ĐÁNH GIÁ SINH TRƯỞNG, PHÁT TRIỂN VÀ NĂNG SUẤT CỦA MỘT SỐ GIỐNG LÚA CHẤT LƯỢNG ĐƯỢC SẢN XUẤT THEO HƯỚNG NÔNG NGHIỆP THÔNG MINH VỚI KHÍ HẬU (CSA) TẠI TỈNH QUẢNG TRỊ
DOI:
https://doi.org/10.71254/6a02c321Abstract
The study was conducted to evaluate the growth, development and yield of quality rice varieties (ST24, ST25, ADI28, HANA7, ĐH12, BT7) which produced according to climate-smart agricultural practices (CSA). The experiment carried out in two seasons, there were winter-spring 2021-2022 and summer-autumn 2022 in Trieu Phong district, Quang Tri province. The experiment was designed in a randomized completely block with three replicates for each variety. The CSA process has some new techniques such as using Trychoderma bio-product to treat rice straw, applying single fertilizer instead of NPK and white urea, alternate wet and dry irrigation… The research showed that the growing time of rice varieties in the winter-spring season was longer than in the summer-autumn season, 120 days to 125 days and 94 to 97 days, respectively. In the winter spring seasons, the theoretical yield of these varieties varied from 73.6 quintals/ha to 94.4 quintals/ha, their actual yield varied from 58.8 quintals/ha to 75.5 quintals/ha. In the summer-autumn season, the rice varieties had theoretical yields ranging from 79.5 quintals/ha to 94.7 quintals/ha, their actual yield ranged from 63.3 quintals/ha to 73.3 quintals/ha. All rice varieties in this experiment had higher yield than HC 95 (control). The rice varieties had milled rice rate from 61.7% to 70.9%, amylose content ranged from 20.9% to 24.2% (medium group), and total protein content varied from 6.3 to 9.4%. Thus, the experimental rice varieties were practiced according to the climate-smart agricultural process in the two seasons which had good growth, development and rice quality. In which, there are two promising varieties, ST24 and ST25. We suggest that it is necessary to expand this model in other areas in Quang Tri province and neighboring provinces to aim at sustainable agriculture in the current climate change context.
Keywords:
Quality, CSA, variety, rice.Tóm tắt
Nghiên cứu được tiến hành nhằm đánh giá khả năng sinh trưởng, phát triển và năng suất các giống lúa chất lượng (ST24, ST25, ADI28, HANA7, ĐH12, BT7) được sản xuất theo quy trình thực hành nông nghiệp thông minh với khí hậu (CSA), thực hiện trong 2 vụ đông xuân (ĐX) 2021–2022 và hè thu (HT) 2022 tại huyện Triệu Phong, tỉnh Quảng Trị. Thí nghiệm được bố trí theo phương pháp khối hoàn toàn ngẫu nhiên, mỗi giống là một công thức, có 3 lần lặp lại. Quy trình CSA có một số điểm mới như sử dụng chế phẩm Trychoderma để xử lý rơm rạ, bón phân đơn thay cho NPK và đạm urê trắng, tưới ướt, khô xen kẽ… Kết quả nghiên cứu cho thấy thời gian sinh trưởng của các giống lúa thí nghiệm trong vụ ĐX dài hơn vụ HT, lần lượt là 120 đến 125 ngày và 94 đến 97 ngày. Trong vụ ĐX, các giống có năng suất lý thuyết dao động từ 73,6 tạ/ha đến 94,4 tạ/ha, năng suất thực thu từ 58,8 tạ/ha đến 75,5 tạ/ha. Trong vụ HT, các giống có năng suất lý thuyết dao động từ 79,5 tạ/ha đến 94,7 tạ/ha, năng suất thực thu từ 63,3 tạ/ha đến 73,3 tạ/ha. Các giống đều có năng suất cao hơn giống BT7 (đối chứng). Các giống lúa thí nghiệm có tỷ lệ gạo xát trắng từ 61,7% đến 70,9%, hàm lượng amylose dao động trong khoảng 20,9% đến 24,2% (thuộc nhóm trung bình), hàm lượng protein tổng số từ 6,3 đến 9,4%. Như vậy, các giống lúa thí nghiệm thực hành theo CSA trong 2 vụ nghiên cứu đều có sinh trưởng, phát triển, năng suất và chất lượng gạo tốt. Trong đó, có 2 giống nổi trội hơn là ST24 và ST25.








