Số 17 (2025)

					Xem Số 17 (2025)
Đã Xuất bản: 15-09-2025

Bài viết

  • ĐẶC ĐIỂM NÔNG SINH HỌC NGUỒN GEN MƯỚP ĐẮNG RỪNG ĐIA TỈNH NGHỆ AN

    Abstract : 272 PDF: 0
    Đới Hồng Hạnh, Phạm Hùng Cương, Hồ Thị Thương, Hoàng Thị Hải, Nguyễn Thị Quyên, Lương Thị Kim Loan, Nguyễn Bá Cường
    3-10

    Mướp đắng rừng Đia (Momordica charantia Linn. var. abbreviata Seringe) thu thập tại tỉnh Nghệ An được trồng phổ biến làm rau và dược liệu. Kết quả nghiên cứu đánh giá về đặc điểm nông sinh học, năng suất và chất lượng cho thấy, mướp đắng rừng Đia có thời gian sinh trưởng dài (145 ± 4 ngày), ra hoa cái đầu tiên sau 35 ± 3 ngày, thu hoạch sau 42 ± 3 ngày, muộn hơn 25 - 40 ngày so với giống trồng phổ biến. Cây sinh trưởng khỏe (dây dài 3,8 - 4,6 m), quả nhỏ (5 - 6 cm, 23 - 25 g), vị đắng đậm, chịu hạn, chịu đất xấu và úng tốt; tỷ lệ nhiễm sương mai, phấn trắng thấp, không cần sử dụng thuốc bảo vệ thực vật. Năng suất thực thu đạt 4,6 - 7,5 tấn/ha, cao hơn một số nguồn gen hoang dại nhưng thấp hơn giống cải tiến. Phân tích hóa sinh cho thấy, hàm lượng saponin (49,0 mg/g) và phenolic (0,27%) cao, giàu khoáng (K, Ca, Fe), vitamin (A, B6, C), protein (18 g/100 g) và carbohydrate (64,5 g/100 g). Hàm lượng kim loại nặng, aflatoxin đáp ứng QCVN 8-2:2011/BYT. Cảm quan đánh giá hương thơm 4,64/5, vị 4,84/5 với đặc trưng đắng và ngọt hậu. Nguồn gen này có giá trị cho sản xuất hữu cơ, phát triển thực phẩm chức năng và bảo tồn đa dạng sinh học.

    DOI: https://doi.org/10.71254/309cky42
  • NGHIÊN CỨU NHÂN GIỐNG HOA HỒNG CỔ SA PA VÀ HỒNG CỔ VÂN KHÔI BẰNG PHƯƠNG PHÁP NUÔI CẤY MÔ TẾ BÀO

    Abstract : 274 PDF: 0
    Lê Thị Minh Thảo, Lê Hùng Lĩnh, Nguyễn Văn Hồng, Phạm Phương Thu, Dương Thị Thanh Hương, Nguyễn Thị Tần, Triệu Thị Mủi, Trần Ngọc Tuấn, Dương Thị Thảo Chinh, Phạm Gia Khánh, Khuất Thị Mai Lương
    11-21

