Số 15 (2025)
Bài viết
-
THU THẬP, ĐÁNH GIÁ VÀ XÁC ĐỊNH GIÁ TRỊ ỨNG DỤNG NGUỒN GEN LÚA MẸ TRÊN ĐẤT LÚA HAI VỤ Ở TỈNH BÌNH THUẬN
Abstract : 353 PDF: 0Lúa Mẹ thuộc nhóm lúa rẫy cổ truyền, được đồng bào dân tộc tại các xã miền núi tỉnh Bình Thuận rất trân quý nên việc giữ gìn, gieo trồng là nghĩa vụ thiêng liêng của các già làng, trưởng tộc hoặc trưởng gia đình lớn. Kết quả khảo sát nguồn gen lúa Mẹ ở xã Phan Lâm và Phan Sơn cho thấy, có 4 giống lúa Mẹ là: Mẹ Bông, Mẹ Vàng, Mẹ Trắng và Mẹ Đen; giống Mẹ Bông được người K’Ho gieo trồng phổ biến, còn người Raglai thì chủ yếu trồng giống Mẹ Vàng. Nguồn gen lúa Mẹ được canh tác theo tập quán trên đất vườn, ruộng cao với diện tích chỉ còn khoảng 2,5 - 3,0 ha và năng suất rất thấp (0,5 - 0,8 tấn/ha), chất lượng suy giảm và đứng trước nguy cơ bị tuyệt chủng do không cạnh tranh được với nguồn gen lúa cải tiến. Hạt lúa Mẹ sau thu hoạch được giữ một phần để làm giống cho vụ sau, phần còn lại chủ yếu sử dụng vào các dịp lễ, Tết, thờ cúng tổ tiên và thần linh. Gạo lúa Mẹ có tính đặc trưng và rất khác biệt, kích thước hạt lớn (35 - 36 g/1.000 hạt), màu trắng đục, cơm nở dài, mềm, xốp và thơm mùi quế. Kết quả đánh giá giá trị ứng dụng của nguồn gen lúa Mẹ trên chân ruộng cao, 2 vụ lúa/năm cho thấy, gieo trồng lúa Mẹ từ cuối tháng 8 đến đầu tháng 9, sau vụ lúa hè thu là phù hợp nhất và có thể cho năng suất hơn 4 tấn/ha mà vẫn giữ ổn định phẩm chất. Canh tác lúa Mẹ trên đất 2 vụ lúa sẽ làm tăng hiệu quả sản xuất và có tác động trực quan nhất vào việc thay đổi tập quán gieo trồng của người dân, là giải pháp cần thiết để đạt được sự hài hòa về lợi ích canh tác và duy trì bền vững nguồn gen lúa Mẹ phục vụ nhu cầu văn hóa tâm linh của đồng bào các dân tộc thiểu số tại các xã miền núi ở tỉnh Bình Thuận.
