Số 22 (2022)
Bài viết
-
ĐÁNH GIÁ SINH TRƯỞNG, PHÁT TRIỂN VÀ NĂNG SUẤT CỦA MỘT SỐ GIỐNG LÚA CHẤT LƯỢNG ĐƯỢC SẢN XUẤT THEO HƯỚNG NÔNG NGHIỆP THÔNG MINH VỚI KHÍ HẬU (CSA) TẠI TỈNH QUẢNG TRỊ
Abstract : 1 PDF: 1Nghiên cứu được tiến hành nhằm đánh giá khả năng sinh trưởng, phát triển và năng suất các giống lúa chất lượng (ST24, ST25, ADI28, HANA7, ĐH12, BT7) được sản xuất theo quy trình thực hành nông nghiệp thông minh với khí hậu (CSA), thực hiện trong 2 vụ đông xuân (ĐX) 2021–2022 và hè thu (HT) 2022 tại huyện Triệu Phong, tỉnh Quảng Trị. Thí nghiệm được bố trí theo phương pháp khối hoàn toàn ngẫu nhiên, mỗi giống là một công thức, có 3 lần lặp lại. Quy trình CSA có một số điểm mới như sử dụng chế phẩm Trychoderma để xử lý rơm rạ, bón phân đơn thay cho NPK và đạm urê trắng, tưới ướt, khô xen kẽ… Kết quả nghiên cứu cho thấy thời gian sinh trưởng của các giống lúa thí nghiệm trong vụ ĐX dài hơn vụ HT, lần lượt là 120 đến 125 ngày và 94 đến 97 ngày. Trong vụ ĐX, các giống có năng suất lý thuyết dao động từ 73,6 tạ/ha đến 94,4 tạ/ha, năng suất thực thu từ 58,8 tạ/ha đến 75,5 tạ/ha. Trong vụ HT, các giống có năng suất lý thuyết dao động từ 79,5 tạ/ha đến 94,7 tạ/ha, năng suất thực thu từ 63,3 tạ/ha đến 73,3 tạ/ha. Các giống đều có năng suất cao hơn giống BT7 (đối chứng). Các giống lúa thí nghiệm có tỷ lệ gạo xát trắng từ 61,7% đến 70,9%, hàm lượng amylose dao động trong khoảng 20,9% đến 24,2% (thuộc nhóm trung bình), hàm lượng protein tổng số từ 6,3 đến 9,4%. Như vậy, các giống lúa thí nghiệm thực hành theo CSA trong 2 vụ nghiên cứu đều có sinh trưởng, phát triển, năng suất và chất lượng gạo tốt. Trong đó, có 2 giống nổi trội hơn là ST24 và ST25.
-
NGHIÊN CỨU GIÁ THỂ, DINH DƯỠNG ĐẾN SINH TRƯỞNG, NĂNG SUẤT VÀ CHẤT LƯỢNG CẢI CẦU VỒNG (Beta vulgaris L.var cicla)
Abstract : 1 PDF: 1Nghiên cứu được thực hiện từ tháng 01 đến tháng 5 năm 2022, tại huyện Châu Thành, tỉnh Kiên Giang. Hai thí nghiệm được bố trí hoàn toàn ngẫu nhiên 1 nhân tố với 3 lần lặp lại nhằm xác định loại giá thể và dinh dưỡng thích hợp trên cải cầu vồng cho sinh trưởng và năng suất cao. Thí nghiệm 1 khảo sát ảnh hưởng của các loại giá thể đến sinh trưởng và năng suất cải cầu vồng (Beta vulgaris L. var cicla). Các nghiệm thức gồm: (1) 100% xơ dừa (đối chứng); (2) 75% xơ dừa + 25% tro trấu; (3) 50% xơ dừa + 50% tro trấu; (4) 25% xơ dừa + 75% tro trấu; (5) 75% xơ dừa + 25% đất sạch; (6) 50% xơ dừa + 50% đất sạch (7) 25% xơ dừa + 75% đất sạch. Kết quả cho thấy, giá thể 25% xơ dừa + 75% đất sạch cho năng suất cao (0,322 kg/m2) và các chỉ tiêu sinh trưởng tốt nhất. Thí nghiệm 2 ảnh hưởng của các loại dinh dưỡng bổ sung đến sinh trưởng, năng suất và một số chỉ tiêu chất lượng cải cầu vồng tại huyện Châu Thành, tỉnh Kiên Giang. Các nghiệm thức gồm: (1) không bổ sung dinh dưỡng (đối chứng); (2) dịch trùn quế; (3) dịch trích phân cá; (4) dịch phân dơi; (5) dịch trùn quế + dịch trích phân cá (6) dịch trùn quế + dịch phân dơi. Kết quả bổ sung dinh dưỡng là phân cá cho năng suất cao (0,405 kg/m2) và các chỉ tiêu sinh trưởng tốt nhất.