    Hồng cổ Sa Pa và Vân Khôi hiện đang bị khai thác quá mức, thiếu nguồn giống chất lượng. Nghiên cứu này nhằm xây dựng quy trình nhân giống in vitro hai giống hồng cổ có giá trị. Kết quả cho thấy, xử lý khử trùng hiệu quả nhất cho hồng cổ Sa Pa là cồn 70% trong 15 phút, javel 5% trong 10 phút và HgCl₂ 0,1% trong 5 phút (tỉ lệ mẫu sạch và sống 81,1%). Đối với hồng cổ Vân Khôi, thời gian xử lý bằng cồn 70% rút ngắn còn 10 phút, đạt tỉ lệ mẫu sạch và sống 75,6%. Môi trường MS bổ sung 1,5 mg/l BAP cảm ứng chồi hiệu quả, chiều cao chồi 1,8 - 2,0 cm, trung bình 1,8 chồi/nách và 4,0 - 5,3 lá/chồi sau 6 tuần. Môi trường nhân nhanh tối ưu là MS + 1 mg/l BAP + 0,5 mg/l kinetin + 0,3 mg/l α- NAA, cho tỉ lệ tạo cụm chồi 91,1 - 92,2%, hệ số nhân chồi 2,8 - 2,9 lần sau 8 tuần. Môi trường ra rễ là MS + 0,5 mg/l IBA, đạt 88,9 - 94,4% chồi ra rễ, trung bình 3,6 - 3,7 rễ/chồi. Ở giai đoạn vườn ươm, giá thể 50% đất, 25% phân giun, 25% trấu hun cho tỉ lệ sống 78,9 - 82,1%, chiều cao 5,9 - 6,8 cm, 9,7 - 10,5 lá/cây. Phun phân bón lá Vinaf 30-20-10+TE giúp tăng tỉ lệ sống lên 85,6 - 87,7%, chiều cao 6,5 - 7,1 cm và 9,7 - 11,0 lá/cây. Quy trình là cơ sở phục vụ nhân giống hoa hồng cổ sạch bệnh, đồng nhất, quy mô lớn.

    DOI: https://doi.org/10.71254/k3thsc58
  • NGHIÊN CỨU ẢNH HƯỞNG CỦA MẬT ĐỘ TRỒNG VÀ LIỀU LƯỢNG PHÂN BÓN KALI ĐẾN NĂNG SUẤT VÀ HIỆU QUẢ KINH TẾ CỦA GIỐNG HÀNH TÍM HAN2 TẠI KHU VỰC NAM TRUNG BỘ

    Abstract : 321 PDF: 0
    Phạm Trung Hiếu, Nguyễn Văn Sơn, Trịnh Thị Vân Anh, Trần Thị Thảo, Phan Công Kiên
    22-35

    Nghiên cứu nhằm xác định mật độ trồng và liều lượng phân kali thích hợp cho giống hành tím HAN2 đạt năng suất và hiệu quả kinh tế cao trên đất cát ven biển khu vực Nam Trung bộ. Thí nghiệm được bố trí theo kiểu lô chính, lô phụ, 3 lần lặp lại. Lô chính là 3 mật độ (M1: 66,7 vạn cây/ha, M2: 55,5 vạn cây/ha và M3: 44,4 vạn cây/ha), lô phụ là 4 liều lượng phân kali (K1: 80 kg K2O/ha, K2: 90 kg K2O/ha, K3: 100 kg K2O/ha và K4: 110 kg K2O/ha). Kết quả cho thấy, mật độ trồng 55,5 vạn cây/ha và liều lượng phân bón kali 110 kg K2O/ha phù hợp nhất cho giống hành tím HAN2, năng suất trung bình đạt 25,0 - 28,4 tấn/ha, lãi thuần và tỷ suất lãi so với vốn đầu tư đạt cao nhất (366,636 triệu đồng/ha và 1,16 lần tại tỉnh Ninh Thuận, 312,339 triệu đồng/ha và 1,00 lần tại tỉnh Khánh Hòa, 390,461 triệu đồng/ha và 1,23 lần tại tỉnh Quảng Ngãi).

    DOI: https://doi.org/10.71254/zw1kba35
  • NGHIÊN CỨU ẢNH HƯỞNG CỦA ĐIỀU KIỆN XỬ LÝ NHIỆT ĐẾN SỰ THAY ĐỔI CHẤT LƯỢNG PUREE TỪ QUẢ THANH TRÀ (Bouea macrophylla Griffith)

    Abstract : 209 PDF: 0
    Lê Hoàng Thanh, Nguyễn Thị Ngọc Dễ, Lâm Tấn Phát, Nguyễn Bảo Lộc
    36-43

