Số Tháng 7 (2025): SỐ ĐẶC BIỆT: BỆNH HẠI THỰC VẬT
Bài viết
-
NGUỒN VẬT LIỆU CHO GEN KHÁNG BỆNH ĐẠO ÔN TỪ GIỐNG LÚA TẺ TÉP, VIỆT NAM
Abstract : 170 PDF: 0Phát triển giống lúa kháng đạo ôn là giải pháp tối ưu trong chiến lược quản lý bệnh đạo ôn trong sản xuất lúa toàn thế giới. Giống lúa bản địa Việt Nam là Tẻ Tép đã trở thành nguồn vật liệu cung cấp gen kháng bệnh đạo ôn phổ rộng và bền vững. Tẻ Tép thuộc loại hình indica với genome mang nhiều gen kháng và chùm gen kháng (cluster) được phân lập gần đây và trong quá khứ như sau: Gen Pi-tp trên nhiễm sắc thể 1; Pi-54 và Pi-kh trên nhiễm sắc thể 11; Pi-2t trên nhiễm sắc thể 2; Pita, Pita2, Pi-67 trên nhiễm sắc thể 12, gần tâm động; đặc biệt là chùm gen kháng (cluster) mã hóa protein NLR-LRR (nucleotide-binding site leucine-rich repeat). Tất cả đã hình thành nên một hệ gen có khả năng cho nguồn vật liệu di truyền (donors) rất quý hiếm, phục vụ chương trình lai tạo giống lúa cao sản kháng bệnh đạo ôn phổ rộng và bền vững.
-
NGHIÊN CỨU ĐA DẠNG DI TRUYỀN CỦA NẤM Phytophthora spp. GÂY BỆNH THỐI LÁ, THỐI THÂN HẠI CÂY SEN (Nelumbo nucifera)
Abstract : 226 PDF: 0Bệnh thối lá, thối thân hại cây sen (Nelumbo nucifera) do nấm Phytophthora spp. gây ra là một trong những bệnh hại quan trọng ảnh hưởng đến năng suất và chất lượng các sản phẩm từ sen. Mục tiêu của nghiên cứu nhằm xác định chính xác đến loài các mẫu nấm gây bệnh thối lá, thối thân hại cây sen tại tỉnh Đồng Tháp. Trong nghiên cứu này, các mẫu nấm được xác định dựa vào đặc điểm hình thái, đặc tính sinh học và triệu chứng bệnh. Kết quả cho thấy, cả 30 mẫu nấm đều thuộc chi Phytophthora và các mẫu nấm đều có khả năng gây bệnh trên cây sen với triệu chứng điển hình của bệnh thối lá, thối thân. Trình tự đoạn gen vùng ITS-rADN của các mẫu nấm đã được xác định và sử dụng để xây dựng giản đồ phả hệ thể hiện mối tương quan di truyền giữa các mẫu nấm thí nghiệm. Kết quả cho thấy, 30 mẫu nấm thí nghiệm được chia thành 3 nhóm: Nhóm 1 gồm 12 mẫu nấm thuộc loài Phytophthora cinnamomi, nhóm 2 gồm 8 mẫu nấm thuộc loài Phytophthora cactorum, nhóm 3 gồm 10 mẫu nấm thuộc loài Phytophthora palmivora. Kết quả của nghiên cứu này là cơ sở cho những nghiên cứu tiếp theo, góp phần tìm ra biện pháp phòng trị bệnh thối lá, thối thân hại cây sen một cách có hiệu quả.
-
ỨNG DỤNG KỸ THUẬT MULTIPLEX RT-PCR PHÁT HIỆN Cymbidium mosaic virus (CymMV) VÀ Odontoglossum ringspot virus (ORSV) GÂY HẠI TRÊN CHI ĐĂNG LAN (Dendrobium)
Abstract : 159 PDF: 0Lan là một trong những loài hoa đẹp, quý và có tiềm năng kinh tế rất cao. Tuy nhiên, bệnh do virus gây ra trên lan là rào cản lớn đã tác động rất tiêu cực đến kinh tế ngành trồng lan. Mục tiêu của nghiên cứu này là áp dụng quy trình multiplex RT-PCR để phát hiện và khảo sát tỉ lệ nhiễm CymMV và ORSV trên các mẫu lan Dendrobium. Kết quả nghiên cứu đã chứng minh khả năng phát hiện virus từ quy trình multiplex RT-PCR hoàn toàn trùng khớp với kết quả phát hiện virus từ quy trình simplex RT-PCR. Như vậy, kết quả đã chỉ ra rằng, multiplex RT-PCR được ứng dụng trong nghiên cứu này là kỹ thuật nhanh chóng, đơn giản, chính xác và đáng tin cậy. Thêm nữa, kết quả sử dụng quy trình multiplex RT-PCR trên 40 mẫu lan Dendrobium thu thập từ vườn thực địa đã phát hiện 26 mẫu nhiễm CymMV, 2 mẫu nhiễm ORSV, trong đó có 2 mẫu nhiễm ORSV cũng là mẫu nhiễm đồng thời CymMV và ORSV. Kết quả đạt được của nghiên cứu này là những thông tin hữu ích góp phần cung cấp thêm thông tin về nghiên cứu virus gây hại trên chi đăng lan Dendrobium.
-
PHÂN LẬP, ĐỊNH DANH VÀ XÁC ĐỊNH ĐẶC ĐIỂM CỦA Papaya ringspot virus (PRSV) TRÊN CÂY ĐU ĐỦ VÀ BẦU BÍ TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Abstract : 164 PDF: 0Virus đốm vòng đu đủ (PRSV) thuộc chi Potyvirus, lan truyền do rệp gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến sản xuất đu đủ và bầu bí trên toàn thế giới. Nghiên cứu được thực hiện nhằm phân lập, xác định sự hiện diện và đặc điểm của PRSV. Từ 54 mẫu bệnh được thu thập trên cây đu đủ và họ bầu bí tại thành phố Hồ Chí Minh, kết quả cho thấy, có 15 mẫu bệnh nhiễm PRSV, trong đó 12 mẫu nhiễm PRSV-P (22,22%) và 3 mẫu nhiễm PRSV-W (5,56%). Tất cả mẫu nhiễm PRSV-P đều thu được trên cây đu đủ, không ghi nhận mẫu nhiễm PRSV-P trên cây họ bầu bí. Khi chủng PRSV-P chủng trên cây dưa gai (Cucumis metuliferus), virus có thể được phát hiện sớm ở thời điểm 5 ngày sau chủng bằng kỹ thuật ELISA gián tiếp, dù cây chỉ thể hiện triệu chứng bệnh trên lá ở 10 ngày sau chủng bệnh. Kết quả phản ứng RT-PCR với cặp mồi SMK 8701(F)/3’UTR(R) vùng protein vỏ (CP) và giải trình tự sản phẩm PCR cũng cho kết quả mẫu bệnh là PRSV-P, có độ tương đồng trình tự amino axit và trình tự nucleotide vùng gen CP gần nhất với mẫu có mã số genbank AY010721.1 (Thái Lan).