-
NGHIÊN CỨU ĐIỀU TRA, ĐÁNH GIÁ HIỆN TRẠNG CHUYỂN ĐỔI VÀ SẢN XUẤT CHÈ HỮU CƠ TẠI VÙNG MIỀN NÚI PHÍA BẮC
Abstract : 283 PDF: 0Kết quả điều tra, đánh giá hiện trạng chuyển đổi và sản xuất chè hữu cơ tại vùng miền núi phía Bắc (MNPB) cho thấy: Diện tích chè của 5 tỉnh điều tra là 70.392 ha, chiếm 70,39% toàn vùng MNPB và 57,23% so với diện tích chè cả nước (123.000 ha). Hiện trạng sản xuất chè hữu cơ hiện nay ở vùng thấp đất nghèo dinh dưỡng, hàm lượng mùn dưới 2%; vùng cao đất giàu dinh dưỡng hàm lượng mùn trên 3%; độ pH = 4,10 - 5,2; khí hậu phù hợp cho sản xuất chè hữu cơ; chất lượng sản phẩm chè hữu cơ đạt 16,9 - 17,7 điểm. Thời gian chuyển đổi sản xuất chè hữu cơ ở vùng thấp từ 12 - 48 tháng, tùy thuộc vào điều kiện canh tác chè từng nơi. Quy trình chuyển đổi và sản xuất chè hữu cơ đã áp dụng một số biện pháp kỹ thuật như: Vùng đệm, quản lý đất, quản lý nước, phân bón, cây che bóng (cây trồng xen), vật liệu tủ gốc, bảo vệ thực vật…
-
NGHIÊN CỨU ẢNH HƯỞNG CỦA LIỀU LƯỢNG PHÂN LÂN VÀ VÔI ĐẾN SINH TRƯỞNG VÀ NĂNG SUẤT CỦA CÂY LÚA NƯỚC TRÊN ĐẤT NHIỄM PHÈN TẠI XÃ CAM PHƯỚC ĐÔNG, THÀNH PHỐ CAM RANH, TỈNH KHÁNH HOÀ
Abstract : 334 PDF: 0Đất phèn gây ảnh hưởng bất lợi đến tính chất hóa học đất và giảm năng suất lúa. Do đó, trong sản xuất lúa nước trên đất nhiễm phèn cần có các biện pháp cải thiện nhằm thay đổi hoá tính của đất giúp nâng cao năng suất lúa. Nghiên cứu này được thực hiện nhằm mục đích đánh giá ảnh hưởng của liều lượng phân lân và vôi đến sinh trưởng và năng suất cây lúa nước trên đất nhiễm phèn tại xã Cam Phước Đông, thành phố Cam Ranh, tỉnh Khánh Hoà (nay là phường Ba Ngôi, tỉnh Khánh Hòa). Thí nghiệm được bố trí khối hoàn toàn ngẫu nhiên gồm 8 công thức (CT) , 3 lần lặp lại. Kết quả nghiên cứu cho thấy, các liều lượng phân lân và vôi khác nhau được thử nghiệm cho sản xuất lúa nước (giống lúa Đài Thơm 8) trên đất nhiễm phèn tại xã Cam Phước Đông, thành phố Cam Ranh, tỉnh Khánh Hoà (nay là phường Ba Ngôi, tỉnh Khánh Hòa) không ảnh hưởng đến thời gian sinh trưởng, chiều cao cây, số bông hữu hiệu/m2 và khối lượng 1.000 hạt. Tuy nhiên, ảnh hưởng lớn đến khả năng phát triển của rễ cây lúa, tăng chiều dài rễ (tăng từ 2,1 - 4,9 cm so đối chứng (đ/c) 1 và từ 1,3 - 4,1 cm so với đ/c 2) giúp cây hút dinh dưỡng tốt hơn, năng suất thu được cao hơn so với các CT (đ/c). CT (nền (110 kg N + 80 kg K2O + 1,5 tấn hữu cơ vi sinh (HCVS)/ha) + 110 kg P2O5/ha + 1.000 kg vôi bột từ ốc biển/ha) đạt năng suất cao nhất 9,2 tấn/ha, tổng lợi nhuận (29.790.000 đồng) đều tăng so với CT (đ/c) 1 (18.840.000 đồng) và CT (đ/c) 2 (18.055.000 đồng) > 50% và tỷ suất lãi đạt 56%.
