SO SÁNH THÀNH PHẦN VÀ TÍNH ĐA DẠNG CỦA QUẦN XÃ BỌ HUNG (COLEOPTERA: SCARABAEIDAE) GIỮA CÁC KIỂU SỬ DỤNG ĐẤT TẠI KHU VỰC NÚI ĐÁ VÔI THUỘC KHU DỰ TRỮ THIÊN NHIÊN HỮU LIÊN, LẠNG SƠN
DOI:
https://doi.org/10.71254/4jqyty93Abstract
This study aimed to examine differences in community composition, structure and diversity of dung beetles across various land uses in karst ecosystems of Huu Lien Nature Reserve. In total, 80 baited - pitfall traps were deployed and distributed across four main land uses of the study area: agricultural land (corn fields), grasslands, Acacia plantations (10 years) and secondary forests (15 years) to collect dung beetles. In total, 36 dung - beetle species of 1647 individuals were recorded, of which, 27 species are new records for Lang Son Province. The examined land-uses showed significant differences in the species composition, abundance and Shannon diversity index of karst dung - beetles. Particularly, the community structure of dung beetles inhabiting the agricultural land statistically differed from those in the other land-uses, as the agricultural land dung beetles hosted diverse and abundant dung-beetle communities of small-bodied species (< 10 mm). For the first time, four indicator species of the agricultural land: Onthophagus (Gibbonthophagus) luridipennis Bohemann, 1858, Onthophagus (Parascatonomus) tricornis Wiedemann, 1823, Onthophagus (Gibbonthophagus) rectecornutus Lansberge, 1963 và Onthophagus (Phanaeomorphus) dorsofasciatus Fairmaire, 1893 and one unidentified indicator species of Acacia plantation: Onthophagus sp12 were identified.
Keywords:
Dung beetles, main land use types, karst ecosystemsTóm tắt
Nghiên cứu được thực hiện để đánh giá sự khác nhau trong thành phần, cấu trúc và tính đa dạng quần xã bọ hung theo các kiểu sử dụng đất chính thuộc hệ sinh thái núi đá vôi thuộc khu vực Khu Dự trữ Thiên nhiên Hữu Liên, tỉnh Lạng Sơn. Tổng số 80 bẫy hố có mồi nhử đã được thiết lập và phân bố đều cho bốn kiểu sử dụng đất chính tại khu vực nghiên cứu: đất nông nghiệp, đồng cỏ, rừng trồng keo (10 năm) và rừng thứ sinh (15 năm). Nghiên cứu đã ghi nhận được 36 loài bọ hung từ 1.647 cá thể thu bắt được. Trong đó, 27 loài bọ hung được ghi nhận lần đầu tiên ở tỉnh Lạng Sơn. Các kiểu sử dụng đất khác nhau ghi nhận sự khác nhau trong thành phần loài, số lượng cá thể và chỉ số đa dạng sinh học Shannon của quần xã bọ hung. Cấu trúc quần xã bọ hung ở sinh cảnh nông nghiệp có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê so với ở các kiểu sử dụng đất khác, bởi vì sinh cảnh nông nghiệp là nơi tập trung của các quần thể bọ hung nhỏ (< 10 mm) với kích thước quần thể lớn. Nghiên cứu bước đầu xác định được bốn loài bọ hung làm sinh vật chỉ thị cho sinh cảnh nông nghiệp, bao gồm: Onthophagus (Gibbonthophagus) luridipennis Bohemann, 1858, Onthophagus (Parascatonomus) tricornis Wiedemann, 1823, Onthophagus (Gibbonthophagus) rectecornutus Lansberge, 1963 và Onthophagus (Phanaeomorphus) dorsofasciatus Fairmaire, 1893 và một loài bọ hung chưa xác định được tên (Onthophagus sp 12) chỉ thị cho sinh cảnh rừng trồng.








