Số 3+4 (2026)
Bài viết
-
ĐÁNH GIÁ TIỀM NĂNG ĐẤT ĐAI TRÊN ĐỊA BÀN 28 XÃ/PHƯỜNG CỦA THÀNH PHỐ CẦN THƠ
Abstract : 3 PDF: 0Đánh giá tiềm năng đất đai là cơ sở khoa học quan trọng phục vụ công tác quy hoạch, quản lý và sử dụng đất hiệu quả, hướng tới phát triển nông nghiệp, nông thôn bền vững. Nghiên cứu này được thực hiện nhằm đánh giá tiềm năng đất đai trên địa bàn 28 xã/phường thuộc khu vực nghiên cứu tại thành phố Cần Thơ (thuộc địa bàn tỉnh Hậu Giang cũ). Phương pháp nghiên cứu được xây dựng theo hướng tiếp cận tích hợp, kết hợp điều tra thực địa, tổng hợp số liệu thứ cấp và phân tích không gian bằng hệ thống thông tin địa lý (GIS). Tiềm năng đất đai được đánh giá thông qua 5 nhóm chỉ tiêu chính, bao gồm: Phân mức chất lượng đất, chế độ nước, hiệu quả kinh tế, hiệu quả xã hội và hiệu quả môi trường. Các chỉ tiêu được chuẩn hóa, cho điểm và phân cấp nhằm xác định mức tiềm năng đất đai theo 3 mức: Thấp, trung bình và cao ở quy mô xã/phường. Kết quả nghiên cứu cho thấy, trong tổng diện tích 162.238,61 ha được đánh giá, diện tích đất có tiềm năng cao chiếm 82,60%, diện tích có tiềm năng trung bình chiếm 17,40% và không ghi nhận diện tích có tiềm năng thấp. Các xã Xà Phiên, Thạnh Hòa, Phương Bình và Vĩnh Thuận Đông là những khu vực có diện tích đất tiềm năng cao lớn nhất, chủ yếu nhờ chất lượng đất tốt, chế độ nước thuận lợi và hiệu quả kinh tế - xã hội cao của các loại hình sử dụng đất nông nghiệp. Một số xã như: Phú Hữu, Châu Thành và Đông Phước có tỷ lệ đất tiềm năng trung bình cao hơn, phản ánh những hạn chế nhất định về điều kiện tự nhiên và hạ tầng sản xuất.
-
ẢNH HƯỞNG CỦA THỜI ĐIỂM GIEO ĐẾN SINH TRƯỞNG VÀ NĂNG SUẤT CỦA GIỐNG LẠC LV20 TRONG VỤ THU ĐÔNG Ở MỘT SỐ TỈNH PHÍA BẮC
Abstract : 4 PDF: 0Nghiên cứu được thực hiện nhằm đánh giá ảnh hưởng của thời điểm gieo đến sinh trưởng và năng suất của giống lạc LV20 tại thành phố Hà Nội, tỉnh Thái Nguyên và Nghệ An trong vụ thu đông năm 2023. Thí nghiệm được bố trí theo khối ngẫu nhiên đầy đủ (RCB), 3 lần nhắc lại, diện tích ô thí nghiệm 6 m2 (5 × 1,2 m); nền phân bón cho 1 ha là: 30 kg N, 90 kg P2O5, 60 kg K2O, 500 kg vôi bột, 1 tấn phân hữu cơ vi sinh Sông Gianh; mật độ trồng: 40 cây/m2 (25 x 20 x 2 hạt/hốc) với 5 công thức tương ứng với 5 thời điểm gieo: Ngày 28/8, 4/9, 11/9, 18/9 và 25/9/2023 (tại thành phố Hà Nội, tỉnh Thái Nguyên); 21/8, 28/8, 4/9, 11/9 và 18/9 (tại tỉnh Nghệ An). Kết quả cho thấy, thời điểm gieo thích hợp nhất cho giống lạc LV20 trong vụ thu đông từ ngày 18/8 - 4/9 (tại thành phố Hà Nội, tỉnh Thái Nguyên) và từ ngày 21/8 - 28/8 tại tỉnh Nghệ An, cây lạc sinh trưởng, phát triển tốt với số quả chắc/cây, khối lượng 100 quả, khối lượng 100 hạt và tỷ lệ nhân vượt trội. Năng suất thực thu tại hai thời điểm gieo đạt cao nhất và sai khác có ý nghĩa so với các thời điểm gieo còn lại ở mức xác suất 95%; lần lượt là 3,53 - 3,60 tấn/ha tại tỉnh Nghệ An; 3,66 - 3,72 tấn/ha tại thành phố Hà Nội và 3,46 - 3,73 tấn/ha tại tỉnh Thái Nguyên.
-
NHÂN GIỐNG in vitro CÂY SA NHÂN ĐỎ (Amomum villosum Lour.)
