (x) 55% N+ CPVS-BL-2, (xi) 85% N + CPVS-BL-3, (xii) 70% N + CPVS-BL-3 và (xiii) 55% N+ CPVS-BL-3. Kết quả thí nghiệm cho thấy, bổ sung chế phẩm vi sinh CPVS-BL-1, CPVS-BL-2, CPVS-BL-3 giúp cải thiện chiều cao và đường kính cây bắp lai trong trường hợp giảm 15% phân đạm vô cơ so với khuyến cáo. Nghiệm thức bón 85% N kết hợp chế phẩm vi sinh (CPVS-BL-1, CPVS-BL-2 hoặc CPVS-BL-3) đều góp phần tăng chiều dài bắp, số hạt trên hàng và dẫn đến tăng năng suất hạt bắp lai so với bón 100% phân đạm vô cơ theo khuyến cáo. Bón 85% N kết hợp CPVS-1, CPVS-2, hoặc CPVS-3 cho năng suất hạt dao động 64,7-68,0 g chậu-1 trong khi năng suất hạt bắp của nghiệm thức bón 100% đạm đạt 64,1 g chậu-1.
-
ẢNH HƯỞNG CỦA KHOÁNG VI LƯỢNG KẾT HỢP VỚI BENZYLADENINE ĐẾN SỰ TĂNG TRƯỞNG TRÁI DỨA QUEEN (Ananas comosus (L.) Merr.)
Abstract : 24 PDF: 25Nghiên cứu này đề cập đến tác động của khoáng vi lượng và benzyladenine (BA) đến sự tăng trưởng trái dứa Queen (Ananas comosus (L.) Merr.). Các trái dứa được xử lý boron, đồng, sắt, kẽm (nồng độ 0,1; 0,5; 1,0; 1,5; 2,0; 2,5 và 3,0%) vào ngày 0 và ngày 3 ở đầu giai đoạn tăng trưởng (50% hoa khô) và được thu vào ngày 15 kể từ khi xử lý. Bên cạnh đó, các trái dứa được xử lý boron (0,1%), kẽm (0,5%) phối với BA (20 mg.L-1) ở thời điểm đầu của 4 giai đoạn tăng trưởng của trái (đầu giai đoạn tăng trưởng, giai đoạn tăng trưởng chậm, giai đoạn tăng trưởng nhanh và cuối giai đoạn tăng trưởng) và thu kết quả vào tuần 11 để đánh giá sự gia tăng khối lượng và kích thước trái. Kết quả cho thấy: tất cả các xử lý của boron đều làm tăng khối lượng tươi và kích thước trái; các công thức bổ sung đồng, sắt hoặc kẽm chỉ có tác dụng ở ngưỡng nồng độ 0,5% trở lên. Ngoài ra, BA 20 mg.L-1 khi xử lý riêng lẻ hoặc phối hợp với boron (0,1%) hoặc kẽm (0,5%) đều làm tăng khối lượng tươi, tỉ lệ chất khô và kích thước trái rất rõ rệt so với đối chứng.
-
PHÂN LẬP, TUYỂN CHỌN VI SINH VẬT NỘI SINH TỔNG HỢP INDOLE - 3 - ACETIC ACID (IAA) TRONG HỆ RỄ CÂY CÀ PHÊ (Coffea) TẠI ĐẮK LẮK
Abstract : 41 PDF: 43Nghiên cứu phân lập, tuyển chọn vi sinh vật nội sinh tổng hợp Indole – 3 - Acetic Acid (IAA) trong hệ rễ cây cà phê (Coffea) tại Đắk Lắk nhằm tuyển chọn các dòng vi sinh vật có đặc tính ưu việt, làm cơ sở cho việc sản xuất các chế phẩm sinh học góp phần tăng khả năng sinh trưởng, năng suất cây cà phê,... Từ 30 mẫu rễ cây cà phê được thu tại hai huyện Cư Kuin và Cư M’gar, phân lập và tuyển chọn được các dòng vi sinh vật có khả năng sinh tổng hợp IAA bằng phương pháp định lượng với thuốc thử Salkowsky. Đã tuyển chọn được 4 dòng vi khuẩn có khả năng sinh IAA với hàm lượng lần lượt là 16,36 µg/mL (S03N1), 24,41 µg/mL (S25N2), 68,31 µg/mL (S02R1) và 96,78 µg/mL (S18N3). Dựa vào đặc điểm hình thái và dữ liệu sinh học phân tử định danh các dòng vi khuẩn đã tuyển chọn, xác định được các loài là Bacillus cereus, Bacillus subtilis, Bacillus spp. và Stenotrophomonas maltophilia.
