NGHIÊN CỨU QUẦN XÃ TUYẾN TRÙNG KÝ SINH CÂY SẦU RIÊNG Ở MỘT SỐ VÙNG CANH TÁC CHÍNH TẠI ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG
DOI:
https://doi.org/10.71254/fccbxa98Abstract
The research was conducted during 2022 - 2024, in Phong Dien and Thoi Lai districts (Can Tho city) and Cai Lay district (Tien Giang province) and some other areas, with over 80 samples surveyed. Nematodes were extracted from rhizospheric soil and root samples using the improved Bearmann (dish) method; determining the presence and composition of plant parasitic nematodes based on morphological characteristics and morphological measurements. Characteristics of parasitic nematode communities are also determined based on ecological indicators. The results recorded the presence of 12 nematode genera, with Pratylenchus exhibiting a high prominence value (PV) (855.96), followed by Basiria (260.31) and Helicotylenchus (134.40). Based on their parasitic habits on durian, Pratylenchus and Helicotylenchus are considered to have damage potential; with their average density in soil (individuals/100 g soil) reaching 85.60 and 13.44; and in roots (individuals/5 g root) reaching 56.80 and 0.66, respectively. While these densities have not yet reached economic thresholds, further research on their damage potential is necessary, especially during the seedling stage. Helicotylenchus and Pratylenchus species were present in all age groups of durian trees, with Pratylenchus occurring at high densities in trees aged 1 - 3 years. Additionally, Radopholus sp. was also recorded in soil and roots of durian in Cai Lay district, Tien Giang province although only at low relative density (RD) (0.37%), this species possesses high damage potential as a migratory endoparasite. Due to the accumulation of nematode populations over time, appropriate recommendations for preventing their spread and controlling them are needed. This will help guide the management of these pests in durian cultivation towards safe and sustainable way.
Keywords:
Durian, Cai Lay, nematode communities, Phong Dien, Thoi Lai.Tóm tắt
Nghiên cứu được thực hiện trong 2 năm (2022 - 2024) tại huyện Phong Điền và Thới Lai (thành phố Cần Thơ) và huyện Cai Lậy (tỉnh Tiền Giang) và một số địa bàn khác, với trên 80 mẫu đã được khảo sát. Tuyến trùng được ly trích từ mẫu đất và rễ theo phương pháp Bearmann (dish) cải tiến, xác định mật số hiện diện và thành phần tuyến trùng kí sinh dựa vào các đặc điểm hình thái và các số đo hình thái lượng. Đặc điểm của quần xã tuyến trùng ký sinh cũng được xác định dựa vào các chỉ số sinh thái. Kết quả ghi nhận có 12 giống tuyến trùng hiện diện, trong đó, giống Pratylenchus với chỉ số giá trị ưu thế (PV) cao nhất (855,96), tiếp đến là Basiria (260,31) và Helicotylenchus (134,40). Dựa theo tập tính ký sinh trên cây sầu riêng, Pratylenchus và Helicotylenchus được đánh giá có tiềm năng gây hại, với mật số trung bình trong đất (con/100 g đất) đạt 85,60, 13,44; trong rễ (con/5 g rễ) là 56,80 và 0,66; tuy chưa đạt tới ngưỡng kinh tế nhưng cần được nghiên cứu thêm về khả năng gây hại của chúng, nhất là giai đoạn cây con. Giống Helicotylenchus và Pratylenchus xuất hiện ở tất cả các nhóm độ tuổi của cây sầu riêng, riêng Pratylenchus xuất hiện với mật số cao ở nhóm cây có độ tuổi từ 1 - 3 năm. Bên cạnh đó, loài Radopholus sp. cũng được ghi nhận trong đất và rễ cây sầu riêng ở huyện Cai Lậy, tỉnh Tiền Giang, tuy chỉ với mật số tương đối (RD) thấp (0,37%), nhưng có tiềm năng gây hại cao của nhóm nội ký sinh di động. Do có sự tích lũy mật số của tuyến trùng theo thời gian nên cần có những khuyến cáo ngăn ngừa phát tán và phòng trị phù hợp, góp phần định hướng cho công tác quản lý các đối tượng gây hại này trong canh tác cây sầu riêng theo hướng an toàn và bền vững.