Abstract : 0 PDF: 0Sa nhân đỏ (Amomum Villosum Lour.) thuộc họ gừng (Zingiberaceae) là một loài dược liệu quý. Quả Sa nhân đỏ chứa tinh dầu, với nhiều hợp chất hóa học giá trị như: Camphen, β-pinen, limonen, camphor, borneol, saponin… có tác dụng ức chế hoạt động của nhiều loại vi khuẩn. Bài báo này trình bày kết quả thí nghiệm nhân giống in vitro cây Sa nhân đỏ. Hom thân rễ mang mầm chồi của cây Sa nhân đỏ được khử trùng bằng dung dịch HgCl2 nồng độ 0,05% trong thời gian 13 phút là hiệu quả cao với tỷ lệ mẫu sạch đạt 87,78% và tỷ lệ mẫu bật mầm đạt cao nhất 55,56%. Công thức cấy phù hợp là lấy dao mổ chẻ làm đôi chồi lẻ Sa nhân đỏ theo hướng dọc thân và đặt nằm áp mặt cắt xuống môi trường, cấy từ 5 - 7 mẫu/bình môi trường cho số chồi/cụm sau tái sinh cao nhất 3,02 chồi/cụm sau 30 ngày. Khả năng tái sinh chồi tốt nhất đạt được trên môi trường bổ sung BAP 1,0 mg/l + KIN 1,0 mg/l với số chồi/cụm đạt cao nhất 5,32 chồi và chiều dài chồi là 6,32 cm sau 40 - 45 ngày. Giá thể phù hợp được sử dụng là giá thể bao gồm các thành phần ruột bầu với tỷ lệ 50% đất phù sa + 30% cát sông + 20% trấu hun cho tỷ lệ cây sống đạt 91,11% và chiều cao cây đạt 7,0 cm sau 30 ngày đưa cây ra vườn ươm.
-
ĐÁNH GIÁ KHẢ NĂNG TÍCH LŨY CARBON HỮU CƠ ĐẤT DƯỚI ẢNH HƯỞNG CỦA ĐIỀU KIỆN KHÍ HẬU, TÍNH CHẤT ĐẤT VÀ HOẠT ĐỘNG CANH TÁC
Abstract : 1 PDF: 0Sự tích lũy carbon hữu cơ trong đất ảnh hưởng đến sức khỏe đất, sự hấp thụ CO2 khí quyển và cô lập carbon trong đất, đóng góp quan trọng đến sự ấm lên toàn cầu. Vì vậy, mục tiêu của nghiên cứu này là đánh giá khả năng tích lũy carbon hữu cơ trong đất (SOC) dưới các điều kiện khí hậu, thổ nhưỡng, tính chất chất đất và loại hình sử dụng đất (keo, lúa, thanh trà, đất đồng cỏ và đất trống). Nghiên cứu sử dụng phương trình hồi quy tuyến tính đa biến chạy trên phần mềm SPSS để xây dựng mô hình và đánh giá các yếu tố ảnh hưởng đến trữ lượng SOC. Nghiên cứu được tiến hành tại thành phố Huế. Kết quả cho thấy, 4 yếu tố đất gồm: pH, N tổng số, K2O tổng số và chất hữu cơ bề mặt quyết định 85,4% sự thay đổi của SOC. Trong đó, chất hữu cơ bề mặt tuyến tính tốt nhất với trữ lượng SOC (R2 = 0,74). Đối với loại hình sử dụng đất ít bị xáo trộn, sự tương quan giữa giá trị pH đất, chất hữu cơ bề mặt với trữ lượng SOC là tốt hơn so với các yếu tố khác. Ngược lại, hàm lượng N và K2O tương quan tốt hơn với SOC trong các loại hình sử dụng đất có bón phân bổ sung và làm đất.
-
ẢNH HƯỞNG CỦA CÁC DẠNG PHÂN VÔ CƠ (N, P, K) ĐẾN NĂNG SUẤT LÚA TRÊN ĐẤT PHÙ SA VÙNG ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG
Abstract : 0 PDF: 0Nghiên cứu được thực hiện nhằm xác định hiệu quả nông học của các dạng phân bón vô cơ (N, P, K) đến lúa hàng hóa tại vùng đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL), làm cơ sở để xác định, điều chỉnh lượng bón phù hợp, nâng cao năng suất, hiệu quả kinh tế cho người dùng. Nghiên cứu được thực hiện tại tỉnh Đồng Tháp trong hai năm 2023 - 2024 bằng thí nghiệm đồng ruộng (on farm), bố trí theo thí nghiệm chính quy, có nhắc lại với các dạng phân đạm, gồm: Urê vàng (urê bọc bằng N (n-Butyl) thiophosphoric triamide), urê xanh (urê được bọc bằng N-KEEP, giảm thủy phân), urê đen (urê được bọc bằng axit humic), P-Avail (DAP được bọc bằng polyme) so với phân urê thông thường và DAP thông thường. Kết quả cho thấy, các dạng urê cải tiến (đặc biệt là urê vàng và urê xanh) và phân hỗn hợp NPK chuyên dùng giúp tăng năng suất lúa từ 7,4 - 12,8% so với công thức bón phân đơn; trong đó, phân hỗn hợp NPK chuyên dùng đạt năng suất cao và ổn định nhất ở cả ba vụ. Hiệu lực phân bón đạt cao nhất ở công thức bón phân hỗn hợp NPK chuyên dùng (42,6 kg/kg), tiếp đến urê vàng và urê xanh (42 kg/kg), cao hơn 12 - 13% so với phân đơn. P-Avail không thể hiện lợi thế rõ rệt trong điều kiện đất phù sa chua. Về hiệu quả kinh tế, urê vàng cho lợi nhuận cao nhất (tăng 12,5%), tiếp theo là urê xanh và phân hỗn hợp NPK chuyên dùng; P-Avail tăng nhẹ 2,4%. Kết quả khẳng định tiềm năng của các dạng phân bón cải tiến, đặc biệt là các dạng urê ổn định, trong việc nâng cao năng suất và hiệu quả sử dụng dinh dưỡng trên đất phù sa vùng ĐBSCL.