-
KHẢO SÁT TÍNH KHÁNG KHUẨN, KHÁNG VIÊM CỦA CAO CHIẾT TỪ CÂY NGẢI MỌI (GLOBBA PENDULA ROXB.)
Abstract : 21 PDF: 8Cây ngải mọi (Globba pendula Roxb.) là một loài thảo mộc thuộc chi Globba (Zingiberaceae), có khả năng chữa các bệnh xương khớp, phong thấp trong y học cổ truyền Việt Nam. Trong nghiên cứu này, cao chiết tổng số và cao chiết phân đoạn của cây ngải mọi được tạo thành và đánh giá hoạt tính kháng khuẩn, kháng viêm. Kết quả cho thấy cao chiết tổng số và các phân đoạn có hoạt tính kháng phần lớn các vi sinh vật kiểm định, trong đó cao chiết có 2ʹ-hydroxy-4,4ʹ, 6ʹ-trimethoxy-chalcone ở nồng độ 0,08 mg/mL thể hiện hoạt tính kháng 7 chủng vi khuẩn kiểm định thuộc các loài Vibrio cholera, Escherichia coli (ETEC), Escherichia coli (EHEC), Staphylococcus aureus, Enterococcus faecalis, Salmonella typhimurium, Salmonella enteritidis. Đối với hoạt tính kháng viêm, các loại cao chiết tổng số, cao chiết chứa 2ʹ-hydroxy-4,4ʹ,6ʹ-trimethoxy-chalcone và boesenboxide đều có tác dụng ức chế quá trình viêm cấp tính và mãn tính, trong đó 2ʹ-hydroxy-4,4ʹ, 6ʹ-trimethoxy-chalcone cho hiệu quả ức chế viêm tương đương với diclofenac. Kết quả thu được cho thấy tiềm năng của cây ngải mọi trong điều trị bệnh viêm nhiễm và xương khớp ở con người.
-
ẢNH HƯỞNG CỦA ĐIỀU KIỆN TRÍCH LY ĐẾN HOẠT TÍNH LIPASE TRONG CÁM GẠO
Abstract : 33 PDF: 25Cám gạo là phụ phẩm của ngành sản xuất lúa gạo, là lớp ngoài của gạo lứt. Cám gạo giàu chất chống oxy hóa như pholyphenols, vitamin E, tocotrienols và carotenoids. Cám gạo có thời hạn sử dụng rất ngắn do hàm lượng chất béo cao và enzyme lipase mạnh làm phân hủy dầu, làm cho cám bị ôi và không ăn được. Nghiên cứu được thực hiện nhằm đánh giá hiệu quả của việc trích ly lipase trong nguyên liệu cám gạo làm cơ sở cho việc xử lý sau này. Các thí nghiệm được bố trí nhằm tìm loại dung môi sử dụng, nồng độ dung môi, thời gian và nhiệt độ trích ly lipase. Kết quả cho thấy nước muối là dung môi phù hợp cho quá trình trích ly với nồng độ 1M cho hoạt tính lipase 2,83 U/ml, trong điều kiện nhiệt độ 38oC là phù hợp, thời gian trích ly là 240 phút cho hoạt tính lipase lần lượt là 2,92 U/ml và 3,75 U/ml và giúp giữ được thành phần dinh dưỡng còn lại.