-
DỰ BÁO MỨC ĐỘ XÓI MÒN ĐẤT NÔNG NGHIỆP THEO KỊCH BẢN BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU RCP4.5 (GIAI ĐOẠN 2020 - 2035) TẠI TỈNH ĐẮK LẮK
Abstract : 0 PDF: 1Tỉnh Đắk Lắk có tổng diện tích 1.307.041 nghìn km2, gồm 15 đơn vị hành chính cấp huyện, trải dài từ 107028’57” đến 108059’37” độ kinh Đông và từ 1209’45” đến 13025’06” độ vĩ Bắc. Là địa phương có tiềm năng rất lớn để phát triển sản xuất nông nghiệp. Trong những năm gần đây, tỉnh Đắk Lắk là một trong những địa phương chịu nhiều ảnh hưởng của biến đổi khí hậu, trong đó có hiện tượng xói mòn do mưa. Từ kịch bản biến đổi khí hậu RCP4.5 đầu thế kỷ (2020 - 2035), bằng phương pháp GIS dựa trên công thức của phương trình mất đất phổ dụng biến đổi RUSLE, gồm có 5 bản đồ hệ số: bản đồ dự báo hệ số che phủ đất (C); bản đồ dự báo hệ số xói mòn do mưa (R); bản đồ dự báo hệ số xói mòn đất (K); bản đồ dự báo hệ số xói mòn địa hình (LS) và bản đồ dự báo hệ số do biện pháp canh tác (P). Từ đó dự báo mức độ và vị trí của các khu vực xói mòn đất theo 3 mức: xói mòn yếu; xói mòn trung bình và xói mòn mạnh đến năm 2035. Cụ thể mức độ xói mòn nhẹ là 150.435 ha; mức độ xói mòn trung bình là 32.844 ha; mức độ xói mòn nặng là 3.885 ha.
-
YẾU TỐ HẠN CHẾ VỀ TÍNH CHẤT HÓA HỌC CỦA ĐẤT XÁM BẠC MÀU ĐỐI VỚI CÂY HỒ TIÊU TỈNH BÌNH PHƯỚC
Abstract : 3 PDF: 1Nghiên cứu này được thực hiện nhằm xác định các yếu tố dinh dưỡng hạn chế của đất xám bạc màu đối với sự sinh trưởng và phát triển của cây hồ tiêu trên địa bàn tỉnh Bình Phước. Tổng số 60 mẫu đất thuộc đất xám bạc màu vùng trồng hồ tiêu đã được thu thập và phân tích các tính chất hóa học đất. Kết quả đánh giá thực trạng dinh dưỡng trong đất xám bạc màu trồng hồ tiêu cho thấy đất có phản ứng chua, hàm lượng chất hữu cơ trong đất trồng hồ tiêu ở mức trung bình tới nghèo, dung tích hấp thu trong đất trồng hồ tiêu ở mức thấp. Đạm tổng số phần lớn thuộc mức trung bình và nghèo, lân và kali tổng số và dễ tiêu thuộc mức nghèo. Canxi trao đổi và magie trao đổi cũng phần lớn nằm ở mức nghèo. Kết quả đánh giá thiếu, thừa một số dinh dưỡng trong đất với cây hồ tiêu cho thấy pHKCl thấp hơn so với yêu cầu, đất thiếu hụt chất hữu cơ, lân dễ tiêu, kali dễ tiêu so với nhu cầu sinh trưởng, phát triển của cây. Với đất xám bạc màu trồng hồ tiêu, chất hữu cơ, magie trao đổi, dung tích hấp thu, boron và kali tổng số là các yếu tố ảnh hưởng đến năng suất hồ tiêu. Yếu tố hạn chế chính về dinh dưỡng trong đất xám bạc màu đối với cây hồ tiêu trên địa bàn tỉnh Bình Phước là độ chua pHKCl, hàm lượng chất hữu cơ, lân và kali dễ tiêu. Ngoài ra canxi và magie trao đổi cũng là yếu tố hạn chế trung lượng, trong khi boron và molipden là các yếu tố dinh dưỡng vi lượng hạn chế đối với hồ tiêu. Các yếu tố hạn chế trên cần được quan tâm trong quá trình canh tác và bón phân cho cây hồ tiêu tại tỉnh Bình Phước.
