Số 24 (2022)

					Xem Số 24 (2022)
Đã Xuất bản: 30-12-2022

Bài viết

  • ĐÁNH GIÁ KHẢ NĂNG THÍCH ỨNG CỦA GIỐNG LÚA SHPT3 TẠI KHU VỰC TÂY NGUYÊN

    Abstract : 1 PDF: 1
    Lê Hùng Lĩnh, Nguyễn Phương Anh, Nguyễn Thị Minh Nguyệt, Khuất Thị Mai Lương, Chu Đức Hà, Đặng Trọng Lương
    3-9

    Giống lúa thuần SHPT3 do Viện Di truyền Nông nghiệp chọn tạo từ tổ hợp lai giữa giống Khang Dân 18 lai với giống PSB-Rc68 mang gen chịu ngập Sub1 được nhập nội từ Viện Nghiên cứu lúa Quốc tế. Giống đã được công nhận chính thức cho các tỉnh phía Bắc từ năm 2019. Mục tiêu của nghiên cứu nhằm báo cáo về kết quả khảo nghiệm của giống lúa SHPT3 tại các tỉnh Tây Nguyên. Do đó, giống lúa này được tiến hành khảo nghiệm diện hẹp và khảo nghiệm diện rộng tại 3 tỉnh Tây Nguyên lần lượt là Đắk Lắk, Đắk Nông và Gia Lai trong 3 vụ liên tiếp. Trong khảo nghiệm diện hẹp, giống lúa SHPT3 thể hiện các đặc điểm nông sinh học tốt, tương đương so với giống lúa đối chứng KD18. Trong điều kiện có sử dụng thuốc bảo vệ thực vật, giống có mức độ nhiễm nhẹ với các loại sâu, bệnh hại chính. Năng suất thực thu của giống lúa SHPT3 đạt từ 82,25 - 92,52 tạ/ha trong vụ đông xuân và 61,24 - 71,77 tạ/ha trong vụ hè thu, cao hơn so với giống lúa KD18 từ 5,0 - 7,9%. Kết quả đánh giá khảo nghiệm diện rộng cho thấy năng suất thực thu của giống lúa SHPT3 tại khu vực Tây Nguyên đạt từ 87,28 - 99,35 tạ/ha (vụ đông xuân) và 58,72 - 64,18 tạ/ha (vụ hè thu). Giống có hàm lượng amyloza cao, đạt từ 29,74 - 30,66%, phù hợp với chế biến bún, bánh ở các địa phương.

    DOI: https://doi.org/10.71254/ck1qta32
  • ẢNH HƯỞNG CỦA CƯỜNG ĐỘ ÁNH SÁNG ĐẾN NỒNG ĐỘ CHLOROPHYLL VÀ POLYPHENOL TRONG LÁ CỦA GIỐNG LÚA IR50404

    Abstract : 1 PDF: 1
    Đặng Chí Thiện, Nguyễn Phú Thọ, Nguyễn Thị Tố Uyên, Nguyễn Thị Tố Uyên, Bùi Nhi Bình, Nguyễn Hoàng Tính, Huỳnh Ngọc Thanh Tâm, Nguyễn Hữu Thanh
    10-19

    Cường độ ánh sáng được cho là có tác động đến sự tích lũy của các hợp chất có hoạt tính sinh học trong lá lúa như polyphenol và chlorophyll qua các giai đoạn sinh trưởng. Kết quả nghiên cứu cho thấy, lá lúa ở giai đoạn 3 tuần tuổi được gieo trồng trong điều kiện ánh sáng S1 (cường độ ánh sáng trung bình 22.686 Lux, tương ứng với độ che phủ khoảng 60% cường độ ánh sáng) có sự tích lũy chlorophyll cao nhất, đạt 1.357,49 µg/g lá lúa tươi. Trong khi đó, lúa được gieo trồng trong điều kiện chiếu sáng tự nhiên Tn (cường độ ánh sáng trung bình 60.791 Lux) cho hàm lượng polyphenol cao nhất (6,88 mg/g lá lúa tươi) ở thời điểm sau gieo 5 tuần tuổi. Song song đó, kết quả phân tích hoạt tính chống oxy hóa thông qua hoạt động bắt gốc tự do DPPH cho thấy giống lúa IR50404 được gieo trồng ở điều kiện ánh sáng S1 có hoạt tính DPPH cao hơn (p<0,05) so với điều kiện ánh sáng S2 (cường độ trung bình 6.072 Lux, tương ứng với độ che phủ 90% cường độ ánh sáng) và điều kiện chiếu sáng Tn. Kết quả nghiên cứu chứng minh rằng cường độ ánh sáng khác nhau có ảnh hưởng đến sự tích lũy các hợp chất có hoạt tính sinh học trong lá lúa như chlorophyll a, b và polyphenol ở giống lúa IR50404 ở các giai đoạn sinh trưởng. Hơn nữa, các hợp chất sinh học thực vật này có thể đóng vai trò quan trọng như các chất chính trong hoạt động chống oxy hoá của lá lúa.