-
NGHIÊN CỨU SỬ DỤNG ENZYM ĐỂ NÂNG CAO HIỆU SUẤT THU HỒI DỊCH QUẢ VÀ HÀM LƯỢNG LYCOPENE TRONG SẢN XUẤT NƯỚC ÉP DƯA HẤU
Abstract : 30 PDF: 36Nâng cao hiệu suất thu hồi dịch quả và hàm lượng lycopene trong sản xuất nước ép dưa hấu bằng phương pháp sử dụng enzym đã được nghiên cứu. Trong số các chế phẩm enzym thử nghiệm (Celluclast® 1,5L, Viscozyme® và Pectinex® Ultra SP-L), đã lựa chọn Pectinex® Ultra SP-L cho gia tăng hiệu suất thu hồi dịch quả và lycopene từ quả dưa hấu. Đã tìm được các thông số thích hợp cho quá trình thủy phân của enzym: tỷ lệ enzym 0,04%, pH 4 - 5, thời gian 30 phút, nhiệt độ 300C - 350C. Ở điều kiện này, hiệu suất thu hồi dịch quả đạt 86,7% cao hơn so với đối chứng là 72,8% (tăng 13,9%); hàm lượng lycopene 67,5 mg/kg, cao hơn so với đối chứng là 58,5 mg/kg.
-
TỐI ƯU HÓA QUÁ TRÌNH THỦY PHÂN SỤN CÁ MẬP (CARCHARHINUS DUSSUMIERI) BẰNG HỖN HỢP ENZYME ALCALASE-PAPAIN THEO PHƯƠNG PHÁP MẶT ĐÁP ỨNG
Abstract : 17 PDF: 11Bài báo này trình bày kết quả nghiên cứu tối ưu hóa quá trình thủy phân sụn cá mập (Carcharhinus dussumieri) bằng hỗn hợp enzyme alcalase-papain. Kết quả nghiên cứu đã xác định được khoảng thông số biên thích hợp cho quá trình thủy phân sụn các mập bằng hỗn hợp enzyme alcalase - papain: khoảng nồng độ enzyme thích hợp là 0,1% - 0,5%, khoảng nhiệt độ thích hợp là 400C - 600C và khoảng thời gian thích hợp là 16 - 24 giờ. Kết quả tối ưu hóa đã xác định được các thông số tối ưu cho quá trình thủy phân sụn cá mập bằng hỗn hợp enzyme alcalase - papain: nồng độ enzyme là 0,3%, nhiệt độ thủy phân là 500C và thời gian thủy phân là 20 giờ. Kết quả thủy phân sụn cá mập với các thông số ở trên thu được dịch thủy phân với hiệu suất thu chondroitin sulphate đạt 96,97%.
-
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU BIỆN PHÁP TĂNG ẨM ĐỘ TRONG PHÒNG NUÔI TẰM CÓ SỬ DỤNG MÁY ĐIỀU HÒA NHIỆT ĐỘ
Abstract : 25 PDF: 16Để hạn chế tác hại do ẩm độ thấp khi nuôi tằm trong phòng có sử dụng máy điều hòa nhiệt độ, thí nghiệm được bố trí tăng ẩm bằng quạt hơi nước và phun nước nền nhà, tường nhà. Kết quả thí nghiệm sử dụng quạt hơi nước đã tăng ẩm độ được 13,8 - 18,6% đạt mức ẩm độ 76,6-84,7% ở giai đoạn tằm con và 73,5-76,7% ở giai đoạn tằm lớn so với đối chứng không tăng ẩm. Sử dụng biện pháp điều chỉnh ẩm độ bằng phun nước nền nhà, tường nhà trong phòng nuôi tằm có sử dụng điều hòa đã làm tăng ẩm độ 13,1 - 17,8%, đạt ẩm độ 75,5-82,7% ở giai đoạn tằm con và 72,6-75,5% giai đoạn tằm lớn so với đối chứng không tăng ẩm. Khi nuôi tằm trong phòng có sử dụng các biện pháp tăng ẩm đã cho năng suất kén đạt 15,33-15,57 kg/vòng trứng, so với đối chứng không tăng ẩm năng suất kén tăng 10,1 - 11,8%. Hiệu quả kinh tế khi sử dụng quạt hơi nước cao hơn 170.280 đồng/vòng trứng và phun nước nền nhà, tường nhà cao hơn 138.400 đồng/vòng trứng so với không tăng ẩm.