-
GHI NHẬN NẤM Curvularia intermedia GÂY ĐỐM NÂU TRÊN LÁ LAN PHI ĐIỆP VÀNG (Dendrobium chrysanthum) TRỒNG TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Abstract : 134 PDF: 0Phi điệp vàng (Dendrobium chrysanthum) là một loài lan bản địa thuộc nhóm thực vật nguy cấp của Việt Nam. Từ các đốm nâu được quan sát trên lá lan Phi điệp vàng trồng tại thành phố Hồ Chí Minh, tác nhân gây ra triệu chứng đã được xác định là một loài nấm thuộc chi Curvularia dựa vào đặc điểm hình thái trên môi trường dinh dưỡng và lây nhiễm bệnh nhân tạo. Trên môi trường PDA, mẫu nấm nghiên cứu phát triển ở 25 - 30°C và dừng sinh trưởng ở 12°C và 40°C. Mẫu đại diện 2-Dch được thực hiện PCR và phân tích trình tự vùng gene ITS, TEF1, LSU, kết quả so sánh với dữ liệu được chọn lọc trên Genbank cho thấy, Curvularia intermedia là tên của loài nấm phân lập và gây bệnh. Kết hợp nhiều kết quả, C. intermedia được đề nghị là tác nhân gây ra đốm nâu trên lá lan Phi điệp vàng trồng tại thành phố Hồ Chí Minh.
-
XÁC ĐỊNH TÁC NHÂN GÂY BỆNH CHÁY LÁ TRÊN MAI VÀNG VÀ KHẢ NĂNG ỨC CHẾ NẤM GÂY BỆNH BẰNG VẬT LIỆU NANO
Abstract : 152 PDF: 0Cháy lá là một trong ít bệnh gây hại rất nghiêm trọng trên cây mai vàng (Ochna integerrima) tại vùng trồng mai chủ lực của thành phố Hồ Chí Minh. Bệnh cũng là một trong những nguyên nhân dẫn đến sự lạm dụng hóa chất bảo vệ thực vật của nông hộ trong phòng trị, gây ra mối nguy rất lớn đối với môi trường sinh thái và sức khỏe cộng đồng. Nghiên cứu này được thực hiện nhằm xác định nguyên nhân gây ra bệnh cháy lá mai tại thành phố Hồ Chí Minh và hiệu quả kiểm soát mầm bệnh bằng nano AgCu và nano Cu trong điều kiện phòng thí nghiệm. Kết quả khảo sát trên vườn đã xác định được bệnh cháy lá gây hại 36% số lá mai trên cành. Kết quả định danh hình thái kết hợp áp dụng kỹ thuật sinh học phân tử và kiểm chứng mầm bệnh theo quy trình Koch đã xác định Neopestalotiopsis sp. là nguyên nhân gây ra bệnh cháy lá mai với triệu chứng điển hình như: Vết bệnh là cá đốm tròn, màu nâu đậm, rìa gồ ghề và có quầng vàng nhạt. Vùng mô bệnh bị khô, nhưng không rách. Các quả thể màu đen hình thành và phân bố rải rác trên vết bệnh ở mặt dưới lá. Trong điều kiện phòng thí nghiệm, nano AgCu và nano Cu ở nồng độ 250 ppm và 200 ppm có khả năng ức chế hoàn toàn sự nảy mầm của bào tử Neopestalotiopsis sp. đến 15 giờ sau ủ.
-
XÁC ĐỊNH TÁC NHÂN GÂY BỆNH THÁN THƯ TRÊN TRÁI XOÀI TẠI TỈNH BÀ RỊA - VŨNG TÀU VÀ HIỆU LỰC KIỂM SOÁT MẦM BỆNH CỦA CHITOSAN VÀ NANO CHITOSAN
Abstract : 198 PDF: 0Colletotrichum spp. gây bệnh thán thư là nguyên nhân gây ra thiệt hại khoảng 30 - 60% sản lượng xoài trên thế giới. Nghiên cứu này được thực hiện nhằm xác định tác nhân gây bệnh thán thư trên trái xoài tại tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu và khả năng kiểm soát mầm bệnh Colletotrichum gloeosporioides trong điều kiện phòng thí nghiệm. Nghiên cứu gồm định danh tác nhân áp dụng kỹ thuật sinh học phân tử và đánh giá hiệu lực ức chế nấm bệnh của chitosan và nano chitosan áp dụng kỹ thuật nhiễm độc môi trường. Kết quả nghiên cứu đã xác định được C. gloeosporioides là tác nhân gây ra bệnh thán thư trên trái xoài cát Hòa Lộc tại tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu. Chitosan và nano chitosan ở nồng độ 1.000 ppm có khả năng ức chế 100% số bào tử nảy mầm trong 6 giờ sau ủ. Hiệu lực ức chế sự phát triển hệ sợi C. gloeosporioides trên môi trường PDA của chitosan và nano chitosan ở nồng độ 2.500 ppm đạt tương ứng 49,51% và 100% ở thời điểm 5 ngày sau cấy. Nồng độ ức chế tối thiểu 90% (MIC90) số bào tử nảy mầm của chitosan và nano chitosan tương ứng là 799 ppm và 755 ppm ở thời điểm 6 giờ sau ủ. Trong khi đó, nồng độ ức chế tối thiểu 90% (MIC90) sự phát triển của đường kính tản nấm C. gloeosporioides của chitosan và nano chitosan, tương ứng là 4.267 ppm và 2.407 ppm ở thời điểm 5 ngày sau cấy.