    DOI: https://doi.org/10.71254/714emr55
  • KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU KHẢ NĂNG TÁI SINH CỦA MỘT SỐ GIỐNG ĐẬU TƯƠNG VIỆT NAM PHỤC VỤ CHO CHỈNH SỬA GEN BẰNG CÔNG NGHỆ CRISPR/Cas9

    Abstract : 1 PDF: 0
    Nguyễn Hữu Kiên, Hoàng Thảo Nguyên, Nguyễn Thị Hòa, Tống Thị Hường, Đinh Thị Thu Ngần, Nguyễn Minh Hiếu, Lê Thị Ngọc Quỳnh, Nguyễn Hải Anh, Nguyễn Thành Đức, Nguyễn Văn Đồng, Phạm Xuân Hội
    20-27

    Công nghệ chỉnh sửa gen CRISPR/Cas9 (clustered regularly interspaced short palindromic repeat (CRISPR) -associated protein 9 (Cas9)) đang cho thấy đây là một công cụ tiềm năng, đầy hứa hẹn trong cải tạo các tính trạng mong muốn của cây trồng. Một số nghiên cứu đã áp dụng kỹ thuật CRISPR/Cas9 để chỉnh sửa gen trên các giống đậu tương mô hình, để áp dụng kỹ thuật chỉnh sửa gen trên các giống đậu tương thương mại thì việc xây dựng quy trình tái sinh là vô cùng quan trọng, nhiệm vụ của nghiên cứu này là đánh giá khả năng tái sinh của các giống đậu tương DT2010, ĐT37 và ĐT51 trong điều kiện in vitro. Kết quả cho thấy, sự cảm ứng tạo đa chồi của giống đậu tương ĐT51, ĐT37 và DT2010 tối ưu nhất khi được cấy trong trường có bổ sung lần lượt là 2, 2,5 và 2,5 mg/L Benzylaminopurine sau 14 ngày nuôi cấy. Trong khi đó, khả năng kéo dài chồi của giống ĐT51, ĐT37 và DT2010 thể hiện tốt nhất khi được nuôi cấy trong môi trường có bổ sung lượng nước dừa tương ứng 50, 100 và 200 ml/L sau 21 ngày, thời gian ra rễ thích hợp nhất đối với 3 giống đậu tương này là 14 ngày trên môi trường ra rễ. Như vậy, quy trình tái sinh cho 3 giống đậu tương ĐT37, ĐT51 và DT2010 sẽ là tiền đề cơ sở để áp dụng kỹ thuật chỉnh sửa gen trực tiếp trên các giống đậu tương thương mại này.

    DOI: https://doi.org/10.71254/cjk32194
  • NGHIÊN CỨU ĐẶC ĐIỂM HÌNH THÁI, NĂNG SUẤT VÀ TIÊU CHUẨN CƠ SỞ CỦ GIỐNG ĐỊA HOÀNG ĐH02 TRỒNG TẠI HÀ GIANG