-
NGHIÊN CỨU QUY TRÌNH CHIẾT TÁCH CAO CHIẾT LÁ NGŨ SẮC (Lantana camara L.) VÀ ĐÁNH GIÁ HIỆU LỰC PHÒNG TRỪ SÂU CUỐN LÁ LÚA (Cnaphalocrosis medinalis)
Abstract : 1 PDF: 1Các sản phẩm thuốc bảo vệ thực vật có nguồn gốc sinh học là một trong những định hướng phát triển quan trọng của nền nông nghiệp hiện đại, góp phần giảm thiểu sự mất kiểm soát của các loại sâu hại kháng thuốc, thân thiện với môi trường và an toàn cho người sử dụng. Nghiên cứu này tiến hành khảo sát quy trình chiết tách cao chiết từ lá Ngũ sắc (Lantana camara L.) và đánh giá hiệu lực tiêu diệt sâu cuốn lá lúa (Cnaphalocrosis medinalis) trên đồng ruộng của chế phẩm sinh học dạng nhũ tương đậm đặc (EC) được phối chế. Kết quả cho thấy, quy trình chiết tách cao chiết lá Ngũ sắc bằng phương pháp ngâm trích được tối ưu với methanol sau 2 lần chiết, tỷ lệ bột nguyên liệu/thể tích dung môi ở mức 1: 5 (g/mL) trong 24 giờ. Sự hiện diện của các nhóm hợp chất flavonoid, alkaloid, saponin triterpene và coumarin trong cao chiết được xác định bằng phương pháp định tính. Đáng chú ý, hiệu lực tiêu diệt sâu cuốn lá lúa tốt nhất được ghi nhận ở chế phẩm EC từ cao chiết methanol so với các chế phẩm khác với hiệu quả kéo dài hơn 75% sau 7 ngày phun ở cả hai địa điểm khảo sát.
-
ẢNH HƯỞNG CỦA MỘT SỐ LOẠI VẬT LIỆU BAO BÌ ĐẾN KHẢ NĂNG BẢO QUẢN QUẢ XOÀI GIỐNG GL4 TRỒNG TẠI TỈNH SƠN LA
Abstract : 1 PDF: 1Mục tiêu của nghiên cứu nhằm đánh giá ảnh hưởng của một số loại vật liệu bao bì đến khả năng bảo quản cho quả xoài GL4, từ đó lựa chọn được loại bao bì thích hợp nhất. Quả xoài giống GL4 được thu hái tại thời điểm 100 - 105 ngày tính từ khi đậu quả được phân loại làm sạch và xử lý bằng nước nóng ở nhiệt độ 51±1oC trong thời gian 5 phút rồi được đóng trong các loại bao bì: màng Wax, túi LDPE, Green MAP, túi giấy và không bao gói. Các mẫu được đưa vào bảo quản ở nhiệt độ 12±1oC, tiến hành theo dõi sự biến đổi chất lượng trong thời gian bảo quản của quả xoài ở các mẫu thí nghiệm. Kết quả cho thấy, bao bì Green MAP có khả năng ổn định chất lượng của quả xoài GL4 tốt nhất so với các loại bao bì khảo sát. Khi sử dụng loại bao bì này, có thể kéo dài thời gian bảo quản đối với quả xoài GL4 tới 30 ngày ở điều kiện nhiệt độ 12±1oC với chất lượng (bao gồm các chỉ tiêu dinh dưỡng và cảm quan) ổn định, tỉ lệ hao hụt khối lượng tự nhiên 4,87%, tỉ lệ thối hỏng 7,51%.