    Thanh trà là một trong những loại cây ăn quả nhiệt đới có giá trị dinh dưỡng cao. Mục tiêu của nghiên cứu là xác định ảnh hưởng của điều kiện xử lý nhiệt đến sự thay đổi chất lượng của puree từ quả thanh trà. Nghiên cứu được khảo sát ảnh hưởng của nhiệt độ chần (70, 80, 90oC) ở các mức thời gian (1, 2, 3, 4, 5 phút) thông qua các chỉ tiêu khảo sát bao gồm: Hiệu suất thu hồi, hàm lượng đường tổng số, hàm lượng vitamin C, hàm lượng axit tổng số và giá trị màu sắc (L* và b*). Kết quả nghiên cứu cho thấy, ở điều kiện chần bao gồm nhiệt độ 80oC trong thời gian 3 phút, puree thanh trà có hiệu suất thu hồi 62,68%, hàm lượng đường tổng số 7,78%, hàm lượng vitamin C 64,8 mg, hàm lượng axit tổng số 1,62%, màu sắc với độ sáng L* = 51,92 và giá trị màu vàng b* = 30,89. Kết quả này khẳng định, quá trình chần là phương pháp tiền xử lý quả thanh trà có hiệu quả, tạo puree có chất lượng cao.

    DOI: https://doi.org/10.71254/sxjdg548
  • NGHIÊN CỨU ẢNH HƯỞNG CỦA BIỆN PHÁP BẢO QUẢN ĐẾN SỰ THAY ĐỔI CHẤT LƯỢNG HẠT NGÔ TẺ VÀNG

    Abstract : 387 PDF: 0
    Lưu Ngọc Quyến, Lê Khải Hoàn, Nguyễn Văn Chinh, Lê Thị Huyền Linh
    44-50

    Thí nghiệm đánh giá ảnh hưởng của các biện pháp bảo quản đến sự thay đổi độ ẩm, hàm lượng dinh dưỡng hạt đã được tiến hành với các công thức (CT): CT1 hạt ngô được để nguyên trên bắp và có lá bi (phương pháp truyền thống); CT2 hạt ngô được bảo quản trong bao tải; CT3 hạt ngô được bảo quản trong cót; CT4 hạt ngô được bảo quản trong túi hút chân không; CT5 hạt ngô được bảo quản trong bao tải có lá xua đuổi côn trùng. Kết quả theo dõi sự thay đổi về độ ẩm hạt cho thấy, khi hạt ngô tẻ vàng được bảo quản trong túi hút chân không (điều kiện yếm khí) CT4 thì sự tăng độ ẩm của khối hạt không đáng kể, từ 13,25% ở thời điểm trước bảo quản lên 14,33% tại thời điểm sau bảo quản 8 tháng. Trong khi đó, ở các CT bảo quản khác (CT1, CT2, CT3, CT5) ở điều kiện bảo quản hiếu khí, độ ẩm hạt tăng cao lần lượt ở các mức 21,16; 20,13; 19,95; 20,16%. Hàm lượng các chất dinh dưỡng có sự giảm mạnh ở các CT bảo quản trong điều kiện có ôxy và giảm nhẹ trong điều kiện bảo quản yếm khí. Cụ thể: Sau 8 tháng bảo quản, hàm lượng tinh bột trong hạt ngô tẻ vàng giảm 45,96% ở CT1, 45,49% ở CT2, 45,37% ở CT3, 44,34% ở CT5 và chỉ 4,18% ở CT4. Hàm lượng protein giảm 53,00% ở CT1, 50,00% ở CT2, 49,06 ở CT3, 46,68% ở CT5 và chỉ 7,95% ở CT4. Hàm lượng lipit giảm 77,9% ở CT1, 69,03% ở CT2, 64,02 ở CT3, 75,0% ở CT5 và chỉ 23,37% ở CT4. Như vậy, hạt ngô tẻ vàng khi được bảo quản trong điều kiện hút chân không sẽ giúp hạn chế tối đa sự giảm các thành phần sinh hóa trong hạt.