    Abstract : 1 PDF: 0
    Hà Thị Thanh Đoàn, Trần Thị Ngọc Diệp
    28-32

    Giống Địa hoàng ĐH02 có chiều cao trung bình đạt 25 – 31 cm, các đốt thân ngắn, thân hình tròn, trên bề mặt thân có lông mềm. Lá cây Địa hoàng đều có dạng hình trứng ngược, gốc lá thuôn, đầu tròn dài từ 20 – 28 cm, rộng 7 – 9 cm.  Hoa tự chùm, phát sinh từ đỉnh sinh trưởng, mọc ở đầu ngọn, củ có dạng hình trụ thuôn dài, đường kính củ trung bình 3 – 5 cm, vỏ củ và thịt củ có màu vàng nhạt. Số lượng củ trung bình trên cây đạt 7 – 10 củ. Cây sinh trưởng, phát triển tốt phù hợp với điều kiện sinh thái ở tỉnh Hà Giang. Thời gian sinh trưởng từ 170 – 190 ngày, năng suất thực thu đạt trên 23 tấn/ha. Đã xây dựng được tiểu chuẩn cơ sở củ giống Địa hoàng ĐH02:  Đường kính từ 1,5 - 2,0 cm; chiều dài trung bình trên 10 cm; khối lượng trung bình đạt từ 20 – 25 g. Vỏ củ sáng, màu vàng, thịt củ có màu vàng nhạt.

    DOI: https://doi.org/10.71254/t0e1kw07
  • PHÂN TÍCH ĐA DẠNG NGUỒN GEN DƯA LEO (Cucumis sativus L.) BẰNG KỸ THUẬT EST - MICROSATELLITE (eSSR)

    Abstract : 1 PDF: 0
    Nguyễn Trọng Phước, Biện Anh Khoa, Bùi Chí Hiếu, Nguyễn Thị Lang
    33-42

    Đánh giá 12 đặc điểm định lượng, trung bình, phạm vi (tối đa và tối thiểu), độ lệch chuẩn, hệ số biến thể (CV), trung bình chuẩn và giá trị F đã được tính toán thống kê của giống dưa leo (Cucumis sativus L.). Kết quả cho thấy, hầu hết các đặc điểm định lượng về kiểu hình là rất khác nhau. Kiểu gen giống dưa Phụng Tường có sự xuất hiện rất sớm của 50% hoa được trỗ (20,92 sau khi gieo hạt), trong khi đó, giống dưa du nhập từ Indonesia được ghi nhận thời gian ra hoa là dài nhất 41,11 ngày sau khi gieo hạt). Giống dưa Đài Loan có khối lượng trái tối đa là 265 g, số lượng trái tối đa cho mỗi dây cao nhất là giống dưa Bình Phú là (8,70 trái/dây). Chiều dài trái cao nhất là giống dưa Thái Lan (00L) dài 21,2 cm. Chiều rộng biến động từ 10,2 cm - 13,5 cm. Năng suất biến động từ 0,53 kg/dây đến 2,14 kg/dây. Giống cao nhất vẫn là giống dưa Thái Lan (xanh) (2,14 kg/dây). Chỉ thị phân tử đã được sử dụng để nghiên cứu sự khác biệt di truyền với 20 giống dưa leo khác nhau. Trong số 3 cặp mồi SSR và 21 cặp mồi eSSR được sao chép với tổng số 186 băng trong đó có 75 alen là đa hình. Số lượng trung bình các mảnh gen được khuếch đại bằng chỉ thị phân tử eSSR (kích thước 180 bp đến 400 bp). Cặp mồi eSSR được sử dụng trong nghiên cứu, sản phẩm sản xuất PCR cho tỷ lệ biến động từ 90% đến 100%, hệ số PIC biến động từ 0,07 đến 0,47. Kết quả thu được chỉ số đa dạng Shannon I trên các tính trạng (0,88), chỉ số đa dạng di truyền (H­= 0,23) và băng điện di được phân tích bằng phương pháp UPMGA chia thành 4 nhóm chính có mối liên quan di truyền, trong đó đặc biệt chú ý đến chương trình nhân giống hiệu quả với mục tiêu cải tiến giống. Dựa vào số lượng và tần số ghi điểm của các đoạn ADN, tỷ lệ đa hình và các thông số hiệu quả khác sau khi tổng hợp lại thì dường như CSJCT266, EC 47, EC 49 là những chỉ thị phân tử có hiệu quả và có thể được sử dụng để sàng lọc phân tử trong nguồn gen cây dưa leo.