-
NGHIÊN CỨU ẢNH HƯỞNG CỦA CÔNG ĐOẠN TIỀN XỬ LÝ VÀ SẤY ĐẾN HOẠT ĐỘ CỦA HỆ ENZYME PEROXIDASE VÀ MÀU SẮC CỦA BỘT SA KÊ (Artocarpus altilis)
Abstract : 1 PDF: 1Mục đích của nghiên cứu nhằm xác định các thông số kỹ thuật trong công đoạn xử lý và sấy của quá trình chế biến bột sa kê (sake). Ảnh hưởng của phụ gia và nồng độ xử lý, điều kiện chần và sấy đến hoạt động của enzyme peroxidase (POD), màu sắc và thành phần dinh dưỡng của sản phẩm bột sake đã được khảo sát. Ba loại phụ gia gồm sodium chloride (NaCl), sodium metabisulfite (Na2S2O5), axit ascorbic (vitamin C) ở các nồng độ 0,05%, 0,25%, 0,45% và 0,65% được sử dụng để xử lý nguyên liệu (60 phút) trước khi chần ở các nhiệt độ 60°C, 70°C , 80°C và 90°C với thời gian 60 giây, 120 giây, 180 giây và 240 giây; sau đó được sấy ở 50°C, 60°C, 70°C, 80°C trong 60 phút, 120 phút, 180 phút và 240 phút trước khi nghiền thành bột. Kết quả cho thấy nguyên liệu xử lý bằng Na2S2O5 0,45% kết hợp chần ở 80°C (2 phút) trước khi sấy ở 70°C (3 giờ) có hoạt động của enzyme POD giảm đáng kể, bột có độ trắng sáng L* và độ vàng b* ổn định. Xử lý phụ gia và chần là hai quá trình chính ức chế hoạt động của enzyme gây hóa nâu trong thịt quả sake nhưng cũng gây thất thoát nguồn dinh dưỡng (hàm lượng vitamin C còn lại 0,004 - 0,018% chất khô); quá trình sấy ảnh hưởng mạnh đến độ ẩm và màu của nguyên liệu bột sake (độ ẩm sau sấy còn 62,91 - 9,17% chất khô).
-
KHẢO SÁT MỘT SỐ YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN CHẤT LƯỢNG TRÀ TÚI LỌC HOA THANH LONG (Hylocereus costaricensis)
Abstract : 2 PDF: 1Mục tiêu của nghiên cứu là thiết lập quy trình công nghệ chế biến trà túi lọc từ hoa thanh long (Hylocereus costaricensis). Nội dung nghiên cứu gồm: (i) Khảo sát ảnh hưởng của điều kiện chần, (ii) Khảo sát ảnh hưởng của chế độ sấy, (iii) Khảo sát tỷ lệ phối trộn hoa thanh long với hoa cúc và trà xanh. Kết quả nghiên cứu cho thấy, hoa thanh long chần trong nước sôi 100oC với thời gian 60 giây giúp duy trì được màu xanh, đồng thời sản phẩm có giá trị polyphenol tổng số, hoạt tính kháng oxy hóa tính tương đương trolox cao. Sấy ở nhiệt độ 65oC trong thời gian 240 рhút thì có hàm lượng рolyрhenol tổng số là 81,45 mg GAE/g chất khô với độ ẩm cuối là 9%. Tỷ lệ рhối trộn 70% hoa thanh long 25% hoa cúc 5% trà xanh cho sản рhẩm có giá trị cảm quan cao về màu sắc, mùi và vị; giá trị рH đạt 5,57; độ hấp thu 0,180; hàm lượng рolyрhenol tổng số 388,41 mg GAE/g chất khô, hoạt tính chống oxy hóa 829,38 µM TEAC/g chất khô.