    DOI: https://doi.org/10.71254/2xnstt15
  • NGHIÊN CỨU CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN QUÁ TRÌNH LÊN MEN TRÀ JUN BỔ SUNG MÃNG CẦU XIÊM (Annona muricata L.)

    Abstract : 313 PDF: 0
    Phan Nguyễn Trang, Nguyễn Phương Anh, Hà Huy Lợi, Trần Thị Ngọc Diễm
    51-59

    Nghiên cứu này nhằm đánh giá ảnh hưởng của các điều kiện lên men đến chất lượng của sản phẩm trà Jun bổ sung mãng cầu xiêm (Annona muricata L.). Các yếu tố được khảo sát bao gồm: Khối lượng trà xanh (5, 7, 9 g/L), lượng mật ong (110, 130, 150 mL/L), tỷ lệ hỗn hợp cộng sinh vi khuẩn và nấm men (SCOBY) (30, 50, 70 g/L), thời gian lên men giai đoạn 1 (2, 4, 6 ngày), hàm lượng mãng cầu xiêm bổ sung (150, 200, 250 g/L) và thời gian lên men giai đoạn 2 (1, 2, 3 ngày). Các chỉ tiêu phân tích gồm: Độ Brix, pH, hàm lượng axit tổng số, polyphenol tổng số, màu sắc và đánh giá cảm quan. Kết quả cho thấy, tất cả các yếu tố khảo sát đều ảnh hưởng đáng kể đến chất lượng sản phẩm (p < 0,05). Sản phẩm trà Jun đạt chất lượng tốt nhất khi sử dụng 7 g/L trà xanh, 130 mL/L mật ong, 50 g/L SCOBY và lên men trong 4 ngày ở giai đoạn đầu. Khi bổ sung 200 g/L mãng cầu xiêm và tiếp tục lên men thêm 2 ngày ở giai đoạn hai, sản phẩm thu được có chất lượng cảm quan cao, góp phần phát triển một loại thức uống lên men mới, giàu dinh dưỡng và phù hợp với xu hướng tiêu dùng hiện đại.

    DOI: https://doi.org/10.71254/5kv1fp61
  • ẢNH HƯỞNG CỦA XỬ LÝ CÁC HỢP CHẤT CANXI VÀ DỊCH RƯỢU THANH LONG SAU THU HOẠCH ĐẾN CHẤT LƯỢNG VÀ KHẢ NĂNG BẢO QUẢN KHỔ QUA

    Abstract : 174 PDF: 0
    Dương Thị Cẩm Nhung, Nguyễn Văn Phong
    60-69

    Khổ qua là một trong những rau màu có giá trị dinh dưỡng và giá trị kinh tế cao, có mặt hầu hết trong các bữa ăn gia đình ở Việt Nam. Tuy nhiên, sau thu hoạch khổ qua dễ bị mềm, chuyển màu vàng và thối hỏng một cách nhanh chóng. Việc sử dụng các chất bảo quản an toàn để kiểm soát bệnh và duy trì chất lượng cho rau quả là xu hướng lựa chọn thực phẩm an toàn của người tiêu dùng và hạn chế tác động đến môi trường. Vì vậy, trong nghiên cứu này, với mục đích đánh giá ảnh hưởng các hợp chất canxi và rượu lên men từ dịch và vỏ quả thanh long lên sự thay đổi màu sắc, chất lượng, mức độ thối hỏng và thời gian bảo quản của khổ qua theo thời gian bảo quản. Khổ qua sau thu hoạch từ vùng sản xuất rau an toàn xã Long Thuận, huyện Hồng Ngự, tỉnh Đồng Tháp (nay là xã Long Phú Thuận, tỉnh Đồng Tháp) được nhúng trong 7 dung dịch gồm: 1) canxi lactat 0,5%; 2) canxi lactat 1%; 3) canxi clorua 0,5%; 4) canxi clorua 1%; 5) dịch rượu thanh long 10%; 6) dịch rượu thanh long 20%; 7) đối chứng ngâm trong nước, thời gian 3 phút, sau đó làm khô bằng quạt, bao gói PE và trữ nhiệt độ mát (20 ± 2oC). Kết quả chỉ ra rằng, khổ qua nhúng trong dung dịch canxi lactat nồng độ 0,5% hoặc trong dịch rượu thanh long nồng độ 10% đều có hiệu quả làm giảm thối hỏng, duy trì màu xanh và chất lượng sau 8 ngày bảo quản nhiệt độ mát 20 ± 2oC.