    DOI: https://doi.org/10.71254/xyeq2d23
  • NGHIÊN CỨU PHƯƠNG THỨC LÂY LAN VIRUS GÂY BỆNH KHẢM LÁ SẮN QUA CÔN TRÙNG MÔI GIỚI TẠI THỪA THIÊN HUẾ

    Abstract : 1 PDF: 0
    Nguyễn Kim Chi, Trần Thị Thu Giang, Nguyễn Vĩnh Trường
    43-50

    Sắn (Manihot esculenta Crantz) là cây trồng quan trọng ở các vùng đất nghèo dinh dưỡng của tỉnh Thừa Thiên Huế. Bệnh khảm lá sắn xâm nhập, phát triển mạnh kể từ năm 2019. Bệnh gây thiệt hại đáng kể nhưng chưa có nhiều nghiên cứu về bệnh hại này. Để có cơ sở cho công tác quản lý bệnh khảm lá sắn tổng hợp, cần xác định phương thức lan truyền bệnh trong điều kiện của tỉnh Thừa Thiên Huế. Nghiên cứu phương thức lây lan bệnh khảm lá sắn qua côn trùng môi giới cho thấy bọ phấn trắng có khả năng truyền bệnh từ 20 - 22 ngày sau khi chích hút trong điều kiện nhà lưới. Mật độ bọ phấn trắng có mối quan hệ với mức nhiễm bệnh của khảm lá sắn trên đồng ruộng, tuy nhiên trong điều kiện của tỉnh Thừa Thiên Huế giống sắn KM94 được trồng chủ lực, hầu hết bị nhiễm bệnh ở giai đoạn mọc mầm do nhiễm bệnh từ giống nên mật độ bọ phấn ảnh hưởng đến khả năng lan truyền bệnh không rõ ràng. Trên cơ sở kết quả nghiên cứu, khuyến nghị không nên sử dụng giống bị nhiễm bệnh để làm hom giống và cần phòng trừ bọ phấn trắng khi xuất hiện.

    DOI: https://doi.org/10.71254/7h9re035
  • ĐÁNH GIÁ TÍNH CHẤT ĐẤT MÔ HÌNH NÔNG LÂM KẾT HỢP TẠI VÙNG BẢY NÚI, TỈNH AN GIANG

    Abstract : 1 PDF: 1
    Võ Thái Dân, Phạm Hữu Nguyên, Trần Văn Thịnh, Nguyễn Châu Niên, Nguyễn Thị Lan Phương, Phạm Thị Thùy Dương, Nông Hồng Quân
    51-56

    Vùng Bảy Núi thuộc tỉnh An Giang là khu vực có dạng địa hình đồi núi cao được bao quanh bởi đồng bằng. Với đặc điểm địa hình đồi núi, canh tác theo mô hình nông lâm kết hợp được áp dụng chủ yếu ở khu vực này và là nguồn sinh kế quan trọng của nông dân. Mục tiêu của nghiên cứu là phân tích một số tính chất vật lý và hóa học quan trọng của đất nhằm đánh giá sự phù hợp của đất đai đối với sinh trưởng và phát triển của cây trồng. 24 mẫu đất được thu thập tại các vườn rừng tại huyện Tịnh Biên và Tri Tôn ở các độ sâu 0 - 30 cm, 30 - 80 cm và sâu hơn 80 cm. Các tính chất vật lý và hóa học của đất được phân tích bằng các phương pháp phù hợp. Kết quả phân tích cho thấy, các mẫu đất ở khu vực khảo sát bị nén chặt với dung trọng lớn hơn 1,2 g/cm3 ở tất cả các độ sâu lấy mẫu và kém thông thoáng, tỷ lệ sét trong đất lớn hơn 40%. Hàm lượng chất hữu cơ cũng như các chất dinh dưỡng tổng số và dễ tiêu (ngoại trừ N-NH4+) ở mức thấp và phần lớn có xu hướng giảm dần theo độ sâu lấy mẫu.