-
PHÂN TÍCH CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN HÀNH VI TRONG QUẢN LÝ CHẤT THẢI RẮN SINH HOẠT HỘ GIA ĐÌNH HƯỚNG TỚI NỀN KINH TẾ TUẦN HOÀN TẠI THÀNH PHỐ BẮC GIANG
Abstract : 2 PDF: 1Đây là nghiên cứu về mối liên hệ giữa kiến thức, thái độ, hành vi của người dân trong quản lý chất thải rắn sinh hoạt hộ gia đình hướng tới nền kinh tế tuần hoàn trong đó chú trọng đến mô hình 3R bao gồm giảm thiểu, phân loại, tái chế và tái sử dụng thải rắn sinh hoạt. Trong nghiên cứu này, số liệu sơ cấp được thu thập bằng bảng hỏi, thông qua phỏng vấn ngẫu nhiên trực tiếp 250 người dân sống trên địa bàn thành phố Bắc Giang vào năm 2022. Phương pháp phân tích EFA và cấu trúc tuyến tính SEM được dùng để đánh giá độ tin cậy của thang đo và kiểm định mô hình lý thuyết xác định mối quan hệ và mức độ ảnh hưởng giữa kiến thức, thái độ, tiêu chuẩn chủ quan, nhận thức kiểm soát hành vi đến ý định hành vi và từ ý định hành vi đến hành vi quản lý thải rắn sinh hoạt hộ gia đình hướng tới mô hình kinh tế tuần hoàn. Kết quả cho thấy, người dân thái độ tích cực với quản lý thải rắn sinh hoạt hướng tới kinh tế tuần hoàn. Tuy nhiên, kiến thức không đầy đủ và hành vi quản lý thải rắn sinh hoạt theo hướng kinh tế tuần hoàn chưa thực sự rõ ràng. Kết quả phân tích cho thấy, các nhân tố giả thuyết đưa ra đều tác động và có nghĩa thống kê đến ý định thực hiện hành vi và ý định thực hiện hành vi tác động tích cực đến hành vi. Trong đó kiểm soát hành vi và yếu tố thái độ là yếu tố quan trọng nhất, tiếp theo là thái độ và kiến thức, cuối cùng là tiêu chuẩn chủ quan. Để tăng cường công tác quản lý chất thải rắn sinh hoạt hộ gia đình hướng đến nền kinh tế tuần hoàn tại thành phố Bắc Giang, việc thực hiện phối hợp các công cụ trong đó truyền thông nâng cao nhận thức, hoàn thiện hệ thống quản lý chất thải rắn sinh hoạt đồng bộ trong đó chú trọng cải thiện hệ thống thu gom, phát triển công nghệ tái chế trong xử lý đóng vai trò hết sức quan trọng.
-
NGHIÊN CỨU KHẢ NĂNG XỬ LÝ NƯỚC THẢI SINH HOẠT ĐÔ THỊ CỦA CÂY CHUỐI HOA (Canna generalis) VÀ BÁCH THỦY TIÊN (Echinodorus cordifolius)
Abstract : 1 PDF: 1Các kênh trong nội ô đô thị đang bị ô nhiễm do nước thải sinh hoạt không được xử lý mà xả trực tiếp vào các kênh. Do đó, nước thải sinh hoạt cần phải xử lý để làm giảm hàm lượng các chất ô nhiễm đến mức cho phép trước khi thải ra môi trường. Giải pháp sử dụng thực vật là một lựa chọn phù hợp do thân thiện với môi trường, rẻ tiền, dễ thiết kế và vận hành. Hai loài cây Bách thủy tiên và Chuối hoa được trồng trên bè nổi thiết kế bằng các chai nhựa xử lý nước kênh đô thị. Các thông số môi trường nước được đánh giá mỗi ngày trong thời gian lưu nước mỗi mẻ là 7 ngày. Các giá trị của pH, độ kiềm, EC, TDS đều nằm trong giới hạn cho phép. Hàm lượng oxy hòa tan được cải thiện sau 7 ngày. Hàm lượng N-NH4+ và P-PO43- trong nước sau xử lý giảm theo thời gian và giảm đáng kể sau 7 ngày xử lý, đạt QCVN 08: 2015/BTNMT cột B1, trong khi N-NO2- và N-NO3- đạt cột A1. Hiệu suất xử lý tổng đạm hòa tan (TIN), tổng lân và COD đạt cao nhất ở nghiệm thức trồng Chuối hoa (lần lượt là: 78,6-97,5%; 85,4-91,3% và 50,0-57,1%), tiếp theo là Bách thủy tiên (lần lượt là: 79,6-86,4%; 73,5-86,5% và 25,5-50,8%) và thấp nhất là nghiệm thức không cây (66,4-76,7%; 59,8-82,0% và 25,0-39,6%). Hai loài cây sinh trưởng và phát triển rất tốt trong nước có hàm lượng chất ô nhiễm cao thể hiện qua tăng chiều cao cây, chiều dài rễ và sinh khối cây. Kết quả cho thấy hai loài cây trồng trên bè nổi có tính khả thi trong giảm hàm lượng các chất ô nhiễm trong nước thải vừa tạo cảnh quan đẹp cho khu đô thị do chúng có hoa nhiều màu sắc. Ngoài ra, việc tái sử dụng chai nhựa làm bè nổi là giải pháp giảm phát thải nhựa ra môi trường hướng đến đô thị xanh và bền vững.