-
XÁC ĐỊNH LƯỢNG PHÂN HỮU CƠ TỪ PHỤ PHẨM NÔNG NGHIỆP THAY THẾ PHÂN VÔ CƠ CHO CÂY CẢI BẮP THEO MÔ HÌNH NÔNG NGHIỆP TUẦN HOÀN
Abstract : 367 PDF: 0Để sản xuất nông nghiệp tuần hoàn, bền vững thì một trong những giải pháp hữu hiệu là ứng dụng chế phẩm vi sinh xử lý phụ phẩm nông nghiệp thành phân hữu cơ. Thí nghiệm một nhân tố được bố trí theo kiểu khối ngẫu nhiên đầy đủ với 5 công thức (CT) phân bón và 3 lần nhắc lại nhằm mục đích xác định lượng phân hữu cơ được xử lý bằng chế phẩm vi sinh từ phụ phẩm nông nghiệp thay thế phân vô cơ đối với sinh trưởng, sinh lý, năng suất và chất lượng cây cải bắp. Kết quả nghiên cứu cho thấy, bón phân hữu cơ thay thế phân vô cơ đã tăng các chỉ tiêu sinh trưởng, sinh lý, các yếu tố cấu thành năng suất, năng suất và chất lượng của cải bắp. Thay thế 50% lượng phân vô cơ bằng phân hữu cơ cho các chỉ tiêu sinh trưởng, sinh lý, các yếu tố cấu thành năng suất và năng suất cao hơn có ý nghĩa so với các mức bón khác, cao hơn so với đối chứng (bón 100% phân vô cơ). Năng suất thực thu của mức bón phân hữu cơ trên đạt cao nhất có ý nghĩa với 33,5 tấn/ha, cao hơn 45,65% so với đối chứng. Vì thế, có thể thay thế 50% lượng phân vô cơ bằng phân hữu cơ để xây dựng mô hình sản xuất cải bắp vừa đảm bảo an toàn, tăng năng suất và chất lượng cho cải bắp.
-
NGHIÊN CỨU XÁC ĐỊNH CÔNG THỨC PHÂN BÓN HỢP LÝ CHO CÂY HỒ TIÊU (Piper nigrum L.) TẠI ĐẶC KHU PHÚ QUỐC, TỈNH AN GIANG
Abstract : 342 PDF: 0Nghiên cứu xác định công thức phân bón hợp lý cho cây hồ tiêu tại thành phố Phú Quốc, tỉnh Kiên Giang (nay là đặc khu Phú Quốc, tỉnh An Giang) đã được thực hiện qua hai niên vụ 2022 - 2023 và 2023 - 2024 nhằm xác định được công thức phân bón hợp lý cho cây hồ tiêu ở giai đoạn kinh doanh để vườn cây sinh trưởng, năng suất ổn định và có chi phí sản xuất hợp lý. Thí nghiệm được bố trí chính quy theo kiểu khối hoàn toàn ngẫu nhiên (RCBD) một yếu tố với 5 công thức phân bón vô cơ kết hợp hữu cơ và được lặp lại 3 lần. Trong đó, công thức 5 là nghiệm thức đối chứng của nông dân áp dụng phổ biến tại đặc khu Phú Quốc, tỉnh An Giang. Mỗi nghiệm thức được bố trí trên 16 trụ tiêu và quan trắc 4 trụ ở giữa đối với các chỉ tiêu theo dõi. Vườn tiêu thí nghiệm trồng giống tiêu Phú Quốc, trụ bê tông, tuổi vườn năm thứ 8. Các số liệu được tổng hợp và phân tích phương sai ANOVA bằng phần mềm thống kê SAS 9.1. Kết quả nghiên cứu áp dụng bón phân hữu cơ với liều lượng (phân bò ủ hoai: 10 kg/trụ, có bổ sung phân hữu cơ vi sinh 1 kg/trụ) kết hợp phân bón vô cơ với công thức (250 N - 80 P2O5 - 300 K2O) kg/ha cho thấy, cây hồ tiêu sinh trưởng khá ổn định qua hai niên vụ; năng suất đạt bình quân 2,9 - 3,1 tấn/ha và cao hơn đối chứng 11%; tỷ lệ bệnh hại khá thấp; dung trọng đạt khá, trên 570 g/L và giá thành sản xuất thấp, lợi nhuận đạt cao nhất trong điều kiện thí nghiệm.