    DOI: https://doi.org/10.71254/1kcnty48
  • NGHIÊN CỨU SỬ DỤNG THỨC ĂN XANH LÊN MEN LỎNG TRONG CHĂN NUÔI LỢN THỊT F1 (YORKSHIRE × MÓNG CÁI) THEO HƯỚNG HỮU CƠ

    Abstract : 187 PDF: 0
    Cù Thị Thiên Thu, Dương Thu Hương, Nguyễn Thị Phương, Nguyễn Công Oánh
    70-79

    Nghiên cứu được thực hiện nhằm đánh giá ảnh hưởng của thức ăn xanh lên men lỏng (TALML) sử dụng phụ phẩm nông nghiệp (PPNN) đến năng suất và chất lượng thịt lợn tại trại chăn nuôi lợn của Công ty Thiên Thuận Tường, thành phố Cẩm Phả, tỉnh Quảng Ninh. Tổng 90 lợn lai (Yorkshire × Móng Cái) sau cai sữa được phân vào 3 lô thí nghiệm, mỗi lô 30 con với 3 ô chuồng lặp lại. Lợn ở lô 1 (ĐC) ăn thức ăn công nghiệp hỗn hợp hoàn chỉnh (TACN), lợn ở lô 2 ăn TALML sử dụng 20% PPNN trong khẩu phần, lợn ở lô 3 ăn TALML sử dụng 25% PPNN trong khẩu phần. Thời gian thí nghiệm là 125 ngày. Các chỉ tiêu nghiên cứu bao gồm: Khối lượng và tăng khối lượng (TKL) lợn, thức ăn thu nhận, tiêu tốn thức ăn (TTTA) và chi phí thức ăn cho 1 kg TKL, các chỉ tiêu năng suất và chất lượng thịt lợn. Kết quả thí nghiệm cho thấy, lợn lai (Yorkshire × Móng Cái)nuôi bằng TACN có khối lượng kết thúc và TKL ở cả 2 giai đoạn sinh trưởng và vỗ béo đều cao hơn so với lợn nuôi bằng TALML sử dụng PPNN (P  <  0,05). TTTA cho 1 kg TKL của nhóm lợn nuôi bằng TALML sử dụng PPNN cao hơn rõ rệt so với lợn nuôi bằng TACN  (P < 0,05). Chi phí thức ăn cho 1 kg TKL của nhóm lợn sử dụng TALML sử dụng PPNN thấp hơn so với nhóm lợn sử dụng TACN. Việc sử dụng TALML sử dụng PPNN trong khẩu phần không làm ảnh hưởng đến các chỉ tiêu thể hiện năng suất và chất lượng thịt của lợn, ngoại trừ chỉ tiêu khối lượng móc hàm và thịt xẻ. Sử dụng 20% PPNN trong khẩu phần cho hiệu quả chăn nuôi cao hơn so với sử dụng 25% PPNN trong khẩu phần.