-
ĐẶC ĐIỂM HÌNH THÁI, VẬT HẬU VÀ TÁI SINH CỦA LOÀI RÀNG RÀNG MÍT (Ormosia balansae Drake) TẠI VÙNG TÂY BẮC
Abstract : 1 PDF: 2Nghiên cứu về đặc điểm hình thái, vật hậu và tái sinh của loài Ràng ràng mít (Ormosia balansae Drake) được thực hiện tại hai tỉnh Sơn La và Điện Biên thuộc vùng Tây Bắc. Đặc điểm hình thái và vật hậu được theo dõi dựa vào các cây điển hình. Đặc điểm tái sinh được xác định dựa vào 12 ô tiêu chuẩn phân bố trên các trạng thái của kiểu rừng lá rộng thường xanh trên địa bàn 2 tỉnh. Kết quả cho thấy: Ràng ràng mít là cây gỗ lớn, thường xanh, sinh trưởng nhanh, khả năng tái sinh tốt, phân bố rộng. Ràng ràng mít bắt đầu ra chồi, lá non vào tháng 12 năm trước đến giữa tháng 2 năm sau; ra lá non vào trung tuần tháng 2 đến giữa tháng 3; ra nụ và nở hoa vào tháng 4 đến tháng 7 hàng năm; thời kỳ hình thành quả kéo dài từ tháng 8 đến tháng 9; quả chín trong khoảng thời gian từ tháng 10 đến tháng 12. Số lượng loài cây gỗ tái sinh tại các lâm phần có loài Ràng ràng mít phân bố ở khu vực nghiên cứu tương đối ít, dao động từ 3 - 6 loài. Số lượng cây Ràng ràng mít tham gia vào tổ thành cây tái sinh chiếm đa số, hệ số tổ thành biến động từ 1,67 – 7,00. Mật độ cây tái sinh Ràng ràng mít tập trung nhiều nhất tại cấp chiều cao < 0,2 m (từ 633 – 2.033 cây/ha) và thấp nhất tại các cấp chiều cao 1,1 - 1,5 m và >1,6 m. Khoảng cách giữa các cây tái sinh trong các trạng thái rừng ở 2 tỉnh chênh lệch nhau không nhiều, dao động từ 0,18 - 0,43 m cho thấy cự ly phân bố giữa các cây tái sinh là tương đối gần. Tỷ lệ cây tái sinh Ràng ràng mít cao và phân bố tại các cấp chiều cao cho thấy triển vọng phục hồi rừng bằng loài cây này, đặc biệt đối với các khu vực phục hồi sau nương rẫy hoặc phục hồi sau khai thác kiệt.