-
ẢNH HƯỞNG CỦA CÁC LOẠI THỨC ĂN TỰ NHIÊN LÊN CÁ NGỰA ĐEN (Hippocampus kuda Bleeker, 1852) GIAI ĐOẠN ƯƠNG GIỐNG
Abstract : 17 PDF: 17Nghiên cứu này nhằm đánh giá ảnh hưởng của các loại thức ăn khác nhau lên tốc độ tăng trưởng và tỷ lệ sống của cá ngựa đen (Hippocampus kuda) giai đoạn ương giống để góp phần phát triển nghề nuôi cá biển vùng đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL). Cá ngựa đen thí nghiệm có chiều dài ban đầu 9,8±0,9 mm/con và khối lượng 50,2±1,9 mg/con được bố trí ở mật độ 3 con/lít trong các bể nhựa 20 lít. Thí nghiệm được bố trí với 5 nghiệm thức thức ăn khác nhau và lặp lại 3 lần ở mỗi nghiệm thức bao gồm: Copepod; Artemia; Artemia (giàu hóa); Artemia + Artemia (đông lạnh); Artemia + Copepod. Kết quả nghiên cứu cho thấy nhiệt độ, pH, hàm lượng TAN và NO2 ở tất cả các nghiệm thức đều nằm trong khoảng thích hợp cho sự phát triển của cá ngựa đen giống. Cá có tăng trưởng chiều dài đạt 34,2 – 38,0 mm và không có sự khác biệt giữa các nghiệm thức. Tăng trưởng về khối lượng đạt cao nhất ở nghiệm thức Copepod (200,1 mg/con và 4,61 %/ngày) và nghiệm thức Artemia + Copepod (194,3 mg/con và 4,51%/ngày). Tỷ lệ sống đạt cao nhất ở hai nghiệm thức Artemia + Copepod (91,1%) và Artemia GH (91,1%) và khác biệt có ý nghĩa thống kê với nghiệm thức Artemia + Artemia (Đông lạnh) (75,6%). Sử dụng Artermia hoặc Copepod kết hợp với Artermia là nguồn thức ăn tự nhiên hiệu quả nhất trong ương giống cá ngựa đen.
-
KỸ THUẬT NUÔI VỖ BỐ MẸ VÀ ƯƠNG NUÔI ẤU TRÙNG CUA HOÀNG ĐẾ, Ranina ranina Linnaeus, 1758
Abstract : 29 PDF: 9Bài báo trình bày kết quả nghiên cứu kỹ thuật nuôi vỗ cua hoàng đế, Ranina ranina Linnaeus, 1758 bố mẹ và ương nuôi ấu trùng trôi nổi. Với các điều kiện nuôi vỗ phát dục cua hoàng đế trong bể xi măng gồm mật độ nuôi 2 con/m2, tỷ lệ đực cái 1:1, hàng ngày cho ăn thịt ghẹ và cá tươi kết hợp trộn vitamin E 800 mg/kg thức ăn, kết quả nuôi vỗ phát dục với tỷ lệ sống đạt > 97%, tỷ lệ đẻ lần 1 > 90%, tỷ lệ đẻ lần 2 đạt > 40%, sức sinh sản từ 20-25 vạn trứng/cua mẹ, tỷ lệ thụ tinh > 75%, tỷ lệ nở > 85%, sức sống ấu trùng Zoea 1 > 56%. Kỹ thuật ương nuôi ấu trùng giai đoạn trôi nổi từ Zoea 1 đến Zoea 7 đã xác định mật độ ương nuôi thích hợp từ 2-5 con/lít, thức ăn thích hợp cho giai đoạn Zoea 1 - Zoea 2 là artemia bung dù kết hợp luân trùng, các giai đoạn Zoea 3 đến Zoea 7, tùy theo kích thước ấu trùng, cho ăn artemia mới nở đến artemia sinh khối làm giàu bằng DHA selco trong 8 giờ, kết hợp ruốc, mysis và thịt ghẹ băm nhỏ, tỷ lệ sống ương đến Zoea 7 đạt được từ 14 – 17%. Kết quả nghiên cứu góp phần hoàn thiện công nghệ sản xuất giống nhân tạo loài hải sản quý hiếm này.