    DOI: https://doi.org/10.71254/02cqyg70
  • ĐÁNH GIÁ CHẤT LƯỢNG NƯỚC MẶT Ở TỈNH SÓC TRĂNG GIAI ĐOẠN 2014 - 2024 BẰNG MỘT SỐ PHƯƠNG PHÁP TÍNH TOÁN WQI

    Abstract : 393 PDF: 0
    Chế Thị Bích Trâm, Nguyễn Đình Giang Nam, Huỳnh Vương Thu Minh
    80-90

    Nghiên cứu đánh giá chất lượng nước mặt tỉnh Sóc Trăng giai đoạn 2014 - 2024 bằng ba chỉ số: WQI-VN, WAWQI và RTWQI. Dữ liệu từ 17 điểm quan trắc gồm: pH, DO, BOD5, COD, TOC, N-NH4+, N-NO3-, N-NO2-, P-PO43-, coliform, TN, TP. Kết quả cho thấy, phần lớn sông, kênh rạch nội đồng bị ô nhiễm hữu cơ, dinh dưỡng và vi sinh, chất lượng chủ yếu ở mức kém hoặc trung bình, chỉ phù hợp giao thông thủy hoặc tưới tiêu; sông Hậu (NM05) có chất lượng tốt hơn. VN_WQI phản ánh rõ biến động theo thời gian, RTWQI ổn định hơn, trong khi WAWQI nghiêm ngặt khi so sánh với QCVN 08:2023/BTNMT. Kết quả cung cấp cơ sở khoa học cho quản lý, bảo vệ và cải thiện chất lượng nước mặt phục vụ sinh hoạt, nông nghiệp và nuôi trồng thủy sản.

    DOI: https://doi.org/10.71254/tj2d7r98
  • TÁC ĐỘNG CỦA HOẠT ĐỘNG SẢN XUẤT NÔNG NGHIỆP Ở VÙNG ĐỆM ĐẾN VƯỜN QUỐC GIA TRÀM CHIM VÀ GIẢI PHÁP HẠN CHẾ

    Abstract : 372 PDF: 0
    Đinh Sơn An, Lê Diễm Kiều
    91-100

    Nghiên cứu nhằm đánh giá tác động của các hoạt động sản xuất nông nghiệp đến Vườn Quốc gia Tràm Chim và đề xuất giải pháp hạn chế bằng phương pháp khảo sát trực tiếp 120 hộ dân ở 6 xã/thị trấn vùng đệm từ tháng 5/2024 đến tháng 12/2024. Kết quả đã ghi nhận, trồng trọt có tỷ lệ cơ cấu sinh kế cao (64,1% hộ dân được khảo sát), tiếp đến là chăn nuôi (15,83%) và nuôi thủy sản (11,67%). Hoạt động sản xuất có tỷ suất thu nhập/chi phí cao là nuôi yến (20,9%), nuôi tôm công nghiệp và cá đen (9,7%), trong khi các hoạt động trồng trọt lại có tỷ suất này thấp (0,17 - 3,66%). Tác động của các hoạt động sản xuất nông nghiệp đến môi trường và Vườn Quốc gia là sử dụng lượng phân bón cao như: Canh tác sen, kiệu, ớt, dưa hấu, lúa 3 vụ; sử dụng thuốc bảo vệ thực vật cao như: Canh tác thanh long, cây ăn trái, sen, mít, lúa 3 vụ; xả nước thải và bùn thải chưa qua xử lý ở hoạt động nuôi thủy sản nông hộ, đặc biệt là nuôi tôm nước lợ. Vì vậy, cần có giải pháp phát triển các hoạt động sản xuất lúa 2 vụ, sen, xoài, ớt và rau màu theo phương thức nông nghiệp hữu cơ, VietGAP, kết hợp xen canh và canh tác thông minh nhằm hạn chế sử dụng phân bón và thuốc bảo vệ thực vật hóa học. Phát triển các mô hình nuôi cá đen, cá trắng, cá chình và thực hiện tốt công tác quản lý nước cấp, nước thải và bùn thải. Hạn chế các hoạt động sản xuất nông nghiệp gây tác động nhiều đến môi trường và có lợi nhuận thấp như: Canh tác lúa 3 vụ, dưa hấu, thanh long; nuôi ếch, lươn và tôm nước lợ.

    DOI: https://doi.org/10.71254/wjnemy96