ĐÁNH GIÁ HIỆN TRẠNG MÁI HỨNG VÀ TIỀM NĂNG THU GOM, TÁI SỬ DỤNG NƯỚC MƯA KHU VỰC THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
DOI:
https://doi.org/10.71254/4mtfrd79Abstract
Rainwater harvesting and reuse (RWH) is increasingly considered a green infrastructure option to supplement non-potable water supply, reduce roof runoff and support urban flood adaptation. This study assesses roof catchment characteristics and roof-drainage conditions in Ho Chi Minh city based on a household/building survey of 270 sites across five urban zones, combined with remote-sensing–based roof area estimation and event-based monitoring of roof runoff quality (100 samples). Results indicate that metal-sheet roofs dominate (81.9% of surveyed roofs); 74.8% of buildings have functional gutters, while 19.6% lack gutters. The theoretical harvestable volume is about 216.5 million m³/year, with residential land accounting for 86.8%. First-flush runoff exhibits substantially higher TDS and EC than the stable phase (by 54 - 81%), highlighting the need for first-flush diversion and coarse filtration. Increasing trends in heavy-rain days (R30 mm) at multiple stations (1.5 - 2.8 days/decade) suggest that storage sizing and seasonal operation should be updated. Based on these findings, an RWH framework integrated with distributed detention/retention areas is proposed to mitigate peak runoff and alleviate pressure on the urban drainage system. Roof catchment area was mapped using remote sensing and GIS on the Google Earth Engine platform (Open Buildings V3 building footprints).
Keywords:
Rainwater harvesting, roof catchment, rainwater quality, harvestable potential.Tóm tắt
Thu gom và tái sử dụng nước mưa (rainwater harvesting - RWH) được xem là một giải pháp hạ tầng xanh giúp bổ sung nguồn nước phi ăn uống, giảm dòng chảy mặt và hỗ trợ thích ứng ngập đô thị. Nghiên cứu đánh giá hiện trạng mái hứng và hạ tầng thoát nước mái khu vực thành phố Hồ Chí Minh (trước sáp nhập) trên cơ sở điều tra 270 công trình theo 5 vùng đô thị; kết hợp ước tính diện tích mái hứng từ phân tích viễn thám và đánh giá chất lượng nước mưa chảy tràn qua mái theo thời gian (100 mẫu) trong trận mưa. Kết quả cho thấy, mái tôn/kim loại chiếm ưu thế (81,9% mẫu khảo sát); 74,8% công trình có máng xối hoạt động tốt, nhưng 19,6% không có máng xối. Lượng nước mưa có thể thu gom lý thuyết đạt khoảng 216,5 triệu m³/năm, trong đó nhóm nhà ở chiếm 86,8%. Chất lượng nước chảy tràn đầu trận có TDS và EC cao hơn 54 - 81% so với giai đoạn ổn định, khẳng định sự cần thiết của cấu phần tách nước đầu trận và lọc thô. Xu thế gia tăng số ngày mưa lớn (R30 mm) tại nhiều trạm (1,5 - 2,8 ngày/thập kỷ), gợi ý cần cập nhật dung tích điều tiết và chiến lược vận hành bể chứa theo mùa. Từ các kết quả trên, nghiên cứu đề xuất khung giải pháp RWH gắn với “khu thu trữ nước” phân tán nhằm giảm đáng kể lưu lượng đỉnh và áp lực lên hệ thống thoát nước đô thị. Diện tích mái hứng được ước tính bằng viễn thám - GIS trên nền tảng Google Earth Engine (GEE) với lớp dấu chân công trình Open Buildings V3.