-
XÁC ĐỊNH TÁC NHÂN GÂY BỆNH THỐI TRÁI MÍT VÀ BƯỚC ĐẦU ĐÁNH GIÁ THUỐC HÓA HỌC PHÒNG TRỪ TÁC NHÂN GÂY BỆNH
Abstract : 189 PDF: 0Mít (Artocarpus heterophyllus) là cây ăn trái được trồng phổ biển ở các vùng nhiệt đới và cận nhiệt đới trên thế giới. Nghiên cứu thực hiện nhằm xác định chính xác tác nhân gây bệnh thối trái và bước đầu tìm ra thuốc hóa học trong ức chế tác nhân gây bệnh. Mít có triệu chứng thối trái được thu thập tại huyện Cái Bè, tỉnh Tiền Giang dựa vào hình thái và kỹ thuật sinh học phân tử khuếch đại vùng gen 18S với cặp mồi phổ thông ITS1/ITS4 xác định tác nhân gây bệnh là loài Lasiodiplodia theobromae. Bên cạnh đó, xác định được 8 loại trái cây (ổi Lê, ổi Nữ Hoàng, quýt đường, bơ sáp, chôm chôm, chuối già Nam Mỹ, đu đủ, xoài cát Hòa Lộc) là ký chủ của nấm Lasiodiplodia theobromae. Trong 13 loại thuốc thí nghiệm ghi nhận được 3 loại thuốc Dithane M45 80WP (mancozeb), Folicur 430SC (tebuconazol) và Dailora 25EC (prochloraz) có hiệu quả ức chế đối với nấm Lasiodiplodia theobromae.
-
PHÒNG TRỪ SINH HỌC NẤM Cryptosporiopsis eucalypti GÂY BỆNH ĐỐM LÁ BẠCH ĐÀN BẰNG VI NẤM NỘI SINH
Abstract : 160 PDF: 0Bệnh đốm lá bạch đàn gây ra bởi nấm Cryptosporiopsis eucalypti (C. eucalypti) được xác định là một trong những loại bệnh nguy hiểm đối với rừng trồng bạch đàn ở Việt Nam. Nghiên cứu này được thực hiện nhằm sàng lọc và tuyển chọn các chủng nấm nội sinh có tiềm năng kháng nấm C. eucalypti làm cơ sở để phát triển sản xuất chế phẩm vi sinh vật và thuốc bảo vệ thực vật sinh học. Các chủng nấm nội sinh được phân lập từ các cây bạch đàn lai ở cả cây chủ khỏe mạnh và cây chủ có triệu chứng bị bệnh. Sàng lọc các chủng có hoạt tính kháng nấm C. eucalypti bằng phương pháp nuôi cấy đối kháng. Các chủng nấm kháng nấm gây bệnh sau đó tiếp tục được sàng lọc hoạt tính kháng nấm bằng phương pháp thử nghiệm dịch lọc nuôi cấy. Kết quả phân lập thu được 60 chủng nấm nội sinh, số lượng các chủng nấm nội sinh có sự khác nhau giữa các cây chủ và bộ phận của cây. Kết quả sàng lọc hoạt tính kháng nấm gây bệnh bằng phương pháp nuôi cây đối kháng thu được 17 chủng có hoạt tính kháng nấm gây bệnh, với tỷ lệ ức chế nấm gây bệnh dao động từ 47,78 - 66,04%. Trong đó, 11 chủng phân lập được từ các cây chủ khỏe mạnh và 6 chủng phân lập được từ các cây chủ có triệu chứng bị bệnh. Đánh giá hoạt tính kháng nấm gây bệnh bằng thử nghiệm dịch lọc nuôi cấy cho thấy, 3 chủng BĐ7.07, BĐ3.06 và BĐ7.03 có hoạt tính kháng nấm mạnh nhất, với tỷ lệ ức chế lần lượt là 100%, 87,5% và 71,2%. Kết quả định danh 3 chủng nấm xác định được tên khoa học của các chủng nấm là Penicillium sclerotiorum (Chủng BĐ3.06), Nigrospora aurantiaca (chủng BĐ7.07) và Diaporthe liquidambaris (chủng BĐ7.03). Các chủng nấm này có tiềm năng ứng dụng làm tác nhân kiểm soát sinh học trong quản lý bệnh đốm lá bạch đàn ở Việt Nam.
-
PHÂN LẬP VÀ ĐÁNH GIÁ KHẢ NĂNG ĐỐI KHÁNG CỦA XẠ KHUẨN ĐỐI VỚI NẤM Fusarium oxysporum GÂY BỆNH HÉO VÀNG TRÊN CÂY ĐẬU NÀNH RAU
Abstract : 157 PDF: 0Mục tiêu của nghiên cứu này là tìm ra xạ khuẩn có khả năng đối kháng với nấm Fusarium oxysporum gây bệnh héo vàng trên cây đậu nành rau. Khả năng đối kháng của 26 chủng xạ khuẩn đối với nấm Fusarium oxysporum gây bệnh héo vàng trên cây đậu nành rau được thực hiện trong điều kiện phòng thí nghiệm, với 5 lần lặp lại. Kết quả cho thấy, 4 chủng xạ khuẩn: PT-AG9, CM-AG27, PT-AG16, CM-AG33 thể hiện khả năng đối kháng cao với bán kính vòng vô khuẩn lần lượt là 14,25 mm; 14,00 mm; 13,50 mm; 14,25 mm và hiệu suất đối kháng lần lượt là 76,39%; 71,99%; 68,86%, 68,33% ở thời điểm 9 ngày sau khi bố trí thí nghiệm. Khả năng tiết enzyme β-glucanase và chitinase của 4 chủng xạ khuẩn cũng được thực hiện trên môi trường β-glucan với 5 lần lặp lại. Kết quả cho thấy, chủng xạ khuẩn PT-AG16 có khả năng tiết enzyme β-glucanase cao nhất, với bán kính vòng phân giải là 12,88 mm ở thời điểm 14 ngày sau khi cấy. Bên cạnh đó, chủng xạ khuẩn CM-AG33 thể hiện khả năng phân giải chitin mạnh nhất, với vòng phân giải lần lượt l26,50 mm và 26,25 mm sau 7 ngày.