-
NGHIÊN CỨU ĐẶC ĐIỂM VI KHUẨN CÓ KHẢ NĂNG TẠO MÀNG BIOFILM TỪ SỮA BÒ TƯƠI CHĂN NUÔI HỘ GIA ĐÌNH Ở THÀNH PHỐ CẦN THƠ
Abstract : 427 PDF: 0Sự hình thành biofilm của vi khuẩn trên bề mặt thiết bị chế biến sữa có thể làm giảm chất lượng và an toàn của sản phẩm. Nghiên cứu này được thực hiện nhằm phân lập, tuyển chọn và định danh các chủng vi khuẩn có khả năng hình thành biofilm từ sữa bò tươi được thu thập tại 4 hộ chăn nuôi nhỏ lẻ trên địa bàn phường Cái Răng, thành phố Cần Thơ. Tổng cộng 12 mẫu sữa được phân lập vi khuẩn trên môi trường chọn lọc, đánh giá khả năng hình thành biofilm bằng phương pháp định lượng in vitro, định danh chủng tạo biofilm mạnh nhất thông qua giải trình tự gen 16S rRNA. Kết quả thu được 10 dòng vi khuẩn có khả năng hình thành biofilm, trong đó dòng CT412 tạo biofilm mạnh nhất và được xác định là Serratia nematodiphila. Chủng này có khả năng sinh enzyme protease và lipase ngoại bào, tiềm ẩn nguy cơ gây viêm vú ở bò và làm hư hỏng sữa. Kết quả nghiên cứu cung cấp thông tin cơ sở cho các nghiên cứu tiếp theo về kiểm soát vi khuẩn sinh biofilm trong sản xuất và chế biến sữa.
-
NGHIÊN CỨU ẢNH HƯỞNG CỦA HÀM LƯỢNG TINH BỘT BIẾN TÍNH VÀ ĐỘ ẨM PHỐI TRỘN ĐẾNCHẤT LƯỢNG CỦA BÁNH MOCHI KHOAI LANG TÍM (Ipomoea batatas L.)
Abstract : 563 PDF: 0Bánh mochi là một loại bánh truyền thống của Nhật Bản, được ưa chuộng nhờ kết cấu dẻo mềm đặc trưng từ bột nếp. Trong xu hướng phát triển các sản phẩm mochi có giá trị dinh dưỡng cao, khoai lang tím (KLT) được lựa chọn như một nguồn nguyên liệu tiềm năng nhờ giàu anthocyanin, chất xơ và các hợp chất chống oxy hóa tự nhiên. Nhằm tìm ra điều kiện chế biến tốt nhất cho sản phẩm, việc điều chỉnh thành phần nguyên liệu và điều kiện chế biến, đặc biệt là hàm lượng tinh bột biến tính (TBBT) và độ ẩm phối trộn, đóng vai trò then chốt trong việc ảnh hưởng đến cấu trúc, độ mềm dẻo và các chỉ tiêu cảm quan của bánh mochi. Nghiên cứu được thực hiện với mục tiêu là xác định tỷ lệ phối chế TBBT và độ ẩm nhằm đạt được giá trị cảm quan, màu sắc, mùi vị và cấu trúc tốt nhất cho sản phẩm bánh mochi khoai lang tím. Thí nghiệm được thực hiện với các mức hàm lượng TBBT lần lượt 25, 30, 35, 40%; kết hợp với độ ẩm phối trộn ở các mức 45, 50, 55, 60%. Kết quả cho thấy, hàm lượng TBBT (35%) và độ ẩm phối trộn (55%) là điều kiện phù hợp cho bánh mochi đạt chất lượng, thể hiện qua các chỉ tiêu đánh giá như: Giá trị màu sắc L* (20,27); a* (20,63); độ đàn hồi (9,54 N/m2); hàm lượng anthocyanin (178,60 mg/g); hàm lượng vitamin C (611,6 mg/g); hàm lượng phenolic (823,36 mg/g); khả năng bắt gốc tự do (% khử DPPH) là 88,34% và điểm giá trị cảm quan khá đồng đều, dao động từ 4,30 - 4,44 điểm, cùng độ yêu thích là 8,22 điểm. Kết quả này cho thấy, bánh mochi đạt chất lượng tốt hơn so với các điều kiện khảo sát còn lại.