-
XÁC ĐỊNH NGUYÊN NHÂN HIỆN TƯỢNG NGAO CHẾT HÀNG LOẠT TẠI CÁC TỈNH PHÍA BẮC GIAI ĐOẠN 2016 - 2019
Abstract : 19 PDF: 14Nghề nuôi loài ngao Bến Tre (Meretrix lyrata) tại Việt Nam nói chung và các tỉnh ven biển miền Bắc nói riêng đã có nhiều bước phát triển mạnh mẽ cả về diện tích và sản lượng, mang lại nguồn thu chính cho nhiều nông hộ, góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội ở nhiều địa phương. Tuy nhiên, từ năm 2017 đến nay, hiện tượng ngao nuôi chết hàng loạt được ghi nhận ở một số địa phương như Hà Tĩnh, Thái Bình, Nam Định và Thanh Hóa với tỷ lệ chết 10 – 100% đã gây thiệt hại không nhỏ cho người nuôi. Trong nghiên cứu này, thông tin về hiện trạng nuôi, mẫu nước, mẫu trầm tích được tiến hành thu thập ngay tại thời điểm có hiện tượng ngao chết hàng loạt. Các chỉ tiêu được phân tích bao gồm các chỉ tiêu thủy lý hóa (nhiệt độ, độ mặn, pH, độ kiềm, COD, N-NH4, N-NH3, N-NO2, P-PO4, S2) và các chỉ tiêu bệnh (Herpesvirus, Perkinsus, vi khuẩn và Vibrio tổng số). Tác động tổng hợp các yếu tố gồm mật độ nuôi dày, sốc nhiệt hoặc sốc độ mặn, ngao nuôi bị nhiễm Perkinsus sp hoặc ngao bị yếu sau quá trình sinh sản là nguyên nhân gây hiện tượng ngao chết phổ biến tại các vùng nuôi.
-
TUYỂN CHỌN GIỐNG VI SINH VẬT ĐỂ SẢN XUẤT CHẾ PHẨM VI SINH MỚI (VNUA-MiosV) DÙNG XỬ LÝ CHẤT THẢI CHĂN NUÔI
Abstract : 13 PDF: 8Mục đích của nghiên cứu này nhằm tuyển chọn các chủng vi sinh vật có khả năng phân giải chuyển hóa chất hữu cơ cao và đảm bảo an toàn với sinh vật để sản xuất chế phẩm vi sinh mới dùng xử lý chất thải chăn nuôi. Kết quả đã tuyển chọn được 5 chủng vi sinh vật bao gồm: 3 chủng vi khuẩn (NH2, NH7, A2), 1 chủng nấm men (B.M3) và 1 chủng xạ khuẩn Streptomyces (S.X3) kết hợp với chủng Tricoderma trong bộ giống có sẵn. Các chủng này có khả năng phân hủy tốt các hợp chất hữu cơ như xenlulo, tinh bột, protein (đường kính vòng phân giải cơ chất > 3 cm), có khả năng lên men và khử mùi tốt, có độ an toàn cao đối với thực vật và động vật và không đối kháng nhau. Xác định được điều kiện nhân giống tối ưu cho các chủng vi sinh vật tuyển chọn, trong đó thích hợp ở pH trung tính, thời gian nuôi cấy từ 48-72 giờ với tốc độ lắc từ 200-250 vòng/phút. Chế phẩm vi sinh vật mới được nghiên cứu thể hiện khả năng phân giải chất thải chăn nuôi khá tốt, cho hiệu quả cao hơn (nhiệt độ đống ủ lên tới 74oC, mật độ vi sinh vật phân giải xellulo đạt 2,25.107 CFU/g) so với một số chế phẩm hiện có trên thị trường nên có tiềm năng thương mại hóa để ứng dụng trong xử lý chất thải chăn nuôi.