-
NGHIÊN CỨU ĐIỀU TRA, ĐÁNH GIÁ HIỆN TRẠNG PHỤ PHẨM CỦA CÂY THANH LONG, KỸ THUẬT THU GOM VÀ XỬ LÝ TẠI CÁC VÙNG TRỒNG TẬP TRUNG
Abstract : 1 PDF: 0Việc sử dụng hiệu quả phụ phẩm nông nghiệp nói chung và phụ phẩm thanh long nói riêng có vai trò quan trọng trong duy trì nông nghiệp bền vững và thúc đẩy kinh tế tuần hoàn, góp phần nâng cao thu nhập cho nông dân. Các phụ phẩm thanh long gồm cành, hoa và quả, trong đó cành thanh long chiếm tỷ lệ lớn nhất, tập trung nhiều vào các tháng 5 - 7 hằng năm. Hiện nay, phần lớn phụ phẩm này bị bỏ lại trong vườn, làm tăng nguy cơ lây lan sâu bệnh. Chỉ khoảng 16,67% hộ nông dân tận dụng để xử lý thành phân bón cho chính cây thanh long. Mặc dù một số địa phương đã triển khai quy trình xử lý phụ phẩm, nhưng vẫn còn gặp khó khăn do chi phí lao động cao và thời gian hoai mục dài. Do đó, cần có thêm các nghiên cứu và giải pháp cải tiến để nâng cao hiệu quả tái sử dụng phụ phẩm thanh long.
-
CHẤT LƯỢNG TINH ĐÔNG LẠNH CỌNG RẠ CỦA BÒ ĐỰC GIỐNG SENEPOL
Abstract : 0 PDF: 0Nghiên cứu được thực hiện để đánh giá chất lượng tinh dịch đông lạnh của 05 bò đực giống Senepol nhập nội nuôi tại Trung tâm sản xuất tinh bò chất lượng cao thuộc Công ty cổ phần Giống gia súc Hà Nội. Phương pháp đánh giá các chỉ tiêu số lượng, chất lượng tinh đông lạnh theo TCVN 8925: 2012. Kết quả nghiên cứu cho thấy, chất lượng tinh bò Senepol đông lạnh cọng rạ được sản xuất tại Việt Nam đảm bảo theo TCVN 8925 : 2012. Số liều tinh cọng rạ sản xuất được bình quân trong 1 lần khai thác đạt tiêu chuẩn là 159,23 liều. Hoạt lực tinh trùng sau giải đông của tinh cọng rạ tại các thời điểm 24 giờ, 1 tuần, 1 tháng lần lượt là 67,59%; 66,57%; 66,20%. Tỷ lệ hoạt lực tinh trùng sau giải đông đạt tiêu chuẩn theo quy định ≥ 40% là 97,40%. Mùa vụ có ảnh hưởng tới khả năng sản xuất tinh cọng rạ ở bò đực giống Senepol, khả năng sản xuất tinh cọng rạ trong vụ đông - xuân cao hơn vụ hè - thu.
-
NGHIÊN CỨU ẢNH HƯỞNG CỦA CHITOSAN KẾT HỢP TINH DẦU LÁ ỔI ĐẾN CHẤT LƯỢNG THỊT LỢN TƯƠI TRONG QUÁ TRÌNH BẢO QUẢN LẠNH
Abstract : 3 PDF: 0Nghiên cứu này nhằm đánh giá tác động của việc xử lý phức hợp chitosan (CS) kết hợp với tinh dầu lá ổi (TDLO) đến chất lượng thịt lợn trong quá trình bảo quản lạnh 3 ± 1°C. Thịt nạc mông được xử lý bằng cách nhúng vào dung dịch CS 1% và dung dịch CS kết hợp với TDLO 0,5% (CS - TDLO). Sau xử lý, mẫu thịt được làm khô, xếp vào khay xốp, bọc bằng màng PE và bảo quản ở nhiệt độ lạnh 3 ± 1°C. Kết quả cho thấy, mẫu xử lý bằng CS-TDLO sau 15 ngày bảo quản tổng số vi sinh vật hiếu khí, E. coli nằm trong giới hạn cho phép, giá trị pH của mẫu là 6,12, đạt tiêu chuẩn TCVN 12429-1:2018, chỉ số peroxide là 0,74 meqO2/kg, thấp hơn so với mẫu đối chứng (2,51 meqO2/kg), thịt vẫn giữ được màu đỏ và mùi ổi không đáng chú ý và có thể chấp nhận được. Trong khi đó, mẫu đối chứng (nhúng trong nước khử ion) chỉ có thời gian bảo quản là 9 ngày. Nghiên cứu góp phần khẳng định tiềm năng ứng dụng kết hợp giữa CS và các hợp chất tự nhiên trong bảo quản thịt ở điều kiện lạnh.