-
NGHIÊN CỨU CHẾ BIẾN SỮA CHUA BỔ SUNG DỊCH CHIẾT HẠT ĐẬU XANH NẢY MẦM
Abstract : 757 PDF: 0Đậu xanh (Vigna radiata L.) là nguồn nguyên liệu giàu dinh dưỡng và có hoạt tính sinh học cao, đặc biệt khi được xử lý qua quá trình ươm mầm. Nghiên cứu này được thực hiện nhằm xác định các điều kiện thích hợp cho quá trình nảy mầm hạt đậu xanh và trích ly dịch chiết, từ đó ứng dụng bổ sung vào sữa chua để nâng cao giá trị cảm quan và chức năng sản phẩm. Thí nghiệm được bố trí nhằm khảo sát ảnh hưởng của thời gian ngâm (3 - 7 giờ), nhiệt độ nước ngâm (20 - 40°C) và phương pháp ngâm (ngâm ngập và tưới phun) đến tỉ lệ nảy mầm của hạt. Sau khi xác định điều kiện ươm mầm thích hợp (ngâm ngập 5 giờ ở nhiệt độ 30°C, ươm 18 giờ), hạt được sấy khô, nghiền và chiết xuất với các tỉ lệ đậu : nước khác nhau (1 : 2 - 1 : 10). Dịch chiết thu được được sử dụng để lên men sữa chua. Các chỉ tiêu đánh giá bao gồm: Thành phần hóa học (protein, tinh bột, đường khử, vitamin C, polyphenol, GABA), cấu trúc (độ cứng, độ dai, độ dính, độ đàn hồi) và cảm quan (màu, mùi, vị, tổng thể). Kết quả cho thấy, quá trình nảy mầm làm tăng hàm lượng GABA, vitamin C và polyphenol tổng, trong khi giảm protein và tinh bột. Công thức sữa chua bổ sung dịch chiết theo tỉ lệ đậu : nước 1 : 8 (YG 1 : 8) đạt chất lượng tốt nhất, với cấu trúc và cảm quan không khác biệt so với đối chứng, đồng thời chứa hàm lượng GABA là 128 mg/kg. Nghiên cứu góp phần phát triển sản phẩm sữa chua chức năng từ nguồn nguyên liệu có giá trị sinh học cao.
-
NGHIÊN CỨU ĐÁNH GIÁ Ô NHIỄM KIM LOẠI NẶNG VÀ TÁC ĐỘNG TIỀM TÀNG ĐẾN ĐẤT NÔNG NGHIỆP VÀ SỨC KHỎE NGƯỜI DÂN TẠI CÁC KHU VỰC KHAI THÁC MỎ Ở TỈNH THÁI NGUYÊN
Abstract : 1149 PDF: 0Khai thác khoáng sản mang lại giá trị kinh tế không thể phủ nhận, tuy nhiên hoạt động này đã và đang là nguyên nhân chính dẫn đến ô nhiễm môi trường tại các địa điểm lân cận khu vực khai thác. Nghiên cứu này đánh giá mức độ ô nhiễm kim loại nặng (KLN) trong đất tại các khu vực khai thác mỏ và đất nông nghiệp lân cận ở tỉnh Thái Nguyên. Mẫu đất được thu thập từ bốn địa điểm: Mỏ chì - kẽm Tân Long, mỏ thiếc Hà Thượng, mỏ sắt Trại Cau và thành phố Thái Nguyên. Các kim loại nặng bao gồm: Asen (As), kẽm (Zn), đồng (Cu), cadmium (Cd), chì (Pb) được phân tích bằng phương pháp quang phổ nguồn plasma cảm ứng cao tần kết nối khối phổ (ICP-MS). Kết quả cho thấy, mức độ ô nhiễm KLN báo động, vượt QCVN 03-MT:2015/BTNMT, đặc