-
ĐỊNH DANH VÀ ĐÁNH GIÁ KHẢ NĂNG SẢN SINH ENZYME, ĐỐI KHÁNG CỦA Bacillus sp. VỚI Phytophthora palmivora GÂY BỆNH NỨT THÂN XÌ MỦ MÍT TẠI HUYỆN CHỢ MỚI, TỈNH AN GIANG
Abstract : 174 PDF: 0Những năm gần đây, bệnh xì mủ thân do Phytophthora spp. gây ra đã trở thành mối đe dọa lớn đối với sản xuất mít. Trong nghiên cứu này, từ 12 mẫu đất được thu thập tại các vườn mít ở huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang đã tiến hành phân lập, định danh và đánh giá khả năng tiết enzyme phân giải của vi khuẩn Bacillus sp. có khả năng đối kháng với Phytophthora palmivora gây bệnh nứt thân xì mủ mít trong điều kiện in vitro. Kết quả đã phân lập được 4 dòng vi khuẩn (CM1, CM2, CM3 và CM4) có đặc điểm hình thái (khuẩn lạc tròn, màu trắng đến trắng đục, bề mặt khô nhăn, nhô cao, rìa dạng răng cưa), sinh hóa đặc trưng của Bacillus sp., đều là vi khuẩn Gram dương, phản ứng catalase dương tính (sủi bọt), âm tính với KOH 3% (không tạo nhớt) và có khả năng đối kháng với nấm gây bệnh. Trong đó, chủng được định danh là Bacillus velezensis CM1 cho hiệu quả đối kháng cao nhất (16,2 - 67,0%), đồng thời tiết enzyme cellulase (31,2 - 60,0 mm), β-glucanase (37,7 - 63,7 mm) và protease (42,9 - 62,0 mm) mạnh nhất từ 3 - 9 ngày sau cấy. Chủng Bacillus velezensis CM1 được đánh giá là tác nhân sinh học tiềm năng trong quản lý bệnh xì mủ mít.
-
HOẠT TÍNH KHÁNG NẤM Fusarium sambucinum FG2 GÂY THỐI CUỐNG CHUỐI CỦA Bacillusamyloliquefaciens HGG10 PHÂN LẬPTỪ VÙNG RỄ CHUỐI
Abstract : 129 PDF: 0Bệnh thối cuống chuối do nấm Fusarium sambucinum FG2 là một trong những bệnh sau thu hoạch phổ biến nhất, gây thiệt hại lớn về sản lượng và chất lượng chuối. Nghiên cứu được thực hiện nhằm mục tiêu đánh giá hoạt tính kháng nấm in vitro của vi khuẩn phân lập từ vùng rễ chuối chống lại nấm Fusarium sambucinum FG2 gây thối cuống chuối. Tổng số 25/92 chủng vi khuẩn phân lập từ vùng rễ chuối cho thấy, hoạt tính đối kháng với nấm Fusarium sambucinum FG2 trong thử nghiệm cấy kép. Tỷ lệ ức chế sự phát triển của sợi nấm dao động từ 28,2 - 60,3%. Chủng vi khuẩn HGG10 với hoạt tính kháng nấm cao nhất được xác định là Bacillus amyloliquefaciens. Chủng vi khuẩn HGG10 có khả năng sản sinh các enzyme phân huỷ nấm bệnh (β-1,3-glucanase, chitinase và protease) và siderophore giúp cạnh tranh sắt. Ngoài ra, chủng vi khuẩn HGG10 còn mang các gen tổng hợp lipopeptide kháng nấm là bacillomycin, fengycin và surfactin. Các hợp chất hữu cơ dễ bay hơi và dịch nổi vô bào thu nhận từ chủng vi khuẩn HGG10 cũng cho thấy, khả năng ức chế mạnh nấm Fusarium sambucinum FG2. Chủng vi khuẩn HGG10 cho thấy, tiềm năng trong nghiên cứu để ngăn ngừa và điều trị bệnh thối cuống chuối.
-
TUYỂN CHỌN CÁC VI KHUẨN ĐỐI KHÁNG KIỂM SOÁT VI KHUẨN Ralstonia solanacearum GÂY BỆNH HÉO XANH TRÊN CÂY CÀ CHUA
Abstract : 267 PDF: 0Bacillus và Pseudomonas là các vi khuẩn tiềm năng ứng dụng trong quản lý các loại dịch hại cây trồng nói chung và bệnh héo xanh do vi khuẩn nói riêng. Trong nghiên cứu này, các vi khuẩn Bacillus spp. và Pseudomonas spp. được phân lập từ vùng đất canh tác cà chua tại tỉnh Lâm Đồng, sau đó được khảo sát khả năng đối kháng với R. solanacearum CXT3 thông qua phương pháp khuếch tán giếng thạch. Các vi khuẩn tiềm năng được đánh giá khả năng phòng và trừ bệnh héo xanh trên hạt trong điều kiện in vitro, nhà lưới và đồng ruộng. Các vi khuẩn được khảo sát đều có khả năng đối kháng với vi khuẩn R. solanacearum CXT3, trong đó Pseudomonas spp. ĐHT1, ĐXT1; Bacillus spp. ĐXT6, CC-LĐ2.2, có khả năng đối kháng mạnh, với đường kính vòng kháng khuẩn lần lượt là 16,7; 16,6; 14,7; 13,6 mm. Hiệu lực kiểm soát bệnh héo xanh trong điều kiện in vitro của 4 vi khuẩn Pseudomonas spp. ĐHT1, ĐXT1; Bacillus spp. ĐXT6, CC-LĐ2.2 đạt từ 69,2 - 95,7% ở thí nghiệm phòng bệnh và từ 61,6 - 92,4% ở thí nghiệm trừ bệnh. Dựa trên trình tự vùng gen 16S-rRNA, ĐXT1 được xác định là Pseudomonas fluorescens và ĐXT6 là Bacillus amylolyquefaciens. Hai vi khuẩn B. amylolyquefaciens ĐXT6 và P. fluorescens ĐXT1 giảm tỷ lệ bệnh, chỉ số bệnh, cho hiệu lực ở thời điểm 28 ngày sau trồng trong điều kiện nhà lưới 76,7% và 65,3%, tăng chiều cao cây, chiều dài rễ, khối lượng tươi và khối lượng khô của cây. Trong điều kiện đồng ruộng, chế phẩm NLHX lượng 3 kg/ha cho hiệu lực đạt 70,9%, chứng minh tiềm năng của chế phẩm vi sinh từ các vi khuẩn B. amylolyquefaciens ĐXT6 và P. fluorescens ĐXT1 trong kiểm soát bệnh héo xanh cà chua.