-
NGHIÊN CỨU ĐA DẠNG THÀNH PHẦN LOÀI, PHÂN BỐ VÀ BẢO TỒN KHU HỆ CHIM TẠI KHU BẢO TỒN LOÀI - SINH CẢNH PHÚ MỸ, HUYỆN GIANG THÀNH, TỈNH KIÊN GIANG
Abstract : 1 PDF: 1Nghiên cứu được thực hiện nhằm điều tra, đánh giá thành phần loài, phân bố và bảo tồn khu hệ chim tại Khu Bảo tồn Loài – Sinh cảnh Phú Mỹ (KBT Phú Mỹ) thuộc huyện Giang Thành, tỉnh Kiên Giang. Thời gian khảo sát thực địa từ tháng 4 đến tháng 5 năm 2022 tại 4 sinh cảnh đặc trưng, bao gồm sinh cảnh Năng, Cỏ bàng, Tràm và Bãi bùn, ven kênh. Tổng số 58 loài chim thuộc 34 họ, 11 bộ đã được xác định tại KBT Phú Mỹ. Trong đó, 2 loài có tên trong Sách Đỏ Việt Nam (2007), 3 loài có tên trong Danh lục Đỏ IUCN (2021) và Công ước CITES, 4 loài có tên trong Nghị định số 06/2019/NĐ-CP ở các mức độ nguy cấp khác nhau. Kết quả đã bổ sung 8 loài chim ghi nhận mới và 1 loài chim quý hiếm cho KBT Phú Mỹ so với trước đây. Bộ Sẻ (Passeriformes) được xác định có số loài nhiều nhất, với 22 loài (chiếm 37,93%). Xét về bậc họ, họ Diệc (Ardeidae) có số loài chiếm ưu thế (8 loài, chiếm 13,79%). Tại 4 sinh cảnh, các loài chim phân bố tương đối đồng đều lần lượt với 45 loài, 44 loài, 36 loài và 35 loài. Số lượng Sếu đầu đỏ (Grus antigone) di cư về KBT Phú Mỹ có xu hướng ngày càng giảm (16 cá thể vào năm 2022). Các tác nhân gây suy giảm đa dạng sinh học tại KBT Phú Mỹ bao gồm các hoạt động săn bắt, chăn thả gia súc và khai thác tài nguyên của người dân. Do đó, chính quyền địa phương, Ban Quản lý KBT Phú Mỹ cần đưa ra các biện pháp thiết thực để hạn chế các tác nhân gây suy giảm. Các nghiên cứu kiểm kê, đánh giá khu hệ chim hàng năm tại KBT Phú Mỹ là rất cần thiết.
-
ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ THỰC HIỆN VÀ ẢNH HƯỞNG CỦA CHÍNH SÁCH CHI TRẢ DỊCH VỤ MÔI TRƯỜNG RỪNG ĐẾN SINH KẾ CỦA NGƯỜI DÂN ĐỊA PHƯƠNG: NGHIÊN CỨU TRƯỜNG HỢP CỦA BAN QUẢN LÝ RỪNG PHÒNG HỘ ĐĂK HÀ, TỈNH KON TUM
Abstract : 1 PDF: 1Chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng (DVMTR) ở Ban quản lý rừng phòng hộ (BQLRPH) Đăk Hà, tỉnh Kon Tum được thực hiện từ năm 2011. Trong giai đoạn 2016 - 2020, BQLRPH Đăk Hà đã tiến hành khoán QLBVR theo hình thức khoán ổn định (5 năm) cho 21 cộng đồng với tổng số diện tích là 12.099,99 ha và tổng số tiền 23.649.670.000 đồng. Thông qua thảo luận nhóm, điều tra hộ gia đình và phỏng vấn chuyên sâu, kết quả nghiên cứu đã cho thấy: chính sách chi trả DVMTR đã có những tác động tích cực đến các nguồn vốn sinh kế, đặc biệt là nguồn vốn tự nhiên và nguồn vốn con người. Mặc dù đối với các nguồn vốn khác (xã hội, vật chất và tài chính) thì vẫn chưa đạt được như mong đợi nhưng cũng khẳng định được sự thành công nhất định của chính sách này. Điều này chứng tỏ rằng mục tiêu chính của chính sách đã đạt được sau hơn 10 năm thực hiện, đó là cải thiện nguồn tài nguyên rừng (nguồn vốn tự nhiên) và nâng cao giá trị dịch vụ hệ sinh thái thông qua cơ chế tài chính, góp phần nâng cao năng lực và cải thiện sinh kế của cộng đồng/người dân (nguồn vốn con người).