biệt tại 3 địa điểm khai thác mỏ. Nồng độ chì đạt 38.441,6 mg/kg tại Trại Cau (vượt tiêu chuẩn 128 lần), cadmium đạt 172,9 mg/kg tại Hà Thượng (vượt 17 lần), kẽm đạt 40.124,9 mg/kg tại Trại Cau (vượt 133 lần). Không có sự khác biệt đáng kể về nồng độ KLN giữa đất mỏ và đất nông nghiệp lân cận (p > 0,05), cho thấy sự lan truyền ô nhiễm. So sánh với các nghiên cứu trước đây cho thấy, xu hướng ô nhiễm tăng theo thời gian tại nhiều địa điểm. Phát hiện này cho thấy những lo ngại về môi trường và sức khỏe, bao gồm khả năng tích lũy sinh học trong chuỗi thức ăn và tác động đến năng suất nông nghiệp. Nghiên cứu đề xuất thiết lập vùng đệm giữa khu vực khai thác và nông nghiệp, áp dụng các kỹ thuật xử lý đất, giám sát nồng độ KLN và nâng cao nhận thức cộng đồng về các rủi ro sức khỏe liên quan.
-
ỨNG DỤNG MACHINE LEARNING THEO DÕI BIẾN ĐỘNG SỬ DỤNG ĐẤT GIAI ĐOẠN 2010 - 2024 TẠI THÀNH PHỐ TÂN AN, TỈNH LONG AN
Abstract : 409 PDF: 0Nghiên cứu này ứng dụng thuật toán học máy Random Forest để phân loại và theo dõi sự thay đổi lớp phủ sử dụng đất tại thành phố Tân An, tỉnh Long An trong giai đoạn 2010 - 2024. Dữ liệu đầu vào gồm: Ảnh vệ tinh Landsat (các năm 2010, 2015, 2020), Sentinel-2 (năm 2024), dữ liệu mô hình số độ cao DEM và các chỉ số như: NDVI, NDWI, NDBI, BSI, LSWI, MNDWI, AWEI. Các mẫu huấn luyện được xây dựng gồm 6 lớp sử dụng đất chính gồm: Đất trống, mặt nước, cây lâu năm, cây hàng năm, khu dân cư và giao thông. Kết quả phân loại đạt độ chính xác cao với tổng độ chính xác tổng thể (OA) trên 91% và hệ số Kappa trên 0,89 cho từng năm. Biến động sử dụng đất thể hiện xu hướng đô thị hóa rõ rệt, với diện tích đất dân cư và giao thông tăng mạnh trong khi đất nông nghiệp giảm. Giai đoạn 2010 - 2024, đất dân cư tăng hơn 1.600 ha, chủ yếu chuyển đổi từ đất cây lâu năm và cây hàng năm. Trong khi đó, mặt nước biến động nhẹ, còn đất trống giảm mạnh qua các năm. Các bản đồ lớp phủ theo từng giai đoạn, bản đồ biến động không gian và ma trận chuyển đổi sử dụng đất được xây dựng và biên tập trên phần mềm GIS đã cung cấp cái nhìn trực quan về quá trình chuyển đổi sử dụng đất. Kết quả cho thấy xu hướng chuyển đổi rõ rệt từ đất nông nghiệp sang đất xây dựng, phản ánh tốc độ đô thị hóa mạnh mẽ của thành phố Tân An trong hơn một thập kỷ qua. Nghiên cứu góp phần cung cấp cơ sở khoa học cho công tác đánh giá và định hướng quy hoạch sử dụng đất tại địa phương.