    DOI: https://doi.org/10.71254/ym7x1p92
  • NGHIÊN CỨU CÁC PHƯƠNG THỨC NUÔI GÀ NHIỀU CỰA SINH SẢN CỦA ĐỒNG BÀO DAO THỊ TRẤN TRẠI CAU, HUYỆN ĐỒNG HỶ, TỈNH THÁI NGUYÊN

    Abstract : 1 PDF: 1
    Phạm Diệu Thùy, Nguyễn Thị Kim Lan, Dương Thị Hồng Duyên, Trần Nhật Thắng, Nguyễn Thị Ngân, Đỗ Thị Lan Phương
    57-64

    Nghiên cứu xác định phương thức nuôi thích hợp với gà nhiều cựa của đồng bào Dao thị trấn Trại Cau, huyện Đồng Hỷ, tỉnh Thái Nguyên được bố trí với 3 lô thí nghiệm: lô nuôi nhốt, lô nuôi bán chăn thả và lô nuôi thả vườn. Mỗi lô 30 gà nhiều cựa 5 tuần tuổi, lặp lại 3 lần. Kết quả cho thấy, tỷ lệ nuôi sống của gà nuôi nhốt, nuôi bán chăn thả và thả vườn lần lượt là 96,55%; 94,25%; 92,41%. Khối lượng cơ thể lúc 20 tuần tuổi của 3 lô thí nghiệm là 1.538,63 g/con; 1.540,28 g/con; 1.511,63 g/con. Tiêu tốn thức ăn cộng dồn giai đoạn 1 - 20 tuần tuổi ở 3 lô thí nghiệm là 7.547,18 g/con; 7.533,34 g/con; 7514,42 g/con. Tỷ lệ đẻ bình quân từ 21 - 42 tuần tuổi của 3 phương thức nuôi là 27,26%, 28,06% và 27,04%. Năng suất trứng bình quân tương ứng là 40,08 quả/mái, 41,24 quả/mái và 39,75 quả/mái. Tiêu tốn thức ăn/10 quả trứng lần lượt là 5,61 kg, 5,25 kg và 5,91 kg. Tỷ lệ trứng có phôi, tỷ lệ gà nở/trứng ấp, tỷ lệ gà nở/trứng có phôi, tỷ lệ gà loại 1 của gà nhiều cựa nuôi bán chăn thả lần lượt là 90,14%; 79,79%; 88,52% và 88,19%, đều cao hơn gà nuôi thả vườn.

    DOI: https://doi.org/10.71254/13jnrh18
  • ĐA DẠNG THÀNH PHẦN LOÀI THỰC VẬT PHÙ DU KHU VỰC BÃI BỒI VEN BIỂN HUYỆN AN MINH, TỈNH KIÊN GIANG

    Abstract : 1 PDF: 1
    Huỳnh Văn Tiền, Nguyễn Duy Tùng, Trương Trọng Ngôn
    65-71

    Thực vật phù du (TVPD) được thu tại 5 cửa sông thuộc khu vực bãi bồi ven biển huyện An Minh, tỉnh Kiên Giang vào tháng 3 năm 2022. Mẫu TVPD ở tầng nước mặt được thu bằng lưới vớt sinh vật phù du có kích thước mắt lưới 25 µm, cố định mẫu với formalin 5%. Kết quả nghiên cứu đã ghi nhận được 30 loài thuộc 3 ngành TVPD, trong đó ngành tảo silic (Bacillariophyta) chiếm ưu thế nhất với 19 loài, tiếp đến là ngành vi khuẩn lam (Cyanobacteria) với 7 loài và ngành Miozoa có 4 loài. Mức độ đa dạng thành phần loài TVPD trong khu vực nghiên cứu không quá cao, thể hiện thông qua chỉ số H’ dao động từ 1,08 đến 1,24. Đồng thời, sự đa dạng thành phần loài TVPD khu vực bãi bồi ven biển cũng có sự thay đổi giữa các sinh cảnh khác nhau: đa dạng nhất ở cửa sông, tiếp đến là vùng triều và vùng dưới triều. Trong tổng số 30 loài TVPD ghi nhận được, có 1 loài được xem như một chỉ thị sinh học cho tình trạng phú dưỡng là Pseudo - nitzschia fraudulenta (xuất hiện ở hầu hết các điểm khảo sát) và 3 loài vi khuẩn lam (Planktothrix isothrix; Oscillatoria limosa Leptolyngbya cebennensis) thuộc các chi vi khuẩn lam có khả năng tổng hợp độc tố microcystin. Do đó, cần có nghiên cứu đánh giá ở mức độ hiện diện các loài vi khuẩn lam này.