-
TINH SẠCH IMMUNOGLOBULIN G (IgG) TỪ MÁU HEO (Sus domesticus)
Abstract : 22 PDF: 12Nghiên cứu tinh sạch Immunoglobulin G (IgG) từ máu heo (Sus domesticus) được thực hiện trên ba dung môi kết tủa là ethanol, acetone và ammonium sulfate. Sau đó dung môi và tỷ lệ tủa tốt nhất sẽ được chọn để tiến hành sắc ký lọc gel trên gel Sephadex G-100 và sắc ký trao đổi ion trên gel DEAE CL-6B. Kết quả phân tích cho thấy khi tủa với ehtanol, acetone và amonium sulfate ở các nồng độ khác nhau thì kết tủa ammonium sulfate với nồng độ 30% - 40% là tối ưu và được chọn để tiến hành sắc ký lọc gel trên gel Sephadex G-100. Kết quả thu được một đỉnh duy nhất là F (9 - 13) có hàm lượng protein là 1.261 mg với hiệu suất thu hồi đạt 27% và kết quả nhuộm huỳnh quang cho thấy hàm lượng IgG thu được là 216 mg. Phân đoạn F (9 - 13) của sắc ký lọc gel tiếp tục được sắc ký trao đổi ion âm trên gel DEAE Sepharose CL-6B, thu được hai đỉnh F1 và F2 với F1 loại bỏ được phần lớn albumin, F1 có hàm lượng protein là 985 mg với hiệu suất thu hồi đạt 6,11% và hàm lượng IgG thu được là 120 mg.
-
SO SÁNH THÀNH PHẦN VÀ TÍNH ĐA DẠNG CỦA QUẦN XÃ BỌ HUNG (COLEOPTERA: SCARABAEIDAE) GIỮA CÁC KIỂU SỬ DỤNG ĐẤT TẠI KHU VỰC NÚI ĐÁ VÔI THUỘC KHU DỰ TRỮ THIÊN NHIÊN HỮU LIÊN, LẠNG SƠN
Abstract : 11 PDF: 8Nghiên cứu được thực hiện để đánh giá sự khác nhau trong thành phần, cấu trúc và tính đa dạng quần xã bọ hung theo các kiểu sử dụng đất chính thuộc hệ sinh thái núi đá vôi thuộc khu vực Khu Dự trữ Thiên nhiên Hữu Liên, tỉnh Lạng Sơn. Tổng số 80 bẫy hố có mồi nhử đã được thiết lập và phân bố đều cho bốn kiểu sử dụng đất chính tại khu vực nghiên cứu: đất nông nghiệp, đồng cỏ, rừng trồng keo (10 năm) và rừng thứ sinh (15 năm). Nghiên cứu đã ghi nhận được 36 loài bọ hung từ 1.647 cá thể thu bắt được. Trong đó, 27 loài bọ hung được ghi nhận lần đầu tiên ở tỉnh Lạng Sơn. Các kiểu sử dụng đất khác nhau ghi nhận sự khác nhau trong thành phần loài, số lượng cá thể và chỉ số đa dạng sinh học Shannon của quần xã bọ hung. Cấu trúc quần xã bọ hung ở sinh cảnh nông nghiệp có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê so với ở các kiểu sử dụng đất khác, bởi vì sinh cảnh nông nghiệp là nơi tập trung của các quần thể bọ hung nhỏ (< 10 mm) với kích thước quần thể lớn. Nghiên cứu bước đầu xác định được bốn loài bọ hung làm sinh vật chỉ thị cho sinh cảnh nông nghiệp, bao gồm: Onthophagus (Gibbonthophagus) luridipennis Bohemann, 1858, Onthophagus (Parascatonomus) tricornis Wiedemann, 1823, Onthophagus (Gibbonthophagus) rectecornutus Lansberge, 1963 và Onthophagus (Phanaeomorphus) dorsofasciatus Fairmaire, 1893 và một loài bọ hung chưa xác định được tên (Onthophagus sp 12) chỉ thị cho sinh cảnh rừng trồng.