-
ĐÁNH GIÁ ĐẶC ĐIỂM HÓA SINH, KHẢ NĂNG KHÁNG BỆNH VÀ KÍCH THÍCH SINH TRƯỞNG CỦA CHỦNG Klebsiella variicola BR12 ĐƯỢC PHÂN LẬP TỪ ĐẤT VÙNG RỄ CÂY CAM
Abstract : 141 PDF: 0Cây cam (Citrus sinensis L.) được biết đến với giá trị dinh dưỡng cao và mang lại giá trị kinh tế lớn cho người dân tại huyện Cao Phong, tỉnh Hòa Bình. Tuy nhiên, việc lạm dụng phân bón vô cơ và thuốc bảo vệ thực vật trong canh tác dẫn đến tình trạng chai cứng đất, gây mất cân bằng dinh dưỡng trong đất, làm nghèo vi sinh vật và gia tăng sự xuất hiện sâu, bệnh hại. Do đó, việc bổ sung vi khuẩn thuộc nhóm PGPR (Plant Growth-Promoting Rhizobacteria) được xem là giải pháp tiềm năng để cải thiện chất lượng đất, thúc đẩy khả năng sinh trưởng của cây cam và phòng chống bệnh hại. Trong nghiên cứu này, đặc điểm hóa sinh, khả năng kích thích sinh trưởng và kháng vi sinh vật gây bệnh của chủng vi khuẩn Klebsiella variicola có nguồn gốc phân lập từ đất vùng rễ cây cam tại huyện Cao Phong, tỉnh Hòa Bình được sử dụng. Kết quả nghiên cứu cho thấy, chủng BR12 có khả năng cố định đạm, phân giải lân, kali, canxi, sinh tổng hợp EPS (exopolysaccharides) và ức chế vi khuẩn gây bệnh đốm lá Pseudomonas syringae. Thử nghiệm trong điều kiện nhà lưới, cây cam lây nhiễm chủng BR12 có chiều cao và số lá tăng lần lượt 1,21 lần và 1,24 lần so với cây đối chứng sau 4 tháng thí nghiệm. Ngoài ra, khối lượng tươi, khối lượng khô của thân và rễ cây cam có xử lý với chủng khuẩn BR12 cao hơn so với cây đối chứng từ 56,62 - 93,63%. Các phân tích cho thấy, chủng Klebsiella variicola BR12 có tiềm năng trong kích thích sinh trưởng và phòng trừ bệnh trên cây cam. Kết quả của nghiên cứu này là cơ sở để phát triển tiếp các sản phẩm sinh học có bổ sung vi khuẩn K. variicola để phòng chống bệnh đốm lá, tăng cường sinh trưởng của cây cam và các cây trồng khác.
-
TỐI ƯU HÓA MÔI TRƯỜNG NUÔI CẤY ĐỂ KÍCH THÍCH KHẢ NĂNG TẠO NỘI BÀO TỬ CỦA VI KHUẨN ĐỐI KHÁNG Bacillus pumilus TG-71 PHÒNG TRỊ BỆNH BẠC LÁ LÚA (Xanthomonas oryzae pv. oryzae)
Abstract : 188 PDF: 0Vi khuẩn đối kháng Bacillus pumilus TG-71 được phân lập từ đất ruộng lúa tại tỉnh Tiền Giang có khả năng phòng trị bệnh bạc lá (cháy bìa lá) lúa. Kết quả sàng lọc bằng ma trận Plackett-Burman cho thấy peptone, (NH4)2SO4 và CaCl2.2H2O là 3 thành phần trong môi trường nhân sinh khối có ảnh hưởng đến quá trình tạo nội bào tử của vi khuẩn TG-71. Giá trị của 3 thành phần môi trường này được tối ưu hóa bằng phương pháp đáp ứng bề mặt (Response surface methodology, RSM) kết hợp với phương án cấu trúc có tâm (Central composite designs, CCD). Hàm lượng của peptone, (NH4)2SO4 và CaCl2.2H2O lần lượt là 12 g/l, 4 g/l và 2,699 g/l. Mật số nội bào tử của vi khuẩn TG-71 đạt 9,4 x 106 (CFU/ml) khi áp dụng các giá trị này để thực hiện môi trường nhân sinh khối vi khuẩn.
-
NGHIÊN CỨU DỊCH CHIẾT LÁ CÂY BẠCH ĐÀN PHÒNG CHỐNG NẤM Colletotrichum spp. GÂY BỆNH TRÊN CÂY CÀ CHUA TẠI TỈNH NGHỆ AN
Abstract : 136 PDF: 0Khi sử dụng dịch chiết lá cây bạch đàn trong điều kiện in vitro với nồng độ 5%, 10% và 15%, tác dụng ức chế nảy mầm của bào tử Colletotrichum spp. là 100% sau 24 giờ xử lý. Trong điều kiện nhà lưới, phun dịch chiết lá cây bạch đàn với nồng độ 5, 10 và 15% lên cây cà chua sau 24 giờ lây bệnh, hiệu lực ức chế tính gây bệnh của Colletotrichum spp. khi cây bắt đầu ra hoa đạt 51,28 - 71,08%, cây có quả với đường kính quả 3 - 4 cm đạt 49,03 - 67,28%. HLPT dịch chiết lá cây bạch đàn ở ngoài sản xuất khi cây bắt đầu ra hoa, khi cây có quả với đường kính quả 3 - 4 cm và sau thu hoạch quả lần đầu đạt dao động từ 49,25 - 65,31%.