    DOI: https://doi.org/10.71254/ekvh9h54
  • ẢNH HƯỞNG CỦA SÓNG SIÊU ÂM ĐẾN SỰ THAY ĐỔI SINH LÝ VÀ HOẠT TÍNH CHỐNG OXY HÓA CỦA TRÁI ĐẬU BẮP SAU THU HOẠCH

    Abstract : 1 PDF: 0
    Nguyễn Trung Trực, Lâm Hòa Hưng, Huỳnh Thị Phương Thảo, Cao Tấn Pul, Ôn Tiểu Phương
    72-79

    Nghiên cứu ảnh hưởng của sóng siêu âm đến sự thay đổi sinh lý và hoạt tính chống oxy hóa của trái đậu bắp sau thu hoạch đã được thực hiện ở các chế độ 58 kHz-1,5 phút, 132 kHz-1,5 phút, 58 kHz-2,0 phút và nghiệm thức đối chứng không xử lý sóng siêu âm. Kết quả cho thấy, đậu bắp được xử lý ở tần số 58 kHz trong thời gian 1,5 phút (58 kHz-1,5 phút) có tác dụng làm chậm sự thay đổi sinh lý từ ngày 6 đến cuối giai đoạn tồn trữ như giảm tốc độ hô hấp, độ cứng, sự thay đổi màu sắc và tổn thất khối lượng khi so với nghiệm thức đối chứng, nghiệm thức 132 kHz-1,5 phút và 58 kHz-2,0 phút. Bên cạnh đó, nghiệm thức 58 kHz-1,5 phút đã duy trì hàm lượng của các hợp chất có hoạt tính chống oxy hóa như chlorophyll, vitamin C và phenolics cao hơn nghiệm thức đối chứng ở ngày 3 đến ngày 9 của quá trình tồn trữ. Vì vậy, sóng siêu âm có tiềm năng trong việc kéo dài thời gian tồn trữ và duy trì hàm lượng các hợp chất chống oxy hóa của trái đậu bắp sau thu hoạch.

    DOI: https://doi.org/10.71254/03038h97
  • NGHIÊN CỨU SỰ BIẾN ĐỔI MỘT SỐ CHỈ TIÊU LÝ HÓA VÀ CẤU TRÚC CỦA THỊT QUẢ CHUỐI TIÊU HỒNG TRONG QUÁ TRÌNH CHÍN BẰNG XỬ LÝ KHÍ ETHYLENE

    Abstract : 1 PDF: 1
    Trần Thị Thu Hoài, Phạm Anh Tuấn, Lê Hà Hải
    80-85

    Mục đích của nghiên cứu này là khảo sát sự biến đổi một số chỉ tiêu lý hóa và cấu trúc của thịt quả chuối tiêu hồng (gen AAB) theo độ chín bằng xử lý khí ethylene, nhằm xác định độ chín phù hợp cho quá trình chế biến puree và tách chiết nước chuối. Theo dõi sự biến đổi các chỉ tiêu lý hóa gồm độ cứng (N), hàm lượng tinh bột (%), đường tổng (%), hàm lượng chất rắn hòa tan tổng số (TSS), axit tổng (TA), tanin (%), và cấu trúc thịt quả trong quá trình chín từ độ chín 3 đến 7 theo thang màu PCI. Kết quả cho thấy, xu hướng độ cứng giảm  (110,06 - 2,48 N), hàm lượng tinh bột giảm (11,25 - 4,85%), đường tổng tổng số tăng (1,08 - 17,35%) và axit tổng TA tăng (0,26 - 0,30%), trong khi hàm lượng tanin không đổi (0,02%). Tương ứng về trạng thái cấu trúc thịt quả chuối tiêu hồng cũng có sự biến đổi đáng kể, đặc biệt từ độ chín từ 6 đến 7 thành tế bào kém bền vững và dễ bị phá vỡ.