-
ẢNH HƯỞNG CỦA MỘT SỐ THÔNG SỐ CÔNG NGHỆ ĐẾN CHẤT LƯỢNG CẢM QUAN CỦA NƯỚC CỐT NGHÊU
Abstract : 6 PDF: 0Nghiên cứu được thực hiện nhằm đánh giá ảnh hưởng của một số thông số công nghệ đến chất lượng cảm quan của sản phẩm nước cốt nghêu, làm cơ sở khoa học cho việc lựa chọn các điều kiện chế biến phù hợp trong thực tiễn. Thí nghiệm được bố trí theo phương pháp đơn yếu tố, trong đó lần lượt khảo sát ảnh hưởng của nồng độ muối và thời gian ngâm rửa nguyên liệu, thời gian hấp tách thịt, tỷ lệ bổ sung hỗn hợp dịch gừng - sả, tỷ lệ phối trộn muối - đường và nhiệt độ cô đặc. Chất lượng cảm quan của sản phẩm được đánh giá thông qua các chỉ tiêu màu sắc, mùi, vị, hậu vị và mức độ chấp nhận chung của người thử. Kết quả nghiên cứu cho thấy, các thông số công nghệ khảo sát đều có ảnh hưởng rõ rệt đến chất lượng cảm quan của nước cốt nghêu. Nồng độ muối ngâm 2,5% kết hợp với thời gian ngâm 6 giờ cho hiệu quả làm sạch nguyên liệu tốt và điểm cảm quan cao. Thời gian hấp 3 phút giúp tách thịt hiệu quả đồng thời duy trì màu sắc và chất lượng thịt nghêu. Việc bổ sung tỷ lệ bổ sung hỗn hợp dịch gừng - sả 3% tạo được sự hài hòa về mùi và vị, trong khi tỷ lệ phối trộn 0,2% muối và 1,25% đường cho điểm chấp nhận cảm quan cao nhất. Nhiệt độ cô đặc 65°C được ghi nhận là phù hợp nhất để duy trì và nâng cao chất lượng cảm quan của sản phẩm. Nhìn chung, kết quả nghiên cứu cho thấy, việc kiểm soát hợp lý các thông số công nghệ trong từng công đoạn chế biến có vai trò quan trọng trong việc cải thiện chất lượng cảm quan của nước cốt nghêu. Những kết quả này cung cấp cơ sở khoa học có giá trị cho việc định hướng lựa chọn điều kiện chế biến phù hợp, góp phần nâng cao giá trị và khả năng ứng dụng của sản phẩm nước cốt nghêu trong thực tiễn sản xuất.
-
ẢNH HƯỞNG CỦA MỘT SỐ YẾU TỐ CÔNG NGHỆ TỚI CHẤT LƯỢNG TRÀ HỒNG SÂM TÚI LỌC
Abstract : 0 PDF: 0Sơn mật, hoa nhài, cỏ ngọt là 3 loại thảo dược giàu hợp chất có hoạt tính sinh học, có lợi cho sức khoẻ. Bài báo phản ánh kết quả nghiên cứu ảnh hưởng của một số yếu tố công nghệ trong chế biến tới chất lượng trà hồng sâm túi lọc. Kết quả nghiên cứu cho thấy, nhiệt độ và thời gian sao phù hợp cho sơn mật là 800C và 40 phút; hoa nhài là 700C và 30 phút, cỏ ngọt là 900C và 35 phút. Sau khi làm khô, thảo dược được nghiền và sàng, thu được những phần tử nằm dưới lưới số 18 x 18 và trên lưới số 44 x 44, là loại có kích thước phù hợp cho đóng túi lọc. Sau khi sàng, tiến hành phối trộn sơn mật - hoa nhài - cỏ ngọt theo tỷ lệ (%) là 75 – 15 - 10. Kết quả thu được sản phẩm có nước pha màu vàng, trong sáng; hương thơm đặc trưng mạnh; vị ngọt vừa, hài hòa, hấp dẫn. Điểm cảm quan chất lượng là 18,0; xếp loại khá. Sản phẩm được 80% số người yêu thích theo phương pháp điều tra thị hiếu. Các chỉ tiêu lý hóa và chỉ tiêu an toàn thực phẩm đều phù hợp với TCVN 7975:2008, QCVN 8-1:2011/BYT, QCVN 8-2:2011/BYT, QCVN 8-3:2012/BYT.
-
NGHIÊN CỨU ẢNH HƯỞNG CỦA PHƯƠNG PHÁP TRÍCH LY VÀ ĐÁNH GIÁ CHẤT LƯỢNG POLYSACCHARIDE THU NHẬN TỪ XƯƠNG RỒNG NOPAL (Opuntia spp.)