-
SO SÁNH HIỆU QUẢ GIẢM BỆNH BẠC LÁ LÚA CỦA DỊCH CHIẾT LÁ CÂY HOA NGŨ SẮC (Ageratum conyzoides) VÀ CÂY CỎ HÔI (Chromolaena odorata)
Abstract : 133 PDF: 0Bệnh bạc lá (cháy bìa lá) gây thiệt hại năng suất lúa và chất lượng hạt gạo, đặc biệt trong mùa mưa. Dịch chiết lá cây hoa ngũ sắc (Ageratum conyzoides) và cây cỏ hôi (Chromolaena odorata) có khả năng giúp giảm bệnh trong điều kiện nhà lưới. Nghiên cứu này so sánh hiệu quả giảm bệnh của 2 loại dịch chiết khi được xử lý bằng biện pháp ngâm hạt giống với dịch chiết trong 24 giờ trước khi gieo và ngâm hạt giống kết hợp phun lên lá lúa 7 hoặc 14 ngày trước khi lây bệnh (NTLB). Khi sử dụng biện pháp ngâm hạt, dịch chiết 3%, 4%, 5% (w/v) lá cây hoa ngũ sắc và dịch chiết 4% và 5% lá cây cỏ hôi đều có hiệu quả giảm bệnh tương đương thuốc hóa học Starner 20 WP, trong đó, 3% dịch chiết lá cây hoa ngũ sắc và 4% dịch chiết lá cây cỏ hôi là nồng độ thấp nhất có hiệu quả giảm bệnh nên có thể tiếp tục nghiên cứu ứng dụng vào thực tế sản xuất. Hiệu quả giảm bệnh của dịch chiết lá cây hoa ngũ sắc thấp hơn dịch chiết lá cây cỏ hôi. Kết hợp ngâm hạt giống với phun dịch chiết lên lá lúa cho thấy, hiệu quả giảm bệnh cao hơn chỉ xử lý ngâm hạt. Kết hợp ngâm hạt với phun lên lá lúa dịch chiết lá cây hoa ngũ sắc ở thời điểm 7 NTLB có hiệu quả giảm bệnh cao hơn ngâm hạt kết hợp với phun lên lá lúa ở thời điểm 14 NTLB, trong đó ngâm hạt giống với dịch chiết 3% kết hợp phun lên lá lúa dịch chiết 4% ở thời điểm 7 NTLB có hiệu quả cao nhất (56,3%). Ngược lại, kết hợp ngâm hạt và phun lên lá lúa dịch chiết lá cây cỏ hôi ở thời điểm 14 NTLB có hiệu quả giảm bệnh cao hơn ngâm hạt kết hợp phun lên lá lúa ở thời điểm 7 NTLB, trong đó ngâm hạt giống với dịch chiết 4% kết hợp phun lên lá lúa dịch chiết 5% ở thời điểm 14 NTLB có hiệu quả cao nhất (56,1%).
-
KHẢ NĂNG KÍCH KHÁNG BỆNH BẠC LÁ (Xanthomonas oryzae pv. oryzae) KHI NGÂM HẠT GIỐNG KẾT HỢP PHUN LÊN LÁ LÚA CAO CHIẾT LÁ SỐNG ĐỜI (Kalanchoe pinnata) LY TRÍCH BẰNG DUNG MÔI NƯỚC
Abstract : 184 PDF: 0Bạc lá (cháy bìa lá) do vi khuẩn Xanthomonas oryzae pv. oryzae gây ra là một trong những bệnh hại quan trọng trên ruộng lúa. Bài báo này trình bày khả năng kích thích tính kháng bệnh lưu dẫn (kích kháng) trong cây lúa đối với bệnh bạc lá khi ngâm hạt giống kết hợp phun lên lá lúa cao chiết lá sống đời (Kalanchoe pinnata) ly trích bằng phương pháp tách chiết lỏng - lỏng với dung môi nước. Ba nồng độ cao chiết [1; 1,5; 2% (w/v)] và 3 biện pháp xử lý gồm (1) ngâm hạt + phun ở thời điểm 14 ngày trước lây bệnh (NTLB); (2) ngâm hạt + phun ở thời điểm 7 NTLB; (3) ngâm hạt + phun ở cả hai thời điểm 14 và 7 NTLB được sử dụng để khảo sát khả năng giúp giảm bệnh trong điều kiện nhà lưới. Chiều dài vết bệnh được ghi nhận ở 3 thời điểm 7, 14, 21 ngày sau lây bệnh (NSLB). Kết hợp ngâm hạt và phun lên lá lúa với cao chiết 1,5% ở thời điểm 14 NTLB thể hiện hiệu quả giảm bệnh đến 21 NSLB. Kết quả khảo sát hoạt tính của 4 enzyme liên quan đến cơ chế kháng bệnh bạc lá gồm peroxidase (POX), catalase (CAT), polyphenol oxidase (PPO) và phenylalanine ammonia lyase (PAL) cho thấy khả năng giúp giảm bệnh của cao chiết lá sống đời có liên quan đến cơ chế kích kháng. Sự xuất hiện đơn lẻ của mầm bệnh hoặc cao chiết đều có khả năng làm tăng hoạt tính của 4 enzyme nhưng hoạt tính của các enzyme này tăng cao hơn rất nhiều khi có sự hiện diện của cả mầm bệnh (lây bệnh) và cao chiết trên cây lúa (ngâm hạt giống kết hợp phun lên lá lúa).
-
CƠ CHẾ KÍCH KHÁNG CỦA MỘT SỐ HÓA CHẤT CHỐNG LẠI BỆNH SƯƠNG MAI DO Peronospora belbahrii TRÊN CÂY HÚNG QUẾ
Abstract : 123 PDF: 0Biện pháp kích kháng trên cây trồng trong phòng trừ dịch hại là biện pháp bảo vệ thực vật hiệu quả và thân thiện môi trường. Nghiên cứu khảo sát khả năng kích kháng của Benzothidiazole (BTH), Salicylic acid (SA), Calcium silicate (CaSiO3) trên cây húng quế chống lại bệnh sương mai do Peronospora belbahrii thông qua đánh giá tỉ lệ bệnh, phần trăm diện tích lá bệnh và khảo sát cơ chế kích kháng liên quan. Kết quả khi xử lý phun lá BTH 50 mg/L, SA 1 mM trước 2 ngày lây bệnh hoặc tưới đất với CaSiO3 1 g/kg đất trước 7 ngày lây bệnh mang lại hiệu quả giảm tỉ lệ bệnh và phần trăm diện tích lá nhiễm bệnh. Sự gia tăng hoạt tính enzyme Phenylalanine amonia lyase (PAL) ở giai đoạn sớm 12 giờ sau khi lây bệnh (GSKLB) và 24 GSKLB ở 3 cây húng quế xử lý BTH 50 mg/L, SA 1 mM, CaSiO3 1 g/kg và sự gia tăng hoạt tính enzyme β - 1,3 - glucanase ở giai đoạn 72 GSKLB ở cây húng quế xử lý với SA 1 mM, BTH 50 mg/L, CaSiO3 1 g/kg có liên quan đến cơ chế kích kháng trên cây húng quế chống lại mầm bệnh sương mai do Peronospora belbahrii.