    DOI: https://doi.org/10.71254/m84xv469
  • NGHIÊN CỨU ĐỘNG LỰC HỌC QUÁ TRÌNH BỨT QUẢ LẠC TRÊN MÁY THU HOẠCH LẠC

    Abstract : 1 PDF: 1
    Lê Quyết Tiến, Đỗ Hữu Quyết, Lê Sỹ Hùng
    86-93

    Bài báo giới thiệu kết quả nghiên cứu động lực học quá trình bứt quả lạc trong buồng đập của máy thu hoạch lạc. Kết quả nghiên cứu đã lập được hệ phương trình vi phân mô tả chuyển động của tâm đầu quả lạc và tác động của thanh sàng lên quả lạc. Đã sử dụng phương pháp Runge-kutta dựa vào phần mềm Matlab để khảo sát quỹ đạo chuyển động của điểm tâm đầu quả lạc và đánh giá ảnh hưởng của một số thông số hình động học của bộ phận bứt quả đến lực căng lớn nhất của cuống quả lạc, làm cơ sở cho các nghiên cứu thực nghiệm tiếp theo.

    DOI: https://doi.org/10.71254/zd0g3856
  • KHẢ NĂNG KHÁNG NẤM MỤC NÂU (Coniophora puteana M1) CỦA GỖ SA MỘC (Cunninghamia lanceolata Lamb. Hook) XỬ LÝ BẰNG PHƯƠNG PHÁP NHIỆT - CƠ

    Abstract : 1 PDF: 1
    Nguyễn Thị Tuyên, Phạm Văn Chương, Vũ Kim Dung, Trần Đức Hạnh, Nguyễn Việt Hưng, Đặng Thị Thu Hà
    94-101

    Xử lý nhiệt – cơ cho gỗ là một phương pháp hiệu quả để nâng cao độ bền sinh học của gỗ mà không cần sử dụng chất bảo quản thông thường. Nghiên cứu này được thực hiện nhằm khảo sát ảnh hưởng của biến tính nhiệt – cơ đến khả năng kháng nấm của gỗ. Gỗ Sa mộc sau xử lý ở các mức nhiệt độ, thời gian và tỷ suất nén khác nhau được kiểm tra độ bền trước sự tấn công của nấm mục nâu (Coniophora puteana M1). Kết quả nghiên cứu đã chỉ ra rằng các mẫu gỗ biến tính nhiệt - cơ có khả năng kháng nấm mục nâu được cải thiện hơn so với mẫu đối chứng không biến tính, thể hiện ở tỉ lệ phần trăm khối lượng gỗ giảm sau thời gian thử nghiệm trong điều kiện thí nghiệm. Sau 4 tháng thử nghiệm trong phòng thí nghiệm, tất cả các mẫu gỗ biến tính đều cho khả năng kháng nấm tốt, tỉ lệ phần trăm khối lượng gỗ hao hụt từ 1,89 - 4,86%. Kết quả phân tích cho thấy khả năng kháng nấm mục nâu của gỗ Sa mộc biến tính nhiệt có hiệu quả cao nhất khi biến tính ở nhiệt độ 200oC, thời gian 0,7 phút/mm, tỷ suất nén 49%. Kết quả nghiên cứu cung cấp cơ sở khoa học, luận cứ lý thuyết về mối liên hệ giữa xử lý nhiệt - cơ với độ bền sinh học của gỗ. 

    DOI: https://doi.org/10.71254/6d9e1k02
  • ĐÁNH GIÁ HIỆN TRẠNG CHÔN LẤP CHẤT THẢI VÀ ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP VẬN HÀNH BÃI CHÔN LẤP CHO KHU VỰC ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG

    Abstract : 1 PDF: 1
    Nguyễn Xuân Hoàng, Trần Ngọc Trân, Nguyễn Lâm Ngọc Tuyền, Nguyễn Hiếu Trung, Lê Hoàng Việt, Tojo Seishu
    102-110