Abstract : 1 PDF: 0Nghiên cứu này đánh giá hiệu quả thu hồi polysaccharide từ xương rồng Nopal (Opuntia spp.) bằng ba phương pháp: ngâm chiết, trích ly hỗ trợ siêu âm (UAE) và trích ly enzyme kết hợp siêu âm (UAEE). Ở phương pháp ngâm chiết, khảo sát tỉ lệ nguyên liệu:dung môi và thời gian chiết cho thấy hiệu suất trích ly polysaccharide thô cao nhất đạt 7,92% và carbohydrate trong polysaccharide thô đạt 5,58%. Phương pháp UAE, với các điều kiện siêu âm khác nhau, cải thiện hiệu suất trích ly polysaccharide thô 9,01% và carbohydrate 6,44%. UAEE cho kết quả vượt trội, đặc biệt khi kết hợp 0,5% cellulase và 0,5% pectinase, thu được 18,12% polysaccharide thô và 13,02% carbohydrate. Phổ FTIR ghi nhận sự hiện diện của các nhóm chức đặc trưng của polysaccharide như -OH, -CH, -C=O, C=C và C-O-C. Kết quả cho thấy UAEE không chỉ tăng hàm lượng thu hồi mà còn bảo toàn cấu trúc hóa học, cho thấy tiềm năng ứng dụng trong phát triển vật liệu màng sinh học phân hủy tự nhiên.
-
ĐÁNH GIÁ HIỆN TRẠNG MÁI HỨNG VÀ TIỀM NĂNG THU GOM, TÁI SỬ DỤNG NƯỚC MƯA KHU VỰC THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Abstract : 2 PDF: 0Thu gom và tái sử dụng nước mưa (rainwater harvesting - RWH) được xem là một giải pháp hạ tầng xanh giúp bổ sung nguồn nước phi ăn uống, giảm dòng chảy mặt và hỗ trợ thích ứng ngập đô thị. Nghiên cứu đánh giá hiện trạng mái hứng và hạ tầng thoát nước mái khu vực thành phố Hồ Chí Minh (trước sáp nhập) trên cơ sở điều tra 270 công trình theo 5 vùng đô thị; kết hợp ước tính diện tích mái hứng từ phân tích viễn thám và đánh giá chất lượng nước mưa chảy tràn qua mái theo thời gian (100 mẫu) trong trận mưa. Kết quả cho thấy, mái tôn/kim loại chiếm ưu thế (81,9% mẫu khảo sát); 74,8% công trình có máng xối hoạt động tốt, nhưng 19,6% không có máng xối. Lượng nước mưa có thể thu gom lý thuyết đạt khoảng 216,5 triệu m³/năm, trong đó nhóm nhà ở chiếm 86,8%. Chất lượng nước chảy tràn đầu trận có TDS và EC cao hơn 54 - 81% so với giai đoạn ổn định, khẳng định sự cần thiết của cấu phần tách nước đầu trận và lọc thô. Xu thế gia tăng số ngày mưa lớn (R30 mm) tại nhiều trạm (1,5 - 2,8 ngày/thập kỷ), gợi ý cần cập nhật dung tích điều tiết và chiến lược vận hành bể chứa theo mùa. Từ các kết quả trên, nghiên cứu đề xuất khung giải pháp RWH gắn với “khu thu trữ nước” phân tán nhằm giảm đáng kể lưu lượng đỉnh và áp lực lên hệ thống thoát nước đô thị. Diện tích mái hứng được ước tính bằng viễn thám - GIS trên nền tảng Google Earth Engine (GEE) với lớp dấu chân công trình Open Buildings V3.
-
ĐÁNH GIÁ CÁC GIẢI PHÁP MÔ HÌNH “THÀNH PHỐ BỌT BIỂN” TRONG PHÁT TRIỂN ĐÔ THỊ TẠI THÀNH PHỐ VĨNH LONG CŨ (NAY LÀ CÁC PHƯỜNG LONG CHÂU, THANH ĐỨC, PHƯỚC HẬU, TÂN HẠNH VÀ TÂN NGÃI, TỈNH VĨNH LONG)
Abstract : 0 PDF: 0Mục tiêu của nghiên cứu này là đánh giá các giải pháp của mô hình “thành phố bọt biển” đến vấn đề ngập lụt đô thị tại các phường thuộc thành phố Vĩnh Long (cũ). Nghiên cứu sử dụng phương pháp điều tra và thống kê các vị trí ngập. Đồng thời kết hợp thống kê mảng xanh, sử dụng đất để đề xuất, tính toán theo từng loại hạ tầng xanh. Kết quả khảo sát và phân tích cho thấy, các giải pháp hạ tầng xanh đóng vai trò quan trọng trong việc kiểm soát dòng chảy bề mặt và giảm thiểu nguy cơ ngập úng tại đô thị. Qua phân tích số liệu và biểu đồ, bờ kè trồng cỏ được xác định là giải pháp hiệu quả nhất, nhờ khả năng giữ lại lượng nước lớn tại hầu hết các phường. Mái nhà xanh cũng mang lại kết quả tích cực, đặc biệt tại các khu vực có diện tích mái nhà được triển khai rộng rãi. Trong khi đó, rãnh lọc sinh học và vỉa hè thấm nước tuy có hiệu quả thấp hơn nhưng vẫn góp phần hỗ trợ trong việc phân tán và làm chậm dòng chảy. Nghiên cứu khẳng định, việc áp dụng đồng bộ nhiều giải pháp hạ tầng xanh sẽ giúp tối ưu hóa hiệu quả giảm dòng chảy, tăng cường khả năng thích ứng của đô thị trước biến đổi khí hậu và các hiện tượng thời tiết cực đoan.
-
ĐỘNG THÁI CHẤT LƯỢNG NƯỚC DƯỚI ĐẤT VÀ ĐỀ XUẤT QUẢN LÝ TÀI NGUYÊN NƯỚC BỀN VỮNG TẠI TỈNH HẬU GIANG
Abstract : 3 PDF: 0Nghiên cứu này tập trung đánh giá diễn biến chất lượng nước dưới đất trên địa bàn tỉnh Hậu Giang (nay thuộc thành phố Cần Thơ) trong giai đoạn 5 năm, từ năm 2019 đến năm 2023. Số liệu quan trắc định kỳ từ các tầng chứa nước chính, bao gồm: Pleistocen dưới (qp1), Pleistocen giữa-trên (qp2-3), Pleistocen trên (qp3) và Holocen (qh), tại các vị trí đại diện trên toàn tỉnh đã được thu thập, tổng hợp và phân tích. Các thông số chất lượng nước chính được xem xét bao gồm: pH, độ cứng tổng, tổng chất rắn hòa tan (TDS), sắt (Fe), clorua (Cl-), amoni (N-NH4+), nitrit (N-NO2-), sunfat (SO42-), asen (As) và chỉ số Permanganat. Kết quả phân tích cho thấy, chất lượng nước dưới đất có những biến động nhất định qua các năm và giữa các tầng chứa nước khác nhau. Một số thông số như: Độ cứng tổng, clorua, amoni và chỉ số Permanganat có xu hướng vượt giới hạn cho phép theo QCVN 09-MT:2015/BTNMT và QCVN 09:2023/BTNMT tại một số vị trí và thời điểm cụ thể, đặc biệt ở các tầng chứa nước nông. Các yếu tố tự nhiên như đặc điểm địa chất thủy văn, điều kiện khí hậu, cùng với các hoạt động nhân sinh như phát triển nông nghiệp, công nghiệp và đô thị hóa được nhận định là những yếu tố chính tác động đến chất lượng nước dưới đất trong khu vực. Nghiên cứu này cung cấp cơ sở khoa học quan trọng, góp phần hỗ trợ công tác quản lý, bảo vệ và khai thác bền vững tài nguyên nước dưới đất tại tỉnh Hậu Giang (nay là thành phố Cần Thơ) trong bối cảnh phát triển kinh tế - xã hội và biến đổi khí hậu.
-
XÁC ĐỊNH THỜI ĐIỂM TÍCH VÀ XẢ NƯỚC CỦA HỒ TONLE SAP QUA PHÂN TÍCH LƯU LƯỢNG THEO TUẦN TẠI CÁC TRẠM KRATIE, TÂN CHÂU VÀ CHÂU ĐỐC
Abstract : 0 PDF: 0Nghiên cứu này phân tích chuỗi lưu lượng thực đo giai đoạn 1980 - 2024 tại các trạm Kratie, Tân Châu và Châu Đốc nhằm xác định biến động ΔQ theo tuần và thời điểm tích - xả nước của hồ Tonle Sap. Dữ liệu được tổng hợp thành chuỗi ΔQ = (QTânChâu + QChâuĐốc) - QKratie và chia thành 02 giai đoạn: 1980 - 2009 (trước thủy điện dòng chính) và 2010 - 2024 (sau khi nhiều hồ chứa vận hành). Kết quả cho thấy, hồ Tonle Sap vẫn duy trì 02 pha điều tiết tự nhiên, nhưng chu kỳ tích - xả đã bị kéo giãn và trễ pha rõ rệt. Pha tích nước xuất hiện sớm hơn khoảng nửa tháng, trong khi pha xả muộn hơn 1 - 2 tuần, biên độ ΔQ giảm từ 13,5 × 10³ xuống 12,0 × 10³ m³/s. Kiểm định Mann - Kendall cho thấy, xu thế giảm có ý nghĩa thống kê (p < 0,05) đối với cả ΔQ cực tiểu và cực đại. Những biến đổi này phản ánh tác động tổng hợp của vận hành thủy điện thượng nguồn, thay đổi mưa mùa và biến đổi khí hậu, dẫn đến suy giảm chức năng điều tiết tự nhiên của hồ Tonle Sap và dòng nền mùa khô ở hạ lưu Mekong. Phương pháp phân tích ΔQ theo tuần chứng minh hiệu quả trong nhận diện biến động ngắn hạn và xu thế điều tiết, cung cấp cơ sở khoa học quan trọng cho quản lý và điều hành nguồn nước xuyên biên giới vùng Mekong - đồng bằng sông Cửu Long.
-
NGHIÊN CỨU ỨNG DỤNG GOOGLE EARTH ENGINE PHÂN TÍCH HẠN NÔNG NGHIỆP DỰA TRÊN CHỈ SỐ NDVI, LST VÀ VTCI TRÊN LƯU VỰC SÔNG ĐỒNG NAI
Abstract : 1 PDF: 0Hạn hán là một hiện tượng khí hậu cực đoan, gây tác động sâu rộng đến sản xuất nông nghiệp và chiến lược quản lý tài nguyên nước trên lưu vực sông Đồng Nai. Nghiên cứu này sử dụng ảnh vệ tinh Landsat 8 Collection 2 Level-1 (TOA) kết hợp với nền tảng Google Earth Engine (GEE) để xây dựng bản đồ phân vùng hạn hán nông nghiệp cho khu vực ngoài phạm vi phục vụ của các công trình thủy lợi, thông qua 3 chỉ số NDVI, LST và VTCI. Ảnh Landsat 8 trong giai đoạn mùa khô hằng năm (2014 - 2024) được xử lý để trích xuất NDVI từ phản xạ đỉnh khí quyển (TOA reflectance) và LST từ bức xạ nhiệt Band 10 sau các bước chuyển đổi nhiệt độ sáng và hiệu chỉnh phát xạ. Từ NDVI và LST, chỉ số VTCI được tính toán nhằm đánh giá mức độ khô hạn và phân cấp hạn hán theo bốn mức độ. Kết quả cho thấy, VTCI có mối tương quan mạnh và ổn định với các chỉ số tham chiếu SPEI và VHI. Đồng thời, bản đồ phân vùng hạn hán xây dựng từ ảnh viễn thám thể hiện mức độ phù hợp cao khi so sánh với dữ liệu điều tra thực địa tại 116 điểm khảo sát trên toàn lưu vực. Việc ứng dụng GEE cho phép xử lý nhanh khối lượng lớn dữ liệu ảnh Landsat, đảm bảo tính đồng nhất chuỗi thời gian và nâng cao hiệu quả giám sát. Điều này khẳng định, GEE là công cụ quan trọng, hỗ trợ quản lý tài nguyên nước và xây dựng chiến lược thích ứng hạn hán theo hướng bền vững.
-
ĐÁNH GIÁ ĐẶC ĐIỂM TĂNG TRƯỞNG VÀ TRỮ LƯỢNG LOÀI MÂY NƯỚC MỠ (Calamus sp.) TẠI THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG
Abstract : 1 PDF: 0Nghiên cứu đánh giá đặc điểm tăng trưởng và trữ lượng loài Mây nước mỡ (Calamus sp.) tại thành phố Đà Nẵng đã thiết lập 975 ô tiêu chuẩn (200 m²/ô) đại diện cho các trạng thái rừng, đo chiều dài thân mây, lượng tăng trưởng hàng năm và các chỉ tiêu lý tính. Kết quả nghiên cứu cho thấy, đường kính thân trung bình 12,7 mm, thể tích 1 m mây tươi 130,2 cm³, khối lượng tươi trung bình 144,5 g/m. Phân bố số cây tập trung chủ yếu ở cấp chiều dài dưới 1 m (65,6%), giảm dần đến cấp 4 - 5 m rồi tăng ở cấp > 5 m. Tăng trưởng chiều dài trung bình sau 1 năm là 2,2 – 2,3 m với lượng tăng trưởng tăng dần từ cấp 1 đến cấp 5 (từ 0,34 - 3,31 m/năm) và giảm ở cấp 6 (3,15 m/năm). Mối tương quan giữa tăng trưởng và chiều dài thân theo mô hình parabol Y = -0,0285X² + 0,5681X + 0,8061 (R² cao nhất), với đỉnh tăng trưởng tại khoảng 10 m. Trữ lượng tươi tổng cộng tại BQLRPH Nam Giang đạt 825,1 tấn (cao nhất ở trạng thái rừng nghèo), tại BQLRPH Đông Giang là 470,3 tấn (cao nhất ở rừng trung bình).
-
ĐẶC ĐIỂM LÂM HỌC CỦA RỪNG TRỒNG BẠCH ĐÀN LAI TẠI KHU VỰC LA NGÀ, TỈNH ĐỒNG NAI
Abstract : 0 PDF: 0Bài báo này trình bày đặc điểm lâm học của rừng trồng Bạch đàn lai UP (UP35, UP54, UP75) tại khu vực La Ngà thuộc tỉnh Đồng Nai. Nghiên cứu được thực hiện nhằm đánh giá tỉ lệ sống, sinh trưởng và tính ổn định của 3 dòng rừng trồng Bạch đàn lai sau 7 năm trồng. Phương pháp sinh thái học thực nghiệm đã được sử dụng để phân tích sinh trưởng và tính ổn định của 3 dòng Bạch đàn lai, từ đó chọn dòng Bạch đàn lai cho năng suất cao và ổn định với môi trường. Kết quả nghiên cứu cho thấy: (1) ba dòng Bạch đàn lai bị đào thải tự nhiên rất mạnh sau 7 năm trồng. Các cây gỗ hình thành rừng Bạch đàn lai sau 7 năm trồng có sự phân hóa rất mạnh về kích thước. Rừng trồng Bạch đàn lai UP35 có tỉ lệ cây tốt và trung bình cao hơn so với rừng trồng Bạch đàn lai UP54 và UP74; (2) ba dòng rừng trồng Bạch đàn lai có tính ổn định kém với sự thay đổi của môi trường. Kích thước đường kính và chiều cao của cây bình quân, tiết diện ngang và trữ lượng của rừng trồng Bạch đàn lai UP74 là lớn nhất, kế đến là UP54 và thấp nhất là UP35; (3) theo tiêu chuẩn tỉ lệ sống cao, cấu trúc ổn định, tính chống chịu tốt, tỉ lệ cây bị bệnh rỗng ruột thấp và chất lượng gỗ cao, Bạch đàn lai UP54 đã được lựa chọn để trồng rừng tại khu vực La Ngà thuộc tỉnh Đồng Nai.