-
ĐA DẠNG SINH HỌC VÀ SỰ PHÂN BỐ CỦA HỌ NẤM LỖ (Polyporaceae) TẠI KHU BẢO TỒN THIÊN NHIÊN THẦN SA - PHƯỢNG HOÀNG, TỈNH THÁI NGUYÊN
Abstract : 12 PDF: 17Bài báo này trình bày kết quả đánh giá đa dạng sinh học và sự phân bố của các loài thuộc họ Nấm lỗ (Polyporaceae) tại Khu Bảo tồn Thiên nhiên (BTTN) Thần Sa - Phượng Hoàng, tỉnh Thái Nguyên. Phương pháp sử dụng chủ yếu là thu mẫu, xử lý bảo quản, phân loại mẫu, đánh giá đa dạng và vẽ sơ đồ phân bố. Khu vực lấy mẫu là đai núi trung bình đến đai núi cao, đường núi dốc và hiểm trở và đặc biệt đây là khu rừng nguyên sinh tre, nứa xen kẽ trảng cỏ, chính vì vậy các loài được phân bố tương đối dàn trải. Nghiên cứu thu thập được 140 mẫu nấm, trong đó có 50 mẫu nấm thuộc họ Nấm lỗ với 12 chi và 18 loài khác nhau (trong đó có 2 loài chưa được phân loại, 16 loài đã được định danh). Loài có độ phong phú cao nhất là Lentinus sajor - caju và Trametes elegans, chiếm 12%, tiếp theo là các loài Cerrena unicolor, Cerioporus varius, Trametes versicolor, chiếm 8%.). Trong tổng số 12 chi được thu thập tại Khu BTTN Thần Sa - Phượng Hoàng, chi có độ phong phú về loài nhất là chi Trametes, chiếm 22,20%, sau đó là chi Cerioporus, chiếm 16,67%, chi Favolus, chiếm 11,10%, còn lại các chi khác mỗi chi chiếm 5,56%. Nghiên cứu này lần đầu tiên ghi nhận mới 16 loài nấm cho khu BTTN Thần Sa - Phượng Hoàng, tỉnh Thái Nguyên.
-
CÔNG TÁC TẠO QUỸ ĐẤT PHỤC VỤ PHÁT TRIỂN KINH TẾ - XÃ HỘI TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN LỤC NGẠN, TỈNH BẮC GIANG
Abstract : 24 PDF: 23Kết quả nghiên cứu cho thấy, trên địa bàn huyện Lục Ngạn, tỉnh Bắc Giang giai đoạn 2015 - 2019 có tổng số 33 dự án giải phóng mặt bằng (GPMB) phát triển khu dân cư, xây dựng công trình sự nghiệp, phát triển cơ sở hạ tầng công cộng và đất quốc phòng an ninh với tổng diện tích là 40,88 ha, liên quan đến 613 hộ gia đình cá nhân và đã bàn giao mặt bằng với diện tích 36,12 ha, đạt 86,36% so với tổng diện tích các dự án. Yếu tố chính sách đất đai và quy hoạch có ảnh hưởng rất lớn đến công tác phát triển quỹ đất với chỉ số ảnh hưởng trung bình lần lượt là 4,3 và 4,5 (sử dụng thang đo Likert). Theo kết quả đánh giá của các cá nhân và cán bộ có liên quan cho thấy, công tác tạo quỹ đất có ảnh hưởng rõ rệt đến thu nhập của người dân, cơ hội lựa chọn việc làm, đời sống văn hóa tinh thần, cơ sở hạ tầng và môi trường của địa phương (mức ảnh hưởng trung bình đạt > 3,85). Các nhóm giải pháp được đề xuất để nâng cao hiệu quả công tác tạo quỹ đất của huyện trong thời gian tới gồm: giải pháp về chính sách, giải pháp tài chính và giải pháp quy hoạch.