    Nghiên cứu nhằm thiết lập quy trình vận hành bãi chôn lấp chất thải rắn sinh hoạt tại 4 tỉnh/thành phố là An Giang, Sóc Trăng, Cần Thơ và Trà Vinh, đánh giá sơ lược thực trạng cùng các vấn đề môi trường phát sinh từ bãi chôn lấp. Tại khu vực khảo sát 7 bãi chôn lấp hợp vệ sinh và 47 bãi rác lộ thiên, Cần Thơ là thành phố duy nhất áp dụng giải pháp đốt có thu hồi năng lượng. Bãi chôn lấp hợp vệ sinh tại An Giang chiếm 42,8% và Sóc Trăng chiếm khoảng 14,8% tổng lượng rác; các bãi rác lộ thiên của An Giang chiếm 20,8%, Sóc Trăng chiếm 29%, Cần Thơ chiếm 9,8% và Trà Vinh chiếm 33,48%. Với hiện trạng môi trường không đảm bảo, quy trình vận hành đề xuất cho bãi chôn lấp nhằm cải thiện và giảm thiểu các tác động môi trường cho bãi chôn lấp theo từng công đoạn vận hành chính từ xe chở rác, trạm cân (vào - ra), đổ rác vào ô rác, san ủi – khử mùi, phủ đất/chất trơ, đóng ô chôn lấp, hệ thống thoát khí, xử lý nước thải, rửa xe, vành đai cây xanh, giám sát và quan trắc chất lượng môi trường định kỳ và thiết kế đóng bãi chôn lấp chất thải sinh hoạt.

    DOI: https://doi.org/10.71254/8r231307
  • ĐA DẠNG THỰC VẬT BẬC CAO TẠI KHU BẢO TỒN LOÀI – SINH CẢNH PHÚ MỸ, HUYỆN GIANG THÀNH, TỈNH KIÊN GIANG

    Abstract : 0 PDF: 1
    Nguyễn Thanh Giao, Phùng Thị Hằng, Lê Thị Diễm Mi, Huỳnh Thị Hồng Nhiên
    111-120

    Nghiên cứu nhằm đánh giá tính đa dạng của hệ thực vật bậc cao có mạch tại Khu Bảo tồn Loài – Sinh cảnh Phú Mỹ (KBT Phú Mỹ) thuộc huyện Giang Thành, tỉnh Kiên Giang. Tiến hành khảo sát các loài thực vật bậc cao trên 11 sinh cảnh đặc trưng tại KBT. Kết quả thống kê được, hệ thực vật tại KBT có tổng số 45 loài thuộc 37 chi, 20 họ của 2 ngành Dương xỉ (Polypodiophyta) và Ngọc Lan (Magnoliophyta). Trong đó, ngành Ngọc Lan (Magnoliophyta) chiếm ưu thế với 43 loài, 35 chi và 18 họ. Họ Hòa thảo (Poaceae), họ Cói (Cyperaceae), họ Đậu (Fabaceae), họ Súng (Nymphaeaceae) có số loài đa dạng nhất. Bên cạnh đó, nghiên cứu đã xác định được dạng cây thân thảo chiếm tỷ lệ cao trong 6 dạng thân chính (21 loài, chiếm 46,67%). Hệ thực vật tại khu vực nghiên cứu có 9 nhóm công dụng với 26 loài và nhóm cây làm thuốc chiếm ưu thế với 23 loài. Đặc biệt, xuất hiện hai loài thực vật có tên trong Sách Đỏ Việt Nam (2007) ở mức “sẽ nguy cấp – VU” là Lúa ma (Oryza rufipogon Griff.) và Cà na (Elaeocarpus hygrophilus Kurz). Các loài thực vật phân bố không đồng đều trên các sinh cảnh được khảo sát và Bàng – Năng – Cỏ mồm được xác định là sinh cảnh có số loài thực vật đa dạng nhất. Công tác quản lý tại KBT còn nhiều bất cập, do đó để đảm bảo tính đa dạng sinh học của hệ thực vật, các nhóm giải pháp cần được nâng cao và thực hiện tại KBT bao gồm giải pháp về chính sách pháp luật, khoa học kỹ thuật (đào tạo nguồn nhân lực và cần thiết thực hiện điều tra, đánh giá hệ thực vật hàng năm tại KBT); giải pháp giáo dục tuyên truyền nâng cao ý thức người dân.

    DOI: https://doi.org/10.71254/zje7qk33