-
TIỀM NĂNG ỨNG DỤNG MÔ HÌNH KINH TẾ TUẦN HOÀN TRONG CHĂN NUÔI CHIM CÚT: GIẢI PHÁP NÂNG CAO GIÁ TRỊ VÀ PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG
Abstract : 0 PDF: 0Nghiên cứu nhằm đánh giá tiềm năng ứng dụng mô hình kinh tế tuần hoàn (KTTH) trong chăn nuôi chim cút, qua đó xác định các điểm gây thất thoát tài nguyên trong chuỗi giá trị chăn nuôi để nâng cao giá trị ngành hàng và giảm phát thải môi trường. Khái niệm kinh tế tuần hoàn được hình thành và phát triển qua nhiều thập kỷ, hiện đã được triển khai rộng rãi trong hầu hết các ngành, lĩnh vực của nền kinh tế, trong đó có nông nghiệp. Chuỗi giá trị chăn nuôi bao gồm các khâu đầu vào, sản xuất, xử lý chất thải, phân phối và tiêu thụ; trong đó, thất thoát tài nguyên chủ yếu xảy ra ở các khâu sản xuất, xử lý chất thải, phân phối và tiêu thụ. Nghề nuôi chim cút có quy mô linh hoạt, chi phí đầu tư thấp, vòng đời sản xuất ngắn và tốc độ sinh trưởng nhanh, phù hợp với điều kiện của hộ gia đình và trang trại nhỏ. Một số nghiên cứu đã chỉ ra rằng phân và lông cút có thể được tái sử dụng trong chu trình kinh tế tuần hoàn, mang lại lợi ích môi trường và giá trị kinh tế mới. Điều này đặc biệt phù hợp với bối cảnh Việt Nam, nơi chăn nuôi chim cút chủ yếu diễn ra ở quy mô nông hộ, đồng thời cho thấy nghề nuôi chim cút có tiềm năng tham gia phát triển nông nghiệp tuần hoàn. Tuy nhiên, việc khai thác tiềm năng này trong mô hình kinh tế tuần hoàn vẫn còn gặp nhiều hạn chế và thách thức cần tiếp tục được nghiên cứu và giải quyết. Những kết quả bước đầu khẳng định rằng nghề nuôi chim cút có đủ cơ sở khoa học và lợi thế thực tiễn để triển khai mô hình KTTH.
-
NGHIÊN CỨU CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN BỒI THƯỜNG THU HỒI ĐẤT CỦA CÁC DỰ ÁN TẠI KHU VỰC PHÍA NAM TỈNH THÁI NGUYÊN (THÀNH PHỐ PHỔ YÊN CŨ) GIAI ĐOẠN 2020 - 2024
Abstract : 1 PDF: 0Nghiên cứu nhằm tìm ra các yếu tố ảnh hưởng đến bồi thường thu hồi đất của các dự án tại khu vực phía Nam tỉnh Thái Nguyên. Nghiên cứu đã sử dụng phương pháp điều tra 200 mẫu là các hộ đã bị thu hồi đất trong giai đoạn 2020 - 2024 của thành phố Phổ Yên (cũ). Số liệu điều tra sau khi tổng hợp được phân tích thống kê trên phần mềm SPSS. Kết quả nghiên cứu cho thấy, công tác bồi thường, thu hồi đất tại khu vực phía Nam tỉnh Thái Nguyên chịu tác động của ba nhóm yếu tố khác nhau: Đặc điểm đất đai và tài sản bị thu hồi, Quy định của pháp luật về bồi thường, Giá trị đất thu hồi và giá trị đất tái định cư. Những yếu tố này không tồn tại độc lập mà có mối quan hệ tương hỗ, tác động trực tiếp đến tiến độ, chi phí và hiệu quả triển khai các dự án giải phóng mặt bằng. Áp dụng giá đất chưa sát với thị trường, công tác tuyên truyền và tham vấn cộng đồng còn hạn chế, cùng với sự khác biệt về nhu cầu và kỳ vọng của người dân là những nguyên nhân chính gây khó khăn trong giải phóng mặt bằng. Hoàn thiện cơ chế định giá đất theo hướng linh hoạt, khách quan; tăng cường trao đổi thông tin giữa chính quyền, chủ đầu tư và người dân; đồng thời nâng cao năng lực thực thi của đội ngũ cán bộ là những giải pháp quan trọng nhằm cải thiện hiệu quả bồi thường thu hồi đất, đồng thời cần xây dựng hệ thống giám sát và phản hồi minh bạch để giảm thiểu các tranh chấp, tạo dựng niềm tin và thúc đẩy sự đồng thuận xã hội.