-
ĐÁNH GIÁ HIỆU LỰC IN VITRO CỦA MỘT SỐ HOẠT CHẤT THUỐC BẢO VỆ THỰC VẬT ĐỐI VỚI NẤM Pestalotiopsis microspora VÀ Colletotrichum gloeosporioides TÁC NHÂN GÂY BỆNH RỤNG LÁ ĐỐM TRÒN TRÊN CÂY CAO SU
Abstract : 101 PDF: 0Tám hoạt chất thuốc bảo vệ thực vật (BVTV) bao gồm: Propiconazole, Tebuconazole, Hexaconazole, Copper oxychloride, Propineb, Chlorothalonil, Tetramycin và Kasugamycin đã được đánh giá hiệu lực đối với nấm Pestalotiopsis microspora và Colletotrichum gloeosporioides, tác nhân gây bệnh rụng lá đốm tròn trên cây cao su tại Việt Nam. Kết quả cho thấy, các hoạt chất có tính nội hấp và lưu dẫn như: Propiconazole, Tebuconazole đạt hiệu quả ức chế cao, đặc biệt là Propiconazole với hiệu quả 100% ở nồng độ 120 ppm. Các thuốc có tính tiếp xúc như: Copper oxychloride và Propineb cũng thể hiện khả năng kiểm soát bệnh, nhưng yêu cầu nồng độ cao hơn. Bên cạnh đó, các thuốc sinh học như Tetramycin cũng cho thấy, hiệu quả ức chế tốt đối với nấm Pestalotiopsis microspora, mặc dù nồng độ cần thiết cho hiệu quả 100% có sự khác biệt. Kết quả nghiên cứu này giúp bổ sung cơ sở khoa học cho việc lựa chọn thuốc BVTV phù hợp trong việc phòng trị bệnh rụng lá đốm tròn trên cây cao su.
-
SÀNG LỌC NGUỒN VẬT LIỆU LẠC (Arachis hypogaea L.) CHỊU HẠN VÀ KHÁNG BỆNH HÉO XANH VI KHUẨN (Ralstonia solanacearum Smith) CHO CÁC TỈNH MIỀN TRUNG
Abstract : 124 PDF: 0Miền Trung là vùng trồng lạc quan trọng của Việt Nam, tuy nhiên điều kiện hạn hán và áp lực bệnh héo xanh vi khuẩn cao đã làm giảm năng suất và sản lượng lạc. Sử dụng các giống chống chịu với các điều kiện bất lợi nêu trên là chiến lược quan trọng để bảo vệ ngành sản xuất lạc của vùng. Trong số 150 dòng/giống lạc được đánh giá, có 37 dòng/giống lạc có khả năng chịu hạn ở mức chống chịu cao đến trung bình, đồng thời có khả năng kháng cao đến trung bình với bệnh héo xanh vi khuẩn như: L28, Trạm Dầu 207, L27, L33, L34, L35... Những dòng/giống này là nguồn vật liệu tốt phục vụ cho công tác chọn tạo giống chống chịu hạn và kháng bệnh héo xanh vi khuẩn.
-
ẢNH HƯỞNG CỦA LƯỢNG PHÂN BÓN VÀ MẬT ĐỘ TRỒNG ĐẾN NĂNG SUẤT VÀ HIỆU QUẢ KINH TẾ CỦA GIỐNG SẮN KHÁNG BỆNH KHẢM LÁ HN1 TRÊN ĐẤT NÂU ĐỎ BAZAN TẠI TỈNH ĐẮK LẮK
Abstract : 142 PDF: 0Mục đích của nghiên cứu này là xác định lượng phân bón và mật độ trồng thích hợp cho giống sắn kháng bệnh khảm lá HN1 trên đất nâu đỏ bazan tại xã EaTu, thành phố Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk năm 2024 - 2025. Kết quả nghiên cứu đã xác định được công thức M4P5 với mật độ trồng 10.000 hom/ha (khoảng cách 1,0 x 1,0 m) và lượng phân bón là 500 kg NPK 16 - 16 - 8 + 500 kg NPK 10 - 0 - 30 + 1,5 tấn phân hữu cơ vi sinh (Con Cò Vàng) cho khối lượng củ/gốc tốt nhất đạt 4,87 kg/gốc; năng suất củ tươi cao nhất đạt 48,67 tấn/ha/vụ, hàm lượng tinh bột tốt nhất là 31,68% và năng suất tinh bột đạt cao nhất là 15,39 tấn/ha/vụ, có ý nghĩa thống kê mức 95%. Đây cũng là công thức cho lãi thuần cao nhất, đạt 79,00 triệu đồng/ha/vụ, cao hơn công thức M1P1 là 50,77 triệu đồng/ha.
-
NGHIÊN CỨU ỨNG DỤNG PHỤ PHẨM BÃ BỘT MÌ TRONG LÊN MEN Acinetobacter nosocomialis CYS-V3 TẠO NANO BẠC SINH HỌC VÀ ĐÁNH GIÁ TIỀM NĂNG KHÁNG TUYẾN TRÙNG NỐT SƯNG TRÊN HỒ TIÊU
Abstract : 311 PDF: 0Chủng vi khuẩn Acinetobacter nosocomialis CYS-V3 có khả năng tổng hợp nano bạc (AgNPs) theo cơ chế ngoại bào, với hoạt tính sinh học mạnh trong việc ức chế và tiêu diệt tuyến trùng Meloidogyne spp. và nấm Phytophthora spp. gây hại trên cây hồ tiêu. Nhờ tính an toàn và thân thiện môi trường, nano bạc sinh học được xem là giải pháp thay thế tiềm năng cho các loại thuốc bảo vệ thực vật hóa học. Tuy nhiên, hiện nay vẫn còn rất ít nghiên cứu ứng dụng phụ phẩm nông nghiệp, đặc biệt là bã tinh bột mì (CSPB), làm nguồn cơ chất trong lên men sản xuất AgNPs bằng vi sinh vật. Mục tiêu của nghiên cứu này là sử dụng phụ phẩm CSPB làm nguồn C/N giá rẻ và thân thiện môi trường cho quá trình lên men chủng A. nosocomialis CYS-V3. Sau 72 giờ nuôi cấy trong môi trường CSPB ở tỷ lệ 70% và 100% (CT4 và CT5), mật độ vi khuẩn lần lượt đạt 3,1 x 108 và 2,7 x 108 CFU/mL. Dịch lên men thu sẽ được sử dụng để tổng hợp nano bạc sinh học. Kết quả phân tích cho thấy, AgNPs có dạng hình cầu, phổ hấp thụ từ 420 - 540 nm với đỉnh cực đại tại 400 nm, kích thước hạt trung bình 86,5 nm và độ ổn định cao (điện thế zeta đạt -48,3 mV). AgNPs tổng hợp có hiệu lực ức chế 100% trứng tuyến trùng sau 3 ngày ủ và tiêu diệt tuyến trùng tuổi 2 tại nồng độ 1,25 ppm sau 5 ngày ủ.