-
NGHIÊN CỨU ẢNH HƯỞNG CỦA VIỆC THU HỒI ĐẤT NÔNG NGHIỆP TỚI ĐỜI SỐNG, VIỆC LÀM VÀ THU NHẬP CỦA NGƯỜI NÔNG DÂN TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN VIỆT YÊN, TỈNH BẮC GIANG
Abstract : 3 PDF: 2Nghiên cứu nhằm mục đích đánh giá ảnh hưởng của việc thu hồi đất nông nghiệp đến đời sống, việc làm và thu nhập của người nông dân trên địa bàn huyện Việt Yên, tỉnh Bắc Giang. Kết quả nghiên cứu cho thấy, thu nhập bình quân đầu người/năm của người dân sau khi thu hồi đất tăng lên rõ rệt ở cả 2 dự án, tăng lên 2,64 triệu đồng/năm đối với dự án 1 và tăng lên 8,4 triệu đồng/năm đối với dự án 2. Số lao động nông nghiệp giảm rõ rệt tại 2 dự án, trước khi thu hồi đất là 109 người, sau khi thu hồi đất còn lại là 51 (giảm 58 người) do chuyển đổi sang các ngành nghề khác. Ngoài ra, việc thực hiện dự án có ảnh hưởng tốt tới quá trình tiếp cận cơ sở hạ tầng, phúc lợi xã hội của người dân trên địa bàn huyện. Tuy nhiên, việc thu hồi đất nông nghiệp đã trực tiếp hoặc gián tiếp gây ra những ảnh hưởng tiêu cực như: gia tăng tỷ lệ không có việc làm, thu nhập thiếu ổn định, nguy cơ mâu thuẫn trong quan hệ nội bộ gia đình, mất trật tự an ninh xã hội và ô nhiễm môi trường.
-
ỨNG DỤNG PHƯƠNG PHÁP AHP (ANALYTIC HIERARCHY PROCESS) ĐỂ ĐÁNH GIÁ TÍNH BỀN VỮNG TRONG HOẠT ĐỘNG DU LỊCH SINH THÁI DỰA VÀO CỘNG ĐỒNG: NGHIÊN CỨU SO SÁNH GIỮA HAI KHU VỰC SINH THÁI TẠI TỈNH THỪA THIÊN - HUẾ
Abstract : 2 PDF: 2Du lịch được xem là ngành kinh tế mang lại thu nhập lớn cho các nước đang phát triển. Du lịch sinh thái dựa vào cộng đồng (DLSTCĐ) ngày càng đóng vai trò quan trọng trong việc hướng đến phát triển du lịch bền vững. Nghiên cứu này được thực hiện dựa trên việc áp dụng phương pháp phân tích thứ bậc AHP (Analytic Hierarchy Process) để đánh giá tính bền vững của các điểm DLSTCĐ tại tỉnh Thừa Thiên - Huế. Tham vấn 21 chuyên gia và khảo sát bằng bảng hỏi bán cấu trúc với 42 hộ đã được thực hiện tại 4 điểm DLSTCĐ đại diện cho hai khu vực sinh thái miền núi và đầm phá - ven biển tại Thừa Thiên - Huế. Kết quả nghiên cứu cho thấy để đánh giá tính bền vững của một điểm DLSTCĐ cần dựa vào 5 nhóm yếu tố chính với trọng số tương ứng gồm: Bảo tồn môi trường (0,28), lợi ích kinh tế (0,22), sự tham gia của cộng đồng (0,20), bảo tồn văn hoá (0,17) và trao quyền cho nhóm dễ bị tổn thương (0,13). Kết quả đã đánh giá được hiện trạng DLSTCĐ ở vùng đầm phá - ven biển ở mức bền vững cao, các điểm DLSTCĐ ở vùng miền núi bền vững ở mức trung bình. Kết quả nghiên cứu cho thấy, đối với các dự án DLSTCĐ mới cần được đánh giá tính bền vững một cách toàn diện theo 5 tiêu chí trên, trong khi với các điểm DLSTCĐ đang trong quá trình hoạt động cần trọng tâm nhiều hơn vào bảo tồn môi trường, lợi ích kinh tế và huy động sự tham gia của cộng đồng.