-
ĐÁNH GIÁ TÌNH HÌNH QUẢN LÝ SỬ DỤNG ĐẤT NÔNG NGHIỆP PHỤC VỤ CÔNG TÁC QUY HOẠCH SỬ DỤNG ĐẤT HUYỆN DIỄN CHÂU, TỈNH NGHỆ AN
Abstract : 18 PDF: 8Diễn Châu là huyện nằm trong vùng quy hoạch phát triển kinh tế trọng điểm của tỉnh Nghệ An. Công tác quản lý đất đai của huyện trong những năm qua đã đạt nhiều kết quả tích cực, góp phần khai thác và phát huy hiệu quả nguồn lực đất đai phục vụ mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội. Tình hình quản lý sử dụng đất nông nghiệp phục vụ công tác quy hoạch sử dụng đất trên địa bàn huyện thời gian qua cơ bản đã theo quy định của Nhà nước. Năm 2019 diện tích của huyện là 30.692,85 ha, trong đó diện tích đất nông nghiệp là 23.249,01 ha, đất phi nông nghiệp là 7.170,42 ha, đất chưa sử dụng 273,45 ha. Giai đoạn 2016-2020, huyện Diễn Châu đã thực hiện xây dựng xong 84 công trình dự án, với tổng diện tích là 387,00 ha. Để nâng cao hiệu quả quản lý sử dụng đất nông nghiệp phục vụ công tác quy hoạch sử dụng đất của huyện giai đoạn tới, cần thực hiện đồng bộ các giải pháp: Rà soát lại quy hoạch xây dựng nông thôn mới ở các xã; thanh tra, kiểm tra công tác giao đất, cho thuê đất, chuyển mục đích sử dụng đất; lập kế hoạch sử dụng đất hàng năm đúng với quy hoạch được duyệt; chuyển đổi hiệu quả đất nông nghiệp theo các mô hình nông nghiệp công nghệ cao, nông nghiệp thông minh 4.0.
-
TỐI ƯU QUI TRÌNH CHIẾT CAO TỪ VỎ HẠT ĐIỀU, XÁC ĐỊNH THÀNH PHẦN HOẠT CHẤT CHÍNH TRONG CAO CHIẾT NHẰM ĐÁNH GIÁ TÁC DỤNG DIỆT CÔN TRÙNG GÂY HẠI HIỆU QUẢ
Abstract : 21 PDF: 29Nghiên cứu này, lấy vỏ hạt điều làm nguồn nguyên liệu, tối ưu hoá quy trình chiết cao bởi các chỉ tiêu: dung môi chiết, tỷ lệ dung môi so với mẫu, nhiệt độ chiết mẫu, thời gian chiết mẫu. Kết quả thu được, ở nhiệt độ 50oC- 60oC, thời gian chiết là 3h, dung môi chiết lần 1, lần 2 zlàn-hexane, và lần 3 làetanol 95% thì đạt hiệu suất chiết tối đa là 25,4%. Quy trình chiết này được chứng minh đã đạt được độ ổn định. Bằng phương pháp GC/MS phân tích định lượng cao chiết vỏ hạt điều cho thấy có anacardic acid chiếm 39,59%, cardol chiếm 11,38%, methyl cardol chiếm 7,31% và một số hợp chất khác. Tinh sạch để thu hoạt chất, đã chiết bằng n-hexan và làm khan bằng Na2SO4thì thu được 42,8% anacadic acid trong cao chiết, hoạt chất này cho hiệu lực diệt bọ gậy muỗi Aedes aegypti (vector chính truyền virus gây bệnh sốt xuất huyết và Zika) đạt đến 100% ở nồng độ 0,05 mg/l sau 120 phút. Như vậy, vỏ hạt điều là một nguồn tài nguyên tái tạo đầy hứa hẹn để sản xuất chế phẩm sinh học mới có khả năng diệt côn trùng gây hại hiệu quả.