-
NGHIÊN CỨU QUẦN XÃ TUYẾN TRÙNG KÝ SINH CÂY SẦU RIÊNG Ở MỘT SỐ VÙNG CANH TÁC CHÍNH TẠI ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG
Abstract : 211 PDF: 0Nghiên cứu được thực hiện trong 2 năm (2022 - 2024) tại huyện Phong Điền và Thới Lai (thành phố Cần Thơ) và huyện Cai Lậy (tỉnh Tiền Giang) và một số địa bàn khác, với trên 80 mẫu đã được khảo sát. Tuyến trùng được ly trích từ mẫu đất và rễ theo phương pháp Bearmann (dish) cải tiến, xác định mật số hiện diện và thành phần tuyến trùng kí sinh dựa vào các đặc điểm hình thái và các số đo hình thái lượng. Đặc điểm của quần xã tuyến trùng ký sinh cũng được xác định dựa vào các chỉ số sinh thái. Kết quả ghi nhận có 12 giống tuyến trùng hiện diện, trong đó, giống Pratylenchus với chỉ số giá trị ưu thế (PV) cao nhất (855,96), tiếp đến là Basiria (260,31) và Helicotylenchus (134,40). Dựa theo tập tính ký sinh trên cây sầu riêng, Pratylenchus và Helicotylenchus được đánh giá có tiềm năng gây hại, với mật số trung bình trong đất (con/100 g đất) đạt 85,60, 13,44; trong rễ (con/5 g rễ) là 56,80 và 0,66; tuy chưa đạt tới ngưỡng kinh tế nhưng cần được nghiên cứu thêm về khả năng gây hại của chúng, nhất là giai đoạn cây con. Giống Helicotylenchus và Pratylenchus xuất hiện ở tất cả các nhóm độ tuổi của cây sầu riêng, riêng Pratylenchus xuất hiện với mật số cao ở nhóm cây có độ tuổi từ 1 - 3 năm. Bên cạnh đó, loài Radopholus sp. cũng được ghi nhận trong đất và rễ cây sầu riêng ở huyện Cai Lậy, tỉnh Tiền Giang, tuy chỉ với mật số tương đối (RD) thấp (0,37%), nhưng có tiềm năng gây hại cao của nhóm nội ký sinh di động. Do có sự tích lũy mật số của tuyến trùng theo thời gian nên cần có những khuyến cáo ngăn ngừa phát tán và phòng trị phù hợp, góp phần định hướng cho công tác quản lý các đối tượng gây hại này trong canh tác cây sầu riêng theo hướng an toàn và bền vững.
-
KHẢO SÁT THÀNH PHẦN TUYẾN TRÙNG KÝ SINH THỰC VẬT TRÊN CÂY ỔI TẠI HUYỆN CHÂU THÀNH, TỈNH ĐỒNG THÁP
Abstract : 210 PDF: 0Ổi (Psidium guajava L.) là loại cây ăn quả phổ biến được trồng nhiều nơi trên thế giới. Nghiên cứu nhằm khảo sát thành phần tuyến trùng trên 30 vườn trồng ổi tại 8 xã bao gồm: An Khánh, Phú Hựu, Hòa Tân, An Phú Thuận, Phú Long, Tân Nhuận Đông, An Nhơn, An Hiệp của huyện Châu Thành, tỉnh Đồng Tháp. Kết quả điều tra đã ghi nhận thành phần tuyến trùng có 5 loài, 5 giống và 4 họ đều thuộc về bộ Tylenchida. Các loài tuyến trùng trên ổi là Meloidogyne enterolobii, Helicotylenchus dihystera, Tylenchorhynchus sp., Rotylenchulus reniformis và Mesocriconema sp.. Dựa trên triệu chứng gây hại, mật số và tần suất bắt gặp cho thấy loài tuyến trùng gây hại quan trọng trên cây ổi là loài tuyến trùng Meloidogyne enterolobii.
-
ẢNH HƯỞNG CỦA TUYẾN TRÙNG Meloidogyne spp. ĐẾN SINH TRƯỞNG CỦA CÂY HỒ TIÊU TRONG ĐIỀU KIỆN VƯỜN ƯƠM
Abstract : 214 PDF: 0Tuyến trùng nốt sưng rễ (Meloidogyne spp.) đã được xác định là một trong những loài gây hại chính đối với cây hồ tiêu (Piper nigrum L.). Loài tuyến trùng này có khả năng xâm nhập và gây hại cho cây tiêu ngay từ giai đoạn cây con trong vườn ươm cho đến khi trưởng thành ngoài đồng ruộng. Nghiên cứu này được thực hiện nhằm đánh giá mức độ xâm nhiễm và ảnh hưởng của tuyến trùng Meloidogyne spp. đến giống hồ tiêu Vĩnh Linh trong điều kiện nhà màng. Thí nghiệm được bố trí theo kiểu khối ngẫu nhiên đầy đủ (RCBD) với 3 lần lặp lại, sử dụng các mức lây nhiễm tuyến trùng khác nhau gồm: 0, 50, 100, 150, 200, 300, 400 và 500 con/100 g đất. Kết quả cho thấy, tuyến trùng có khả năng xâm nhiễm và sinh sản mạnh, thể hiện qua sự gia tăng mật số trong đất và rễ theo thời gian so với mức độ lây nhiễm ban đầu. Ảnh hưởng của tuyến trùng đến sinh trưởng của cây hồ tiêu thể hiện rõ qua sự suy giảm các chỉ tiêu sinh trưởng đặc biệt là chiều dài thân chính và mức độ tổn thương hệ rễ. Từ mật số lây nhiễm 100 con/100 g đất trở lên, các chỉ tiêu sinh trưởng và sinh lý bắt đầu giảm có ý nghĩa thống kê so với đối chứng sau 150 ngày lây nhiễm. Tỷ lệ rễ bị nốt sưng tăng đáng kể, chiếm 88,67% ở mức lây nhiễm 500 con/100 g đất. Kết quả nghiên cứu xác định ngưỡng gây hại của Meloidogyne spp. trên giống hồ tiêu Vĩnh Linh trong điều kiện nhà màng là từ 150 con/100 g đất trở lên. Từ mật số 100 con/100 g đất được xác định là ngưỡng cảnh báo của tuyến trùng đối với cây hồ tiêu. Đây là cơ sở quan trọng phục vụ công tác đánh giá tính kháng của giống, sàng lọc vật liệu chọn tạo và xây dựng biện pháp quản lý tuyến trùng hiệu quả trong sản xuất hồ tiêu